G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 48
Sáu Pháp Hoà Kính · Nói Giữa Một Cuộc Chia Rẽ

Kinh Kosambiya

Kosambiya Sutta — MN 48 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Kosambiya

Tăng chúng ở Kosambī đang chia rẽ trầm trọng"đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi", không ai chịu hoà giải. Chính giữa cảnh ấy, Thế Tôn dạy Sáu Pháp Hoà Kính.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 48
  • Nơi chốnKosambī, tịnh xá Ghosita
  • Nhân duyênmột trong những vụ bất hoà nổi tiếng nhất lịch sử Tăng đoàn
  • Đóng góp — bản văn kinh điển của Lục Hoà

Kinh Kosambiya (MN 48) là bài kinh Đức Phật dạy khi Tăng chúng ở Kosambi đang chia rẽ trầm trọng: các Tỷ-kheo "cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi", không ai chịu thông cảm, không ai chịu hòa giải. Đây là một trong những vụ bất hòa nổi tiếng nhất trong lịch sử Tăng đoàn. Thế Tôn cho gọi các vị ấy đến và hỏi thẳng: trong khi tranh cãi như vậy, các ông có an trú TỪ THÂN HÀNH, TỪ KHẨU HÀNH, TỪ Ý HÀNH đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không? Các vị thưa: không. Phật quở là "các kẻ mê mờ", và cảnh báo rằng sống như vậy sẽ phải chịu bất hạnh, đau khổ trong một thời gian dài. Kế đó Phật dạy SÁU PHÁP HÒA KÍNH (lục hòa) — sáu pháp "cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí": (1) từ thân hành, (2) từ khẩu hành, (3) từ ý hành đối với bạn đồng tu cả trước mặt lẫn sau lưng; (4) san sẻ tài vật nhận được đúng pháp, cho đến vật trong bình bát, dùng chung với các vị có giới đức; (5) cùng giữ giới luật không tỳ vết, không uế tạp, đưa đến thiền định; (6) cùng thành tựu tri kiến bậc Thánh đưa đến diệt tận khổ đau. Trong sáu pháp ấy, tri kiến là pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả — như mái nhọn của căn nhà có mái nhọn giữ lấy toàn bộ ngôi nhà. Phần sau kinh triển khai tri kiến ấy thành BẢY TRÍ (bảy chi): tự xét tâm còn bị năm triền cái hay lo nghĩ đời này đời sau, hay tranh cãi, ràng buộc hay không; biết mình được tịch chỉ khi tu tập tri kiến; biết ngoài giáo pháp này không ai có tri kiến như vậy; biết mình có "pháp tánh" lập tức phát lộ lỗi lầm như đứa bé rút tay khỏi than đỏ; biết mình vẫn tha thiết với tăng thượng giới - tâm - tuệ như bò mẹ vừa ăn cỏ vừa trông con; biết mình chú tâm lóng tai nghe Pháp; và biết mình được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ, hân hoan tương ứng với pháp. Vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả. Với Huynh trưởng GĐPT, kinh này là nền tảng kinh điển của tinh thần lục hòa trong đoàn thể: hòa hợp không phải là dàn xếp bề ngoài, mà bắt đầu từ tâm từ trước mặt lẫn sau lưng, và được giữ vững bởi chánh kiến.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Tăng chúng Kosambi tranh cãi (SC 1-11) — Thế Tôn ở tịnh xá Ghosita, Kosambi. Các Tỷ-kheo sống cạnh tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi. Một Tỷ-kheo bạch Phật; Phật sai người gọi các vị ấy đến và hỏi có thật vậy chăng — các vị xác nhận.
  • 2. Phật vấn về từ thân - khẩu - ý hành và quở trách (SC 12-13) — Phật hỏi: khi tranh cãi như vậy, có an trú từ thân hành, từ khẩu hành, từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không? Các vị thưa không. Phật gọi họ là 'các kẻ mê mờ' và cảnh báo bất hạnh, đau khổ lâu dài.
  • 3. Sáu pháp hòa kính (SC 15-21) — Sáu pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tương kính, đưa đến hòa đồng, không tranh luận, hòa hợp, nhất trí: từ thân hành, từ khẩu hành, từ ý hành; san sẻ tài vật đúng pháp; cùng giới luật; cùng tri kiến bậc Thánh.
  • 4. Tri kiến là pháp tối thượng - ví dụ mái nhọn (SC 22) — Trong sáu pháp, tri kiến bậc Thánh là pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, ví như mái nhọn của căn nhà có mái nhọn.
  • 5. Bảy trí của vị thành tựu tri kiến — bốn và năm gọi là “pháp tánh” (dhammatā), sáu và bảy gọi là “sức mạnh” (balatā) (SC 23-30) — Trí thứ nhất: quán xét không còn nội triền (tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi, thế sự đời này, thế sự đời sau, tranh cãi) che tâm. Trí thứ hai: tu tập tri kiến này thì tự đạt tịch chỉ. Trí thứ ba: ngoài tổ chức này không Sa-môn Bà-la-môn nào thành tựu tri kiến như vậy. Trí thứ tư: pháp tánh lập tức phát lộ giới tội — ví đứa trẻ rút tay khỏi than đỏ. Trí thứ năm: dù bận việc giúp đồng phạm hạnh vẫn tha thiết tăng thượng giới - tâm - tuệ — ví bò mẹ ăn cỏ vẫn coi chừng con bê. Trí thứ sáu: chú tâm lóng tai nghe Pháp. Trí thứ bảy: được nghĩa tín thọ, pháp tín thọ và sự hân hoan tương ứng với pháp.
  • 6. Kết: bảy chi tức Dự Lưu quả (SC 31-32) — Vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 48.2 (SC 1)
Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti. Te na ceva aññamaññaṁ saññāpenti na ca saññattiṁ upenti, na ca aññamaññaṁ nijjhāpenti, na ca nijjhattiṁ upenti.
Lúc bấy giờ, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi. Họ không tự thông cảm nhau, không chấp nhận thông cảm; họ không tự hòa giải, không chấp nhận hòa giải.
Now at that time the mendicants of Kosambī were fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words. They couldn't persuade each other or be persuaded, nor could they convince each other or be convinced.
MN 48.5 (SC 12)
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yasmiṁ tumhe samaye bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharatha, api nu tumhākaṁ tasmiṁ samaye mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ …pe… mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho cā”ti?
Này các Tỷ-kheo, các ông nghĩ thế nào? Trong khi các Ông sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi; trong khi ấy các Ông có an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không, các Ông có an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng không?
What do you think, mendicants? When you're fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words, are you treating your spiritual companions with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private?
MN 48.6 (SC 15)
Chayime, bhikkhave, dhammā sāraṇīyā piyakaraṇā garukaraṇā saṅgahāya avivādāya sāmaggiyā ekībhāvāya saṁvattanti. Katame cha? Idha, bhikkhave, bhikkhuno mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ hoti sabrahmacārīsu āvi ceva raho ca.
Này các Tỷ-kheo, có sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến vô tranh luận, hòa hợp, nhất trí. Thế nào là sáu? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Mendicants, these six warm-hearted qualities make for fondness and respect, conducing to inclusion, harmony, and unity, without quarreling. What six? Firstly, a mendicant consistently treats their spiritual companions with bodily kindness, both in public and in private.
MN 48.6 (SC 18)
Puna caparaṁ, bhikkhave, bhikkhu ye te lābhā dhammikā dhammaladdhā antamaso pattapariyāpannamattampi, tathārūpehi lābhehi appaṭivibhattabhogī hoti sīlavantehi sabrahmacārīhi sādhāraṇabhogī.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, đối với các tài vật nhận được đúng pháp, hợp pháp, cho đến những tài vật thâu nhận chỉ trong bình bát, Tỷ-kheo không phải là người không san sẻ, các tài vật nhận được như vậy, phải là người san sẻ dùng chung với các vị đồng phạm hạnh có giới đức.
Furthermore, a mendicant shares without reservation any material things they have gained by legitimate means, even the food placed in the alms-bowl, using them in common with their ethical spiritual companions.
MN 48.7 (SC 22)
Imesaṁ kho, bhikkhave, channaṁ sāraṇīyānaṁ dhammānaṁ etaṁ aggaṁ etaṁ saṅgāhikaṁ etaṁ saṅghāṭanikaṁ—yadidaṁ yāyaṁ diṭṭhi ariyā niyyānikā niyyāti takkarassa sammā dukkhakkhayāya. Seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgārassa etaṁ aggaṁ etaṁ saṅgāhikaṁ etaṁ saṅghāṭanikaṁ yadidaṁ kūṭaṁ.
Này các Tỷ-kheo, trong sáu pháp cần phải ghi nhớ này, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là tri kiến này, thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chân chánh diệt tận khổ đau. Này các Tỷ-kheo, ví như một căn nhà có mái nhọn như ngọn tháp, có một pháp tối thượng, thâu nhiếp tất cả, làm giềng mối cho tất cả, chính là mái nhọn.
Of these six warm-hearted qualities, the chief is the view that is noble and emancipating, and delivers one who applies it to the complete ending of suffering. It holds and binds everything together. It's like a bungalow. The roof-peak is the chief point, which holds and binds everything together.
MN 48.8 (SC 23)
Idha, bhikkhave, bhikkhu araññagato vā rukkhamūlagato vā suññāgāragato vā iti paṭisañcikkhati: ‘atthi nu kho me taṁ pariyuṭṭhānaṁ ajjhattaṁ appahīnaṁ, yenāhaṁ pariyuṭṭhānena pariyuṭṭhitacitto yathābhūtaṁ nappajāneyyaṁ na passeyyan’ti?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi đến ngôi rừng, hay đi đến dưới gốc cây, hay đi đến chỗ trống vắng và suy nghĩ như sau: “Không biết ta có nội triền nào chưa đoạn trừ không? Do nội triền này nếu tâm ta bị triền phược, thì ta không thể biết như thật, không thể thấy như thật?”
It's when a mendicant has gone to a wilderness, or to the root of a tree, or to an empty hut, and reflects like this, ‘Is there anything that I'm overcome with internally and haven't given up, because of which I might not accurately know and see?’
MN 48.11 (SC 27)
Seyyathāpi, bhikkhave, daharo kumāro mando uttānaseyyako hatthena vā pādena vā aṅgāraṁ akkamitvā khippameva paṭisaṁharati; evameva kho, bhikkhave, dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi tathārūpiṁ āpattiṁ āpajjati yathārūpāya āpattiyā vuṭṭhānaṁ paññāyati, atha kho naṁ khippameva satthari vā viññūsu vā sabrahmacārīsu deseti vivarati uttānīkaroti.
Này các Tỷ-kheo, ví như một đứa trẻ con, ngây thơ, nằm ngửa, lập tức rút lui tay hay chân nếu tay hay chân của nó chạm phải than đỏ. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất cứ giới tội nào vị này vi phạm, giới tội ấy liền được xuất tội. Vị này lập tức phát lộ, tỏ bày, trình bày trước bậc Ðạo Sư hay trước các vị đồng phạm hạnh có trí.
Suppose there was a little baby boy. If he puts his hand or foot on a burning coal, he quickly pulls it back. In the same way, this is the nature of an individual accomplished in view. Though they may still fall into a kind of offense for which rehabilitation is possible, they quickly disclose it to the Teacher or a sensible spiritual companion.
MN 48.12 (SC 28)
Seyyathāpi, bhikkhave, gāvī taruṇavacchā thambañca ālumpati vacchakañca apacinati; evameva kho, bhikkhave, dhammatā esā diṭṭhisampannassa puggalassa: kiñcāpi yāni tāni sabrahmacārīnaṁ uccāvacāni kiṅkaraṇīyāni tattha ussukkaṁ āpanno hoti, atha khvāssa tibbāpekkhā hoti adhisīlasikkhāya adhicittasikkhāya adhipaññāsikkhāya.
Này các Tỷ-kheo, ví như con bò có các con bê, khi đang nhổ lùm cỏ lên (ăn), vẫn coi chừng con bê. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là pháp tánh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu. Bất luận sự việc cần phải làm dầu lớn nhỏ gì, giúp cho các vị đồng phạm hạnh; vị này nỗ lực thực hiện, nhưng tha thiết hướng đến tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học.
Suppose there was a cow with a baby calf. She watches her calf devotedly as she grazes. In the same way, this is the nature of an individual accomplished in view. Though they might manage a diverse spectrum of duties for their spiritual companions, they still feel a keen regard for the training in higher ethics, higher mind, and higher wisdom.
MN 48.15 (SC 31)
Evaṁ sattaṅgasamannāgatassa kho, bhikkhave, ariyasāvakassa dhammatā susamanniṭṭhā hoti sotāpattiphalasacchikiriyāya. Evaṁ sattaṅgasamannāgato kho, bhikkhave, ariyasāvako sotāpattiphalasamannāgato hotī”ti.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, pháp tánh được khéo an trú đối với vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này để chứng được quả Dự Lưu. Như vậy, này các Tỷ-kheo, vị Thánh đệ tử thành tựu bảy chi này tức là đã thành tựu Dự Lưu quả.
When a noble disciple has these seven factors, they have properly investigated their nature through the realization of the fruit of stream-entry. A noble disciple with these seven factors has the fruit of stream-entry.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sāraṇīyā dhammāSáu pháp cần phải ghi nhớ (lục hòa kính)HT. Thích Minh Châu dịch: 'sáu pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính'
mettaṁ kāyakammaṁ / vacīkammaṁ / manokammaṁTừ thân hành / từ khẩu hành / từ ý hànhThực hành cả trước mặt lẫn sau lưng (āvi ceva raho ca)
diṭṭhi ariyā niyyānikāTri kiến thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượngPháp tối thượng thâu nhiếp năm pháp kia
pariyuṭṭhānaNội triền, sự trói buộc bên trong khiến tâm bị triền phược
kāmarāgaTham dục
byāpādaSân
thinamiddhaHôn trầm thụy miên
uddhaccakukkuccaTrạo hối
vicikicchāNghi
dhammatāPháp tánhBản Việt giữ nguyên chữ Pali trong ngoặc: 'Pháp tánh (Dhammata)'
adhisīla- / adhicitta- / adhipaññāsikkhāTăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học
atthaveda / dhammavedaNghĩa tín thọ / Pháp tín thọBản Việt ghi kèm nguyên chữ Pali
ariyasāvakaVị Thánh đệ tử
lokuttaraSiêu thế
puthujjanaPhàm phu
sotāpattiphalaDự Lưu quả (quả Nhập lưu)
kūṭāgāraCăn nhà có mái nhọn như ngọn tháp
sabrahmacārīVị đồng phạm hạnh (bạn cùng tu)
balatāsức mạnh (của vị đã thành tựu tri kiến)Xin phân biệt: kinh gọi trí thứ tư và thứ năm là “pháp tánh” (dhammatā), còn trí thứ sáu và thứ bảy thì gọi là “sức mạnh” (balatā — mn48:13.2 và 14.2; bản Việt: “sức mạnh mà một vị chứng được tri kiến thành tựu”). Bảng bố cục của trang gộp chung cả bảy là “bảy trí”, đúng theo kết cấu kinh văn vì đều kết bằng chữ ñāṇa, nhưng thuật ngữ thì hai nhóm khác nhau.

Bối cảnh làm bài kinh này khác hẳn một bài giảng về hoà hợp bình thường. Không phải dạy phòng ngừa — mà dạy giữa lúc đang cháy.

Kinh tả cuộc cãi vã bằng một câu rất mạnh. Các vị "cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi", không tự thông cảm và không chấp nhận hoà giải.

Và Thế Tôn không hỏi ai đúng ai sai. Ngài hỏi một câu khác hẳn: trong khi tranh cãi như vậy, các ông có an trú TỪ thân hành, TỪ khẩu hành, TỪ ý hành đối với nhau — cả trước mặt lẫn sau lưng — không?

Câu trả lời là: không. Và Ngài quở thẳng: "các kẻ mê mờ", cảnh báo sống như vậy sẽ chịu bất hạnh đau khổ lâu dài.

Rồi Ngài dạy Sáu Pháp Hoà Kính. (1) từ thân hành, (2) từ khẩu hành, (3) từ ý hànhcả trước mặt lẫn sau lưng. (4) san sẻ tài vật. (5) cùng giữ giới. (6) cùng thành tựu tri kiến.

Chi tiết ở pháp thứ tư rất đáng chú ý. San sẻ tài vật nhận được đúng pháp — "cho đến vật trong bình bát". Không chỉ chia của dư — chia cả phần ăn đang cầm trên tay.

Ba chữ "trước mặt lẫn sau lưng" lặp đi lặp lại — và đó là thước đo thật. Đọc kèm MN 31 sẽ thấy cùng một nguyên tắc, một bên là cảnh chia rẽ, một bên là cảnh hoà hợp.

Trong sáu pháp ấy, Thế Tôn nói rõ pháp nào là tối thượng. Tri kiến — và Ngài dùng ví dụ mái nhọn: trong một ngôi nhà có nóc nhọn, cái mái nhọn là tối thượng, là chỗ quy tụ mọi rui kèo.

Ý của ví dụ ấy rất thực tế cho một đoàn thể. Chia của, giữ giới, ăn nói tử tếđều cần. Nhưng nếu cái thấy không chung thì mọi thứ kia rời ra.

Rồi tới bảy trí của vị thành tựu tri kiến. Xin để ý kinh dùng hai chữ khác nhau: trí thứ tư và thứ năm gọi là "pháp tánh" (dhammatā), còn trí thứ sáu và thứ bảy gọi là "sức mạnh" (balatā).

Và câu kết đặt tất cả vào chỗ của nó. Vị thành tựu bảy chi phần ấy thì đã khéo thực hành để chứng Dự Lưu quả. Lục hoà không phải phép xã giao — là đường vào dòng Thánh.

  • "Hoà hợp là im lặng cho qua." Kinh đòi từ tâm cả sau lưng, không đòi im.
  • "Cứ chia của là hoà." Kinh xếp tri kiến làm tối thượng.
  • "Phật đứng ra phân xử ai đúng." Ngài không hỏi ai đúng.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy ba pháp đầu: tay hiền, lời hiền, lòng hiền.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: em nói về bạn khi bạn vắng mặt thế nào?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài bắt buộc đọc khi đoàn có bất hoà. Đọc kèm MN 31.
  • Thế Tôn hỏi các vị điều gì đầu tiên?
  • Sáu pháp hoà kính là gì?
  • Vì sao tri kiến là tối thượng?
  • Ví dụ mái nhọn dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.