G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 90
Nghe Đồn Thì Phải Hỏi Lại Tận Nguồn

Kinh Kaṇṇakatthala

Kaṇṇakatthala Sutta — MN 90 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Kaṇṇakatthala

Có lời đồn rằng Thế Tôn nói không một ai có thể toàn tri toàn kiến. Ngài bác đó là xuyên tạc, và nói rõ điều Ngài thật sự dạy — khác nhau chỉ ở mấy chữ.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 90
  • Nơi chốnUjuññā, vườn Lộc Uyển ở Kaṇṇakatthala
  • Người hỏi — vua Pasenadi; trong hội có tướng quân Viṭaṭūbha
  • Bài đi cặpMN 71, cùng đề tài nhất thiết trí

Kinh Kaṇṇakatthala ghi lại cuộc đàm đạo giữa Thế Tôn và vua Pasenadi nước Kosala tại vườn Lộc Uyển ở Kaṇṇakatthala. Mở đầu là một chi tiết rất người: hai chị em Somā và Sakulā nhờ chính nhà vua chuyển lời đảnh lễ và hỏi thăm sức khoẻ Thế Tôn, và Thế Tôn đáp lại bằng lời chúc "mong rằng hai chị em Somā và Sakulā được hạnh phúc". Nhà vua nêu bốn câu hỏi lớn. Thứ nhất về nhất thiết trí: có người đồn rằng Sa-môn Gotama nói không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể tự cho là toàn tri toàn kiến. Thế Tôn bác bỏ lời đồn ấy là xuyên tạc, và nói rõ điều Ngài thật sự dạy: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn." Đây là bài học lớn cho Huynh Trưởng: nghe đồn thì phải hỏi lại tận nguồn, đừng vội tin và đừng vội truyền đi. Thứ hai về bốn giai cấp. Nhà vua hỏi giữa Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà có gì sai khác. Thế Tôn không bàn theo lối xã hội đương thời mà đưa ra năm tinh cần chi: lòng tin nơi sự giác ngộ của Như Lai, ít bệnh, không gian trá dối trá, tinh cần tinh tấn, và trí tuệ. Giai cấp nào thành tựu năm chi ấy cũng đưa đến hạnh phúc an lạc lâu dài. Nếu đã tinh cần chân chánh thì "không có sự khác biệt gì về phương diện giải thoát đối với giải thoát" — ví như lửa nhen từ các loại củi khác nhau, ngọn lửa, màu sắc, ánh sáng đều như nhau. Sự sai biệt duy nhất là sai biệt trong tinh cần, ví như voi ngựa bò được khéo điều phục khác với không được điều phục. Thứ ba và thứ tư về chư Thiên và Phạm thiên: vị nào có não hại tâm thì sanh lại tại đây, vị nào không có não hại tâm thì không sanh lại. Tướng quân Viṭaṭūbha vặn hỏi, Tôn giả Ānanda nêu ví dụ lãnh thổ của vua rồi hỏi lại; chính TƯỚNG QUÂN Viṭaṭūbha là người đáp rằng vua không thấy được chư Thiên cõi trời Ba mươi ba thì làm sao đánh đuổi được (mn90:14.22). Tôn giả Ānanda mới là người rút ra kết luận ở đoạn kế (14.23). Cuối kinh vua hoan hỷ tín thọ rồi ra đi.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: vua Pasenadi báo tin đến yết kiến — Thế Tôn trú tại Ujuññā, vườn Lộc Uyển ở Kaṇṇakatthala. Vua Pasenadi sai người đến đảnh lễ và báo tin sau buổi ăn sáng sẽ đến yết kiến (SC 1–6; đoạn 1–2).
  • Hai chị em Somā và Sakulā nhờ chuyển lời đảnh lễ — Hai chị em nghe tin, nhờ vua nhân danh mình đảnh lễ chân Thế Tôn và hỏi thăm sức khoẻ. Thế Tôn đáp: mong hai chị em được hạnh phúc (SC 7–13; đoạn 3–4).
  • Câu hỏi về nhất thiết trí (sabbaññutā) — Vua thuật lại lời đồn về Sa-môn Gotama. Thế Tôn bác bỏ là xuyên tạc, rồi nói rõ nguyên văn lời Ngài đã nói: không ai có thể trong một lúc biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn (SC 15–26; đoạn 5, 8).
  • Truy tìm người phổ biến câu chuyện trong nội cung — Vua hỏi tướng quân Viṭaṭūbha, được đáp là Bà-la-môn Sañjaya dòng họ Ākāsa; vua cho gọi Sañjaya. Về sau Sañjaya lại đổ cho Viṭaṭūbha (SC 17–23, 65–71; đoạn 6–7, 16).
  • Bốn giai cấp và năm tinh cần chi (padhāniyaṅga) — Vua hỏi về khác biệt giữa bốn giai cấp, trước là đời này sau là đời sau. Thế Tôn nêu năm tinh cần chi: tín, ít bệnh, không gian trá, tinh cần tinh tấn, trí tuệ (SC 27–31; đoạn 9–10).
  • Ví dụ voi ngựa bò được điều phục: sai biệt là ở tinh cần — Thế Tôn nói sự sai biệt là sai biệt trong tinh cần, ví như hai con voi, ngựa, bò được khéo điều phục và hai con không được điều phục (SC 33–37; đoạn 11).
  • Ví dụ ngọn lửa: giải thoát không sai khác — Nếu bốn giai cấp thành tựu năm tinh cần chi và chân chánh tinh cần thì không có sai biệt gì về giải thoát đối với giải thoát, như lửa nhen từ nhiều loại củi khác nhau (SC 38–41; đoạn 12).
  • Chư Thiên: có não hại tâm thì sanh lại — Vua hỏi về chư Thiên; Thế Tôn đáp chư Thiên có não hại tâm sanh lại tại đây, không có não hại tâm thì không sanh lại (SC 42–45; đoạn 13).
  • Tôn giả Ānanda đối đáp với tướng quân Viṭaṭūbha — Ānanda hỏi ngược về lãnh thổ vua Pasenadi cai trị và về chư Thiên cõi trời Ba mươi ba: không thấy được thì làm sao đánh đuổi (SC 46–61; đoạn 14–15).
  • Phạm thiên — Vua hỏi về Phạm thiên; Thế Tôn đáp tương tự: có não hại tâm thì sanh lại tại đây, không có não hại tâm thì không sanh lại (SC 61–64; đoạn 15).
  • Vua tổng kết bốn câu hỏi và cáo từ — Vua nêu lại bốn điều đã hỏi — nhất thiết trí, sự thanh tịnh của bốn giai cấp, chư Thiên, Phạm thiên — bày tỏ hoan hỷ, rồi đảnh lễ ra đi (SC 75–77; đoạn 17–18).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 90.5.5 (bản Việt: SC 16)
“Ye te, mahārāja, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo evamāha—natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sabbaññū sabbadassāvī aparisesaṁ ñāṇadassanaṁ paṭijānissati, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’ti; na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ te asatā abhūtenā”ti.
—Thưa Ðại vương, những ai nói như sau: “Sa-môn Gotama có nói: “Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào toàn tri, toàn kiến, có thể cho là chứng được tri kiến viên mãn; sự tình như vậy không thể xảy ra”, những vị nói như vậy không nói đúng lời Ta nói, và họ xuyên tạc Ta một cách hư ngụy, không đúng sự thật.
“Great king, those who say this do not repeat what I have said. They misrepresent me with what is false and untrue.”
MN 90.8.4–8.5 (bản Việt: SC 26)
“Evaṁ kho ahaṁ, mahārāja, abhijānāmi vācaṁ bhāsitā: ‘natthi so samaṇo vā brāhmaṇo vā yo sakideva sabbaṁ ñassati, sabbaṁ dakkhiti, netaṁ ṭhānaṁ vijjatī’”ti.
—Thưa Ðại vương, Ta tự xem là đã nói những lời như sau: “Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể trong một lúc, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn, không thể có sự tình như vậy”.
“Great king, I recall making this statement: ‘There is no ascetic or brahmin who will ever know all and see all simultaneously: that is not possible.’”
MN 90.10.6–10.14 (bản Việt: SC 30)
“Pañcimāni, mahārāja, padhāniyaṅgāni. Katamāni pañca? Idha, mahārāja, bhikkhu saddho hoti, saddahati tathāgatassa bodhiṁ: ‘itipi so bhagavā arahaṁ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṁ buddho bhagavā’ti; appābādho hoti appātaṅko samavepākiniyā gahaṇiyā samannāgato nātisītāya nāccuṇhāya majjhimāya padhānakkhamāya; asaṭho hoti amāyāvī yathābhūtaṁ attānaṁ āvikattā satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu; āraddhavīriyo viharati akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu; paññavā hoti udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammādukkhakkhayagāminiyā—imāni kho, mahārāja, pañca padhāniyaṅgāni.
—Thưa Ðại vương, có năm tinh cần chi này. Thế nào là năm? Ở đây, thưa Ðại vương, Tỷ-kheo có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai: “Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Vị ấy ít bệnh, ít não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình, hợp với tinh tấn. Vị ấy không gian trá, không xảo trá, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc Ðạo sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các đồng Phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, kiên cố, kiên trì, không từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt các pháp, với sự thể nhập của các bậc Thánh, đưa đến chơn chánh đoạn diệt các khổ đau”.
“Great king, there are these five factors that support meditation. What five? It’s when a mendicant has faith in the Realized One’s awakening: ‘That Blessed One is perfected, a fully awakened Buddha, accomplished in knowledge and conduct, holy, knower of the world, supreme guide for those fit for training, teacher of gods and humans, awakened, blessed.’ They are rarely ill or unwell. Their stomach digests well, being neither too hot nor too cold, but just right, and fit for meditation. They’re not devious or deceitful. They reveal themselves honestly to the Teacher or sensible spiritual companions. They live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities. They’re wise. They have the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering. These are the five factors that support meditation.
MN 90.10.15–10.18 (bản Việt: SC 31)
Cattārome, mahārāja, vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā. Te cassu imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgatā; ettha pana nesaṁ assa dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Thưa Ðại vương có bốn giai cấp này: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà. Và nếu các giai cấp này thành tựu năm tinh cần chi này, như vậy sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc lâu dài cho họ.
There are these four classes: aristocrats, brahmins, peasants, and menials. If they had these five factors that support meditation, that would be for their lasting welfare and happiness.”
MN 90.11.12 (bản Việt: SC 37)
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ saddhena pattabbaṁ appābādhena asaṭhena amāyāvinā āraddhavīriyena paññavatā, taṁ vata assaddho bahvābādho saṭho māyāvī kusīto duppañño pāpuṇissatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjatī”ti.
—Cũng vậy, thưa Ðại vương, những gì đạt được do lòng tin, do ít bệnh tật, do không gian trá, không dối trá, do tinh cần tinh tấn, do trí tuệ, cũng sẽ do bất tín, do nhiều bệnh tật, do xảo trá, do dối trá đạt được, sự tình như vậy không thể xảy ra.
“In the same way, there are things that must be attained by someone with faith, health, integrity, energy, and wisdom. It’s not possible for a faithless, unhealthy, deceitful, lazy, witless person to attain them.”
MN 90.12.14 (bản Việt: SC 41)
“Evameva kho, mahārāja, yaṁ taṁ tejaṁ vīriyā nimmathitaṁ padhānābhinibbattaṁ, nāhaṁ tattha kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi—yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.
—Cũng vậy, thưa Ðại vương, với sức nóng do tinh tấn tạo nên, do tinh cần nhen nhúm lên, ở đây, Ta nói không có một sự sai biệt gì về giải thoát đối với giải thoát.
“In the same way, when fire has been churned by energy and produced by effort, I say that there is no difference between the freedom of one and the freedom of the other.”
MN 90.13.6 (bản Việt: SC 45)
“Ye te, mahārāja, devā sabyābajjhā te devā āgantāro itthattaṁ, ye te devā abyābajjhā te devā anāgantāro itthattan”ti.
—Thưa Ðại vương, chư Thiên nào có não hại tâm, sanh lại tại đây; chư Thiên nào không có não hại tâm, không sanh lại tại đây.
“Those gods who are afflicted come back to this place, but those who are unafflicted do not come back.”
MN 90.14.22 (bản Việt: SC 56)
“Dassanampi, bho, rājā pasenadi kosalo deve tāvatiṁse nappahoti, kuto pana tamhā ṭhānā cāvessati vā pabbājessati vā”ti?
—Thưa Tôn giả, vua Pasenadi nước Kosala không thể thấy chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba, làm sao vua lại có thể đánh đuổi hay trục xuất chư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba ra khỏi chỗ ấy?
“King Pasenadi can’t even see the gods of the thirty-three, so how could he possibly topple or expel them from their place?”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sabbaññū sabbadassāvītoàn tri, toàn kiếnBản Việt SC 15–16 dịch là “toàn tri, toàn kiến”; vua tổng kết gọi đề tài này là sabbaññutā — nhất thiết trí (SC 75).
padhāniyaṅgatinh cần chiNăm chi phần hỗ trợ sự tinh cần: tín, ít bệnh, không gian trá, tinh tấn, trí tuệ (SC 30).
heturūpaṁ / saheturūpaṁcó nhân duyên / liên hệ đến nhân duyênCâu vua Pasenadi lặp lại nhiều lần để tán thán lời dạy hợp lý của Thế Tôn (SC 27, 38, 42, 61).
cattāro vaṇṇā: khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddābốn giai cấp: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà
vimuttigiải thoát“vimuttiyā vimuttiṁ” — giải thoát đối với giải thoát, không có sai khác (SC 39, 41).
sabyābajjha / abyābajjhacó não hại tâm / không có não hại tâmTiêu chuẩn phân biệt chư Thiên và Phạm thiên còn sanh lại đời này hay không (SC 45, 64).
dantakāraṇa / dantabhūmikhả năng điều phục / vị trí điều phụcBản Việt SC 33 giữ nguyên hai chữ Pali trong ngoặc.
devā tāvatiṁsāchư Thiên ở cõi trời Ba mươi ba
adhideva / adhibrahmāchư Thiên / Phạm thiênHai trong bốn đề tài vua đã hỏi, nêu lại ở phần tổng kết (SC 75).

Mở đầu là một chi tiết rất người, ít ai để ý. Hai chị em Somā và Sakulā nhờ chính nhà vua chuyển lời đảnh lễ và hỏi thăm sức khoẻ Thế Tôn. Và Ngài đáp lại bằng lời chúc: "mong rằng hai chị em Somā và Sakulā được hạnh phúc".

Câu hỏi lớn thứ nhất là về lời đồn. Người ta đồn rằng Sa-môn Gotama nói không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể tự cho là toàn tri toàn kiến.

Thế Tôn bác ngay: đó là xuyên tạc. Rồi Ngài nói điều Ngài thật sự dạy: "Không có một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể TRONG MỘT LÚC, biết hoàn toàn và thấy hoàn toàn."

Xin để ý ba chữ "trong một lúc". Thêm ba chữ ấy thì nghĩa đổi hẳn. Đây cùng một điểm với MN 71: hướng tâm tới thì biết, chứ không phải lúc nào cũng đang biết.

Và bài học cho người truyền đạo rất rõ. Nghe đồn thì phải hỏi lại tận nguồnđừng vội tin và đừng vội truyền đi. Vua làm đúng như vậy: ông hỏi thẳng.

Có một đoạn rất đời sau đó: truy tìm ai đã phổ biến câu chuyện trong nội cung. Hỏi tới hỏi lui thì hoá ra không ai nhận, chỉ là "nghe người ta nói". Lời đồn bao giờ cũng không có chủ.

Câu hỏi thứ hai về bốn giai cấp. Thế Tôn không bàn theo lối xã hội mà đưa ra năm tinh cần chi (padhāniyaṅga) — lòng tin, ít bệnh, không gian trá, tinh tấn, trí tuệ.

Rồi ví dụ voi ngựa bò được điều phục. Hai con vật cùng giống, con nào được điều phục thì đi được chỗ con kia không đi được. Sai biệt nằm ở tinh cần, không ở dòng giống.

Nhưng ví dụ ngọn lửa mới là chỗ hay nhất. Lửa nhen từ củi sāla, từ củi tạp, hay từ máng ăn của chóánh sáng vẫn là ánh sáng ấy. Nguồn khác nhau, giải thoát không sai khác.

Câu hỏi thứ ba về chư Thiên, và câu trả lời rất gọn. Chư Thiên nào còn não hại tâm thì sanh lại; chư Thiên không còn não hại tâm thì không sanh lại.

Đoạn tiếp theo xin đọc cho đúng người nói. Tôn giả Ānanda nêu ví dụ lãnh thổ của vua rồi HỎI LẠI; chính tướng quân Viṭaṭūbha mới là người đáp rằng vua không thấy được chư Thiên thì làm sao đánh đuổi được. Tôn giả Ānanda chỉ rút ra kết luận ở đoạn kế.

Và cuối cùng vua tổng kết bốn câu hỏi của mình. Hai chữ adhidevaadhibrahma ở đó nghĩa đen là "VỀ chư Thiên""VỀ Phạm thiên" — tức tên đề tài đã hỏi, không phải danh xưng một hạng chư Thiên nào.

  • "Phật nói không ai toàn tri." Ngài nói không ai biết hết TRONG MỘT LÚC.
  • "Giai cấp quyết định khả năng." Kinh đưa năm tinh cần chi.
  • "Giải thoát của người sang thì hơn." Ví dụ ngọn lửa nói không sai khác.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ ngọn lửa: củi gì cũng cho ánh sáng ấy.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: nghe bạn kể lại lời ai đó, em nên làm gì trước?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Năm tinh cần chi rất hợp làm bảng tự kiểm.
  • Lời đồn khác lời Thế Tôn ở chỗ nào?
  • Năm tinh cần chi là gì?
  • Ví dụ ngọn lửa dạy điều gì?
  • Ai đáp câu hỏi của Tôn giả Ānanda?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.