G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 36
Đức Phật Tự Kể Lại Những Năm Khổ Hạnh

Đại Kinh Saccaka

Mahāsaccaka Sutta — MN 36 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Saccaka

Bài kinh Đức Phật tự kể lại: những năm khổ hạnh cùng cực, lý do Ngài bỏ khổ hạnh, và đêm thành đạo. Đây là một trong những bản tự thuật đầy đủ nhất trong kinh tạng.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 36
  • Nơi chốnVesālī, rừng Đại Lâm, giảng đường Trùng Các
  • Người đối thoạiSaccaka, người ưa luận chiến; Thế Tôn gọi ông là Aggivessana
  • Bài đi cặpMN 35, Tiểu kinh cùng nhân vật

Kinh mở đầu bằng lời khiêu khích của Niganthaputta Saccaka: ông cho rằng có hạng Sa-môn chỉ tu tập về thân mà không tu tập về tâm, có hạng chỉ tu tập về tâm mà không tu tập về thân, và ngờ rằng đệ tử của Thế Tôn thuộc hạng sau. Khi được hỏi "thân tu tập" là gì, Saccaka chỉ kể được các lối khổ hạnh lõa thể, tiết chế ăn uống của các đạo sư ngoại đạo mà chính ông nêu tên ở SC 7 — Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, Makkhali Gosāla, tức các đạo sư Ājīvaka (tà mạng ngoại đạo), không phải phái Ni-kiền; nhưng ông cũng phải nhận rằng những vị ấy thỉnh thoảng vẫn ăn uống thù thắng để bồi bổ thân. Thế Tôn chỉ rõ đó không phải là thân tu tập đúng pháp trong giới luật của bậc Thánh, rồi định nghĩa lại: người "thân không tu tập, tâm không tu tập" là kẻ vô văn phàm phu bị lạc thọ chi phối rồi khi lạc thọ diệt thì sầu muộn than khóc vì khổ thọ; còn vị Thánh đệ tử nghe nhiều thì lạc thọ và khổ thọ khởi lên đều không chi phối tâm. Phần chính của kinh là lời Thế Tôn tự thuật con đường của chính Ngài: xuất gia khi còn trẻ tuổi, cha mẹ nước mắt đầy mặt; học đạo với Alāra Kālāma chứng Vô sở hữu xứ và với Uddaka Ramaputta chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, nhưng thấy các pháp ấy "không hướng đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn" nên từ bỏ. Đến Uruvela, ba ví dụ về khúc cây ướt/khô khởi lên nơi Ngài, cho thấy chỉ hành hạ thân xác mà tâm chưa xả ly các dục thì không thể giác ngộ. Ngài kể lại các khổ hạnh cùng cực: nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm, thiền nín thở, giảm ăn đến mức da bụng bám xương sống — mà vẫn không chứng được pháp thượng nhân. Rồi Ngài nhớ lại lúc còn bé ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề đã chứng Thiền thứ nhất, và nhận ra: "Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ." Ngài ăn thô thực trở lại, bị năm Tỷ-kheo bỏ đi, rồi tuần tự chứng bốn Thiền và ba minh trong ba canh đêm, thành tựu giải thoát. Cuối kinh, Thế Tôn giảng thế nào là "si ám" (lậu hoặc chưa đoạn) và "không si ám"; Saccaka tán thán sắc mặt Ngài vẫn hoan hỷ dù bị công kích, rồi hoan hỷ từ biệt.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại giảng đường Trùng Các — Thế Tôn ở Vesālī, rừng Ðại Lâm; Saccaka đến, Tôn giả Ānanda thỉnh Thế Tôn ngồi lại (SC 1-4).
  • 2. Lời chất vấn của Saccaka về tu tập thân và tâm — Saccaka nêu hai hạng Sa-môn, Bà-la-môn, và ngờ rằng Thanh văn đệ tử của Thế Tôn chỉ tu tâm không tu thân (SC 5).
  • 3. "Thân tu tập" theo Saccaka bị bác bỏ — Saccaka kể hạnh lõa thể, tiết chế ăn uống; nhưng nhận rằng các vị ấy vẫn ăn uống thù thắng. Thế Tôn: "có tụ, có tán cho thân này"; hỏi về tâm tu tập thì Saccaka không trả lời được (SC 6-11).
  • 4. Ðịnh nghĩa thân tu tập và tâm tu tập — Kẻ vô văn phàm phu bị lạc thọ và khổ thọ chi phối tâm; vị Thánh đệ tử nghe nhiều thì cả hai thọ đều không chi phối tâm. Chỗ then chốt — và Thế Tôn định nghĩa khác hẳn cách hiểu thông thường: lạc thọ chi phối được tâm là vì THÂN không tu tập, còn khổ thọ chi phối được tâm là vì TÂM không tu tập (SC 12-16).
  • 5. Bồ-tát xuất gia và học với hai vị thầy — Suy nghĩ về đời sống gia đình gò bó; xuất gia lúc còn trẻ; học với Alāra Kālāma (Vô sở hữu xứ) và Uddaka Ramaputta (Phi tưởng phi phi tưởng xứ), rồi từ bỏ vì các pháp ấy không đưa đến Niết-bàn (SC 18-31).
  • 6. Ba ví dụ về khúc cây và lửa — Tại Uruvela, ba ví dụ vi diệu chưa từng được nghe: khúc cây ướt trong nước, khúc cây ướt trên đất khô, khúc cây khô trên đất khô — chỉ vị đã xả ly các dục mới có thể chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác (SC 32-41).
  • 7. Các khổ hạnh cùng cực — Nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm; các bậc thiền nín thở; tuyệt thực và giảm thiểu ăn uống đến khi thân hết sức gầy yếu; nhưng "khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta" (SC 42-52).
  • 8. Nhớ lại Thiền thứ nhất và tìm ra đạo lộ — Nhớ lúc ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề khi phụ thân đang cày; nhận ra "Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ"; không sợ lạc thọ ly dục; ăn thô thực trở lại, năm Tỷ-kheo bỏ đi (SC 53-55).
  • 9. Bốn Thiền và ba minh — Chứng và trú Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư; Túc mạng minh (canh một), Thiên nhãn về sanh tử chúng sanh (canh giữa), Lậu tận minh (canh cuối) — "Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành" (SC 56-62).
  • 10. Việc thuyết pháp và ngủ ban ngày — Khi Như Lai thuyết pháp cho đại chúng, đó chỉ vì mục đích giảng dạy; Thế Tôn xác nhận có nằm nghỉ ban ngày, chánh niệm tỉnh giác (SC 63-66).
  • 11. Thế nào là si ám và không si ám — Ai chưa đoạn trừ các lậu hoặc là còn si ám; ai đã đoạn trừ là không si ám; đối với Như Lai các lậu hoặc bị cắt tận gốc như cây ta-la bị chặt đầu (SC 67-69).
  • 12. Saccaka tán thán và từ biệt — Saccaka so sánh với sáu vị luận sư ngoại đạo, tán thán sắc mặt Thế Tôn vẫn hoan hỷ dù bị công kích, rồi hoan hỷ tín thọ và từ biệt (SC 70-73).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 1 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
MN 36, đoạn SC 15 (Pali mn36:8.1-8.6)
Idha, aggivessana, assutavato puthujjanassa uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno sukhasārāgī ca hoti sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā sukhā vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati dukkhā vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati.
Này Aggivessana, thế nào là thân không tu tập và thế nào là tâm không tu tập? Ở đây, này Aggivessana, kẻ vô văn phàm phu khởi lên lạc thọ. Người này được cảm giác lạc thọ, liền tham đắm lạc thọ và rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ. Người ấy, do cảm giác khổ thọ, nên sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh.
Take an unlearned ordinary person who has a pleasant feeling. When they experience a pleasant feeling they become full of lust for it. Then that pleasant feeling ceases. And when it ceases, a painful feeling arises. When they suffer painful feeling, they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion.
MN 36, đoạn SC 16 (Pali mn36:9.2-9.6)
Idha, aggivessana, sutavato ariyasāvakassa uppajjati sukhā vedanā. So sukhāya vedanāya phuṭṭho samāno na sukhasārāgī ca hoti, na sukhasārāgitañca āpajjati. Tassa sā sukhā vedanā nirujjhati. Sukhāya vedanāya nirodhā uppajjati dukkhā vedanā. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati na kilamati na paridevati na urattāḷiṁ kandati na sammohaṁ āpajjati.
Ở đây, này Aggivessana, lạc thọ khởi lên cho vị Thánh đệ tử nghe nhiều. Vị này được cảm giác lạc thọ, nhưng không tham đắm lạc thọ, không rơi vào sự tham đắm lạc thọ. Nếu lạc thọ ấy bị diệt mất, do lạc thọ đoạn diệt, khởi lên khổ thọ, vị ấy cảm giác khổ thọ nhưng không sầu muộn, than van, khóc lóc, đập ngực, đưa đến bất tỉnh.
Take a learned noble disciple who has a pleasant feeling. When they experience a pleasant feeling they don't become full of lust for it. Then that pleasant feeling ceases. And when it ceases, painful feeling arises. When they suffer painful feelings they don't sorrow or wail or lament, beating their breast and falling into confusion.
MN 36, đoạn SC 20 (Pali mn36:12.3-12.5)
‘sambādho gharāvāso rajāpatho, abbhokāso pabbajjā. Nayidaṁ sukaraṁ agāraṁ ajjhāvasatā ekantaparipuṇṇaṁ ekantaparisuddhaṁ saṅkhalikhitaṁ brahmacariyaṁ carituṁ. Yannūnāhaṁ kesamassuṁ ohāretvā kāsāyāni vatthāni acchādetvā agārasmā anagāriyaṁ pabbajeyyan’ti.
“Ðời sống gia đình bị gò bó, con đường đầy những bụi đời. Ðời sống xuất gia như sống giữa hư không. Thật rất khó sống tại gia đình mà có thể sống hoàn toàn đầy đủ, hoàn toàn thanh tịnh đời sống phạm hạnh thuần tịnh. Hãy cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình”.
'Life at home is cramped and dirty, life gone forth is wide open. It's not easy for someone living at home to lead the spiritual life utterly full and pure, like a polished shell. Why don't I shave off my hair and beard, dress in ocher robes, and go forth from the lay life to homelessness?'
MN 36, đoạn SC 26 (Pāli mn36:14.14–14.15 — mn36:15 là đoạn Bồ-tát đến với Uddaka Rāmaputta, không phải đoạn này)
“Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ”. Như vậy, này Aggivessana, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi.
[Sujato, MN 36: 'This teaching does not lead to disillusionment, dispassion, cessation, peace, insight, awakening, and extinguishment, but only as far as the dimension of nothingness.' Realizing that this teaching was inadequate, I left disappointed.]
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
MN 36, đoạn SC 35 (Pali mn36:17.11)
Evameva kho, aggivessana, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā kāyena ceva cittena ca kāmehi avūpakaṭṭhā viharanti, yo ca nesaṁ kāmesu kāmacchando kāmasneho kāmamucchā kāmapipāsā kāmapariḷāho, so ca ajjhattaṁ na suppahīno hoti, na suppaṭippassaddho, opakkamikā cepi te bhonto samaṇabrāhmaṇā dukkhā tibbā kharā kaṭukā vedanā vedayanti, abhabbāva te ñāṇāya dassanāya anuttarāya sambodhāya.
—Cũng vậy, này Aggivessana, những Sa-môn hay những Bà-la-môn sống không xả ly các dục về thân, những gì đối với chúng thuộc các dục như dục tham, dục ái, dục hôn ám, dục khát vọng, dục nhiệt não, về nội tâm chưa được khéo đoạn trừ, chưa được khéo làm cho nhẹ bớt, nếu những Tôn giả Sa-môn hay Bà-la-môn này thình lình cảm thọ những cảm giác chói đau, khổ đau, kịch liệt, khốc liệt, các vị ấy không có thể chứng được tri kiến, vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
In the same way, there are ascetics and brahmins who don't live withdrawn in body and mind from sensual pleasures. They haven't internally given up or stilled desire, affection, infatuation, thirst, and passion for sensual pleasures. Regardless of whether or not they suffer painful, sharp, severe, acute feelings due to exertion, they are incapable of knowledge and vision, of supreme awakening.
MN 36, đoạn SC 42 (Pali mn36:20.7-20.8)
Āraddhaṁ kho pana me, aggivessana, vīriyaṁ hoti asallīnaṁ, upaṭṭhitā sati asammuṭṭhā, sāraddho ca pana me kāyo hoti appaṭippassaddho teneva dukkhappadhānena padhānābhitunnassa sato. Evarūpāpi kho me, aggivessana, uppannā dukkhā vedanā cittaṁ na pariyādāya tiṭṭhati.
Này Aggivessana, dầu cho Ta có chí tâm tinh cần, tinh tấn, tận lực, dầu cho niệm được an trú không dao động, nhưng thân của Ta vẫn bị khích động, không được khinh an, vì Ta bị chi phối bởi sự tinh tấn do tinh tấn chống lại khổ thọ ấy. Tuy vậy, này Aggivessana, khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta.
My energy was roused up and unflagging, and my mindfulness was established and lucid, but my body was disturbed, not tranquil, because I'd pushed too hard with that painful striving. But even such painful feeling did not occupy my mind.
MN 36, đoạn SC 53 (Pali mn36:31.2-31.5)
‘abhijānāmi kho panāhaṁ pitu sakkassa kammante sītāya jambucchāyāya nisinno vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharitā. Siyā nu kho eso maggo bodhāyā’ti? Tassa mayhaṁ, aggivessana, satānusāri viññāṇaṁ ahosi: ‘eseva maggo bodhāyā’ti.
“Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc giòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (jambu), Ta ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ”. Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: “Ðạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?” Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: “Ðây là đạo lộ đưa đến giác ngộ”.
'I recall sitting in the cool shade of a black plum tree while my father the Sakyan was off working. Quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, I entered and remained in the first absorption... Could that be the path to awakening?' Stemming from that memory came the understanding: 'That is the path to awakening!'
MN 36, đoạn SC 62 (Pali mn36:43.1-43.3)
Tassa me evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccittha, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccittha, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccittha. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ ahosi. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti abbhaññāsiṁ.
Nhờ biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của Ta thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, Ta khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát.” Ta đã biết: “Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.
Knowing and seeing like this, my mind was freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When it was freed, I knew it was freed. I understood: 'Rebirth is ended; the spiritual journey has been completed; what had to be done has been done; there is nothing further for this place.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
kāyabhāvanāthân tu tập (sự tu tập về thân)Trong kinh, Thế Tôn định nghĩa lại khác hẳn lối khổ hạnh hành xác.
cittabhāvanātâm tu tập (sự tu tập về tâm)
sukhā vedanā / dukkhā vedanālạc thọ / khổ thọ
puthujjanaphàm phu; assutavā puthujjana: kẻ vô văn phàm phu (không được nghe pháp)
ariyasāvakaThánh đệ tử; sutavā ariyasāvaka: vị Thánh đệ tử nghe nhiều
pabbajjāsự xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình
ākiñcaññāyatanaVô sở hữu xứPháp chứng của Alāra Kālāma.
nevasaññānāsaññāyatanaPhi tưởng phi phi tưởng xứPháp chứng của Uddaka Ramaputta.
jhānathiền (Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư)
vitakka / vicāratầm / tứ
pīti / sukhahỷ / lạc
upekkhā-sati-pārisuddhixả niệm thanh tịnh (Thiền thứ tư)
tisso vijjāba minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh (sanh tử của chúng sanh), Lậu tận minh. Xin lưu ý: chính bản MN 36 gọi là “minh thứ nhất / thứ hai / thứ ba” (paṭhama, dutiya, tatiya vijjā); cụm “tisso vijjā” là cách gọi quy ước về sau.
pubbenivāsānussatiñāṇaTúc mạng minh — trí nhớ các đời sống quá khứ
āsavakkhayañāṇaLậu tận trí — trí đoạn tận các lậu hoặc
āsavalậu hoặc: dục lậu (kāmāsava), hữu lậu (bhavāsava), vô minh lậu (avijjāsava)
nibbidā, virāga, nirodha, upasama, abhiññā, sambodhi, nibbānayểm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bànChuỗi tiêu chuẩn Bồ-tát dùng để đánh giá pháp của hai vị thầy cũ.
sammūḷha / asammūḷhasi ám / không si ám
appamatta ātāpī pahitattakhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
Aggivessanacách Thế Tôn xưng hô với Saccaka suốt bài kinh. Việc Aggivessana là tên họ (gotta) của ông là thông tin theo Chú giải; chính bản kinh không nói điều đó.

Bài kinh bắt đầu bằng một lời khiêu khích. Saccaka cho rằng đệ tử Thế Tôn chỉ tu tâm mà không tu thân. Nhưng khi bị hỏi lại "thân tu tập là gì", ông chỉ kể được các lối khổ hạnh lõa thể — và phải nhận rằng các vị ấy thỉnh thoảng vẫn ăn uống thù thắng.

Xin đính chính một chỗ chúng tôi từng chép sai. Các đạo sư Saccaka nêu tên — Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, Makkhali Gosāla — là các đạo sư Ājīvaka (tà mạng ngoại đạo), không phải phái Ni-kiền như bản nháp của chúng tôi ghi. Lượt soi lại bắt được.

Rồi Thế Tôn định nghĩa lại, và định nghĩa ấy ngược hẳn cách hiểu thông thường. Lạc thọ chi phối được tâm là vì THÂN không tu tập; khổ thọ chi phối được tâm là vì TÂM không tu tập. Người ta hay nghĩ ngược lại.

Phần tự thuật bắt đầu từ lúc xuất gia. "Đời sống gia đình gò bó, đời sống xuất gia phóng khoáng như hư không." Ngài học với Āḷāra Kālāma (Vô sở hữu xứ) rồi Uddaka Rāmaputta (Phi tưởng phi phi tưởng xứ) — và bỏ cả hai, vì các pháp ấy không đưa đến Niết-bàn.

Ba ví dụ khúc cây là chỗ Ngài tự tìm ra hướng đi. Khúc cây ướt ngâm trong nước; khúc cây ướt để trên đất khô; khúc cây khô để trên đất khô. Chỉ khúc thứ ba mới nhen được lửa — chỉ vị đã xả ly các dục mới có thể chứng Chánh Đẳng Giác.

Rồi tới phần khổ hạnh, kinh tả không giấu gì. Nghiến răng lấy tâm chế ngự tâm; nín thở; tuyệt thực tới khi thân hết sức gầy yếu. Và Ngài nói một câu rất đáng nhớ: "Khổ thọ ấy khởi lên nơi Ta, được tồn tại nhưng không chi phối tâm Ta."

Chỗ ngoặt của cả cuộc đời Ngài nằm ở một ký ức tuổi thơ. Ngài nhớ lại lúc ngồi dưới bóng cây diêm-phù-đề khi phụ thân đang cày, và đã chứng Thiền thứ nhất một cách tự nhiên. Ngài tự hỏi: "Đây có phải là đạo lộ đưa đến giác ngộ?"

Và câu tiếp theo mới là chỗ dũng cảm. Ngài không sợ cái lạc do ly dục ấy. Rồi Ngài ăn thô thực trở lại — và năm vị Tỷ-kheo bỏ đi, cho là Ngài đã thối thất. Ngài phải đi một mình.

Đêm thành đạo được chia theo ba canh. Canh một: Túc mạng minh. Canh giữa: thấy sanh tử của chúng sanh. Canh cuối: Lậu tận minh — "Sanh đã diệt, phạm hạnh đã thành." Xin lưu ý: bản kinh gọi là "minh thứ nhất, thứ hai, thứ ba"; cụm tisso vijjā (ba minh) là cách gọi quy ước về sau.

Bài kinh khép lại rất người. Saccaka tán thán sắc mặt Thế Tôn vẫn hoan hỷ dù bị công kích. Cả bài là một cuộc công kích — và người công kích ra về hoan hỷ.

  • "Đức Phật khuyên bỏ hết khổ hạnh." Ngài bỏ khổ hạnh cùng cực, không bỏ tinh tấn.
  • "Ăn trở lại là thối thất." Đó là ý nghĩ của năm vị bỏ đi, không phải của kinh.
  • "Khổ thọ chi phối tâm là do thân yếu." Kinh nói ngược lại: do tâm không tu tập.
  • "Aggivessana là tên riêng." Đó là tên họ theo Chú giải; bản kinh không nói.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện cậu bé ngồi dưới gốc cây khi cha đang cày.
  • Ngành Thiếu. Đố: khúc cây nào nhen được lửa? Vì sao?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài nên đọc trọn — đây là lời tự thuật của chính Đức Phật.
  • Vì sao Ngài bỏ hai vị thầy đầu tiên?
  • Ba ví dụ khúc cây dạy điều gì?
  • Ký ức nào chỉ ra đạo lộ cho Ngài?
  • Ba minh chứng trong ba canh nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 6 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.