G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 85
Tấm Vải Trắng · Và Bản Tự Thuật Đường Giác Ngộ

Kinh Vương Tử Bồ-Đề

Bodhirājakumāra Sutta — MN 85 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Vương Tử Bồ-Đề

Vương tử Bodhi cho trải vải trắng mời Phật bước lên. Thế Tôn ba lần im lặng. Tôn giả Ānanda thưa vương tử cho cuộn vải lại, vì "Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém".

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 85
  • Nơi chốn — xứ Bhagga, lâu đài Kokanada vừa mới cất
  • Câu hỏi"Lạc được chứng đắc do khổ"
  • Bài đi cặpMN 36, cùng bản tự thuật

Kinh này Thế Tôn thuyết tại xứ Bhagga, khi Ngài nhận lời mời thọ trai của vương tử Bodhi ở lâu đài Kokanada vừa mới cất xong. Vương tử cho trải vải trắng mời Phật bước lên, Thế Tôn ba lần im lặng; Tôn giả Ānanda thưa vương tử cho cuộn vải lại, vì "Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém". Sau bữa cơm, vương tử Bodhi trình bày quan niệm của mình: "Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ". Nhân đó Thế Tôn kể lại chính đời mình — một bản tự thuật đầy đủ về con đường đi đến giác ngộ. Khi còn trẻ, tóc đen nhánh, Ngài xuất gia dù cha mẹ khóc lóc không bằng lòng; học với Āḷāra Kālāma chứng Vô sở hữu xứ, học với Uddaka Rāmaputta chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng thấy hai pháp ấy "không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham... không hướng đến Niết-bàn" nên bỏ đi. Tại Uruvelā, ba ví dụ về khúc cây khởi lên nơi Ngài: cây ướt ngâm trong nước, cây ướt để trên đất khô, cây khô để trên đất khô — chỉ người đã xả ly các dục mới có thể nhen được lửa giác ngộ. Rồi Ngài kể các khổ hạnh khốc liệt: nghiến răng nhiếp phục tâm, tu thiền nín thở, tuyệt thực đến khi da bụng bám chặt xương sống — mà vẫn không chứng được pháp thượng nhân. Nhớ lại lúc nhỏ ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề chứng Thiền thứ nhất, Ngài nhận ra "Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ", ăn lại thô thực, bị năm Tỷ-kheo bỏ đi, rồi chứng bốn Thiền và Ba Minh trong ba canh đêm. Tiếp theo là đoạn Phạm thiên Sahampati thỉnh Phật chuyển pháp luân, ví dụ hoa sen trong hồ, cuộc gặp tà mạng ngoại đạo Upaka, và việc giáo hóa nhóm năm Tỷ-kheo tại vườn Lộc Uyển. Cuối kinh, qua ví dụ nghề cưỡi voi, Phật dạy năm tinh cần chi (tín, ít bệnh, không gian trá, tinh tấn, trí tuệ): người đủ năm chi ấy có thể chứng cứu cánh trong bảy năm, cho đến "được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng". Vương tử Bodhi tán thán và tuyên bố quy y lần thứ ba trong đời mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: lời mời thọ trai và tấm vải trắng — Vương tử Bodhi sai thanh niên Sanjikaputta đi thỉnh Phật; sáng hôm sau cho trải vải trắng lâu đài Kokanada. Thế Tôn ba lần im lặng, Tôn giả Ānanda thưa cho cuộn vải lại vì Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém (SC 1-18).
  • Câu hỏi của vương tử Bodhi — Vương tử trình bày: "Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ"; Thế Tôn cho biết khi còn là Bồ Tát Ngài cũng từng nghĩ như vậy (SC 19-20).
  • Xuất gia và học đạo với Āḷāra Kālāma, Uddaka Rāmaputta — Xuất gia lúc còn trẻ; chứng Vô sở hữu xứ với Āḷāra Kālāma và Phi tưởng phi phi tưởng xứ với Uddaka Rāmaputta, rồi từ bỏ vì các pháp ấy không đưa đến Niết-bàn (SC 21-31).
  • Ba ví dụ về khúc cây — Tại Uruvelā, ba ví dụ vi diệu từ trước chưa từng được nghe khởi lên nơi Bồ Tát: khúc cây ướt ngâm nước, khúc cây ướt trên đất khô, khúc cây khô trên đất khô (SC 32-41).
  • Các khổ hạnh khốc liệt — Nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm; tu Thiền nín thở với các ví dụ ống bệ thợ rèn, thanh kiếm, dây nịt da, dao đồ tể, hố than hừng; giảm thiểu ăn uống đến mức thân hình tiều tụy (SC 42-52).
  • Nhớ lại Thiền thứ nhất và con đường trung đạo — Nhớ lúc nhỏ ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề chứng Thiền thứ nhất; nhận ra đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ, không sợ lạc thọ ly dục; ăn lại thô thực, năm Tỷ-kheo chán ghét bỏ đi (SC 53-55).
  • Bốn Thiền và Ba Minh — Chứng và trú bốn Thiền, lạc thọ khởi lên nhưng không chi phối tâm; chứng Túc mạng minh trong canh một, Thiên nhãn minh canh giữa, Lậu tận minh canh cuối (SC 56-62).
  • Phạm thiên Sahampati thỉnh chuyển pháp luân — Tâm hướng về vô vi thụ động; Phạm thiên Sahampati thỉnh cầu bằng kệ; ví dụ hồ sen; Phật đáp bằng kệ "Cửa bất tử rộng mở" (SC 63-73).
  • Đi đến Bārāṇasī: Upaka và nhóm năm Tỷ-kheo — Hai vị thầy cũ đã mệnh chung; gặp tà mạng ngoại đạo Upaka trên đường; đến vườn Lộc Uyển giáo hóa nhóm năm Tỷ-kheo cho đến khi họ chứng vô thượng cứu cánh Phạm hạnh (SC 74-105).
  • Năm tinh cần chi và câu hỏi "bao lâu" — Vương tử hỏi bao lâu thì một Tỷ-kheo chứng đạt; Phật dùng ví dụ nghề cưỡi voi và dùng câu móc, rồi dạy năm tinh cần chi, với thời gian rút dần từ bảy năm xuống đến chiều-sáng (SC 106-121).
  • Vương tử Bodhi tán thán và quy y — Vương tử thốt lên "Ôi, thật là Phật! Ôi, thật là Pháp!"; khi Sanjikaputta nhắc, vương tử kể hai lần đã được quy y từ khi còn trong thai và lúc còn ẵm ngửa, nay tự mình quy y lần thứ ba (SC 122-126).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 1 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
SC 17 (mn85:7.15-7.17)
“saṁharatu, rājakumāra, dussāni; na bhagavā celapaṭikaṁ akkamissati. Pacchimaṁ janataṁ tathāgato anukampatī”ti.
—Thưa vương tử, hãy cho cuộn lại tấm vải, Thế Tôn không có đi bộ trên vải, Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém.
“Fold up the cloth, Prince. The Buddha will not step upon white cloth. The Realized One has sympathy for future generations.”
SC 19-20 (mn85:9.5, 10.2)
‘na kho sukhena sukhaṁ adhigantabbaṁ, dukkhena kho sukhaṁ adhigantabban’ti.
—Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: “Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ”.
‘Pleasure is not gained through pleasure; pleasure is gained through pain.’
SC 21 (mn85:11.1)
So kho ahaṁ, rājakumāra, aparena samayena daharova samāno susukāḷakeso bhadrena yobbanena samannāgato paṭhamena vayasā akāmakānaṁ mātāpitūnaṁ assumukhānaṁ rudantānaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajiṁ.
Và Ta, này Vương tử, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Some time later, while still with pristine black hair, blessed with youth, in the prime of life—though my mother and father wished otherwise, weeping with tearful faces—I shaved off my hair and beard, dressed in ocher robes, and went forth from the lay life to homelessness.
SC 41 (mn85:19.10-19.12)
“Evameva kho, rājakumāra, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi vūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho so ca ajjhattaṁ suppahīno hoti suppaṭippassaddho. Opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, bhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya.
—Cũng vậy, này Vương tử, những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn sống xả ly các dục về thân, những gì đối với các vị ấy thuộc các dục, như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khác vọng, dục nhiệt não, về nội tâm được khéo đoạn trừ. Nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy có thể chứng được tri kiến vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
…And they have internally given up and stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are capable of knowledge and vision, of supreme awakening.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
SC 53 (mn85:31.2-31.5)
‘abhijānāmi kho panāhaṁ pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharitā; siyā nu kho eso maggo bodhāyā’ti. Tassa mayhaṁ, rājakumāra, satānusāri viññāṇaṁ ahosi: ‘eseva maggo bodhāyā’ti.
“Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Vương tử, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.
‘I recall sitting in the cool shade of a black plum tree while my father the Sakyan was off working. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. Could that be the path to awakening?’ Stemming from that memory came the understanding: ‘That is the path to awakening!’
SC 62 (mn85:41.3)
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
I understood: ‘Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.’
SC 63 (mn85:43.2)
‘adhigato kho myāyaṁ dhammo gambhīro duddaso duranubodho santo paṇīto atakkāvacaro nipuṇo paṇḍitavedanīyo.
“Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu.
‘This principle I have discovered is deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute.
SC 121 (mn85:59.38)
Imehi pañcahi padhāniyaṅgehi samannāgato bhikkhu tathāgataṁ vināyakaṁ labhamāno sāyamanusiṭṭho pāto visesaṁ adhigamissati, pātamanusiṭṭho sāyaṁ visesaṁ adhigamissatī”ti.
Này Vương tử, đừng nói chi một đêm ngày, một Tỷ-kheo thành tựu năm tinh cần chi này, chấp nhận Như Lai là bậc lãnh đạo, nếu được giảng dạy buổi chiều thời chứng được sự thù thắng buổi sáng, nếu được giảng dạy buổi sáng, thời sẽ chứng được sự thù thắng buổi chiều.
when a mendicant with these five factors that support meditation has the Realized One as trainer, they could be instructed at dusk and achieve distinction at daybreak, or be instructed at daybreak and achieve distinction at dusk.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
padhāniyaṅgatinh cần chi — yếu tố hỗ trợ sự tinh cần; kinh này nêu năm: tín, ít bệnh, không gian trá, tinh tấn, trí tuệHT. Minh Châu dịch cả "tinh tấn chi" và "tinh cần chi" trong cùng bài
upamāví dụ, thí dụba ví dụ khúc cây (tisso upamā)
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứ — cảnh giới thiền do Āḷāra Kālāma tuyên bố
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứ — cảnh giới do Uddaka Rāmaputta tuyên bố
appāṇakaṁ jhānaṁThiền nín thở
idappaccayatā paṭiccasamuppādaY tánh duyên khởi pháp — lý duyên khởi
nibbidā, virāga, nirodha, upasama, abhiññā, sambodha, nibbānayểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bànchuỗi tiêu chuẩn Bồ Tát dùng để bác bỏ pháp của hai vị thầy cũ
tisso vijjāBa Minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh
buddhacakkhuPhật nhãn
apparajakkhaít nhiễm bụi đời (bụi trong mắt ít)
ājīvakatà mạng ngoại đạo — phái của Upaka
pacchimā janatānhững người đời sau / người thấp kém (theo bản dịch HT. Minh Châu: "những người thấp kém")

Chi tiết mở đầu rất đáng nhớ. Vương tử cho trải vải trắng mời Phật bước lên — một cách tôn kính rất long trọng. Và Thế Tôn ba lần im lặng.

Lý do được Tôn giả Ānanda nói ra. Xin cuộn vải lại, vì "Như Lai còn nghĩ đến những người thấp kém". Nếu Ngài bước lên thì về sau người ta bắt chước, mà không phải ai cũng có vải trắng để trải.

Rồi vương tử trình bày quan niệm của mình. "Lạc được chứng đắc không phải do lạc, lạc được chứng đắc do khổ." Nghe rất giống điều nhiều người tin.

Và Thế Tôn không đáp bằng lý thuyết. Ngài kể lại chính đời mìnhmột bản tự thuật đầy đủ về con đường đi đến giác ngộ.

Ngài xuất gia khi còn trẻ, tóc đen nhánh — và kinh ghi rõ một chi tiết ít người để ý: cha mẹ khóc lóc không bằng lòng. Ngài vẫn đi.

Học với Āḷāra Kālāma chứng Vô sở hữu xứ; học với Uddaka Rāmaputta chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi bỏ cả hai, vì các pháp ấy "không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham… không hướng đến Niết-bàn".

Xin nói cho đúng một nét ở vị thầy thứ hai. Pháp Phi tưởng phi phi tưởng xứ là do RĀMA — người cha — tự chứng và tuyên bố; Uddaka Rāmaputta chỉ TRUYỀN LẠI. Vì vậy kinh nói ông "đặt Ta ngang hàng với mình", khác với trường hợp Āḷāra Kālāma.

Rồi tới ba ví dụ khúc cây tại Uruvelā. Cây ướt ngâm trong nước, cây ướt để trên đất khô, cây khô để trên đất khôchỉ người đã xả ly các dục mới nhen được lửa giác ngộ.

Và phần khổ hạnh trả lời thẳng vào câu hỏi của vương tử. Ngài đã đi hết con đường "lạc chứng đắc do khổ"khổ hạnh khốc liệt tới cùngvà con đường ấy không tới.

Chỗ ngoặt vẫn là ký ức tuổi thơ. Nhớ lại Thiền thứ nhất dưới bóng cây — và nhận ra đó mới là đạo lộ. Tức là: lạc ĐÚNG lại chứng đắc do lạc, không do khổ.

Phần sau kể tiếp: bốn Thiền, ba minh, Phạm thiên Sahampati thỉnh chuyển pháp luân, gặp Upaka trên đường, rồi nhóm năm Tỷ-kheo ở Bārāṇasī.

Và câu hỏi cuối của vương tử rất người: "bao lâu?" Thế Tôn đáp bằng năm tinh cần chiai đủ năm chi ấy thì thời gian không còn là câu hỏi chính.

  • "Phải khổ mới đắc đạo." Đó chính là quan niệm bài kinh này trả lời.
  • "Phật đi tu êm xuôi." Kinh ghi cha mẹ khóc lóc không bằng lòng.
  • "Không bước lên vải là khiêm tốn." Lý do là nghĩ tới người sau.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện tấm vải trắng.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: làm khó mình có phải là tu không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm MN 36 — cùng bản tự thuật.
  • Vì sao Thế Tôn không bước lên tấm vải?
  • Quan niệm của vương tử Bodhi là gì?
  • Vì sao Ngài bỏ hai vị thầy?
  • Năm tinh cần chi trả lời câu hỏi nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.