G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 40
Sa-Môn Hạnh Không Nằm Ở Hình Thức

Tiểu Kinh Xóm Ngựa

Cūḷaassapura Sutta — MN 40 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Xóm Ngựa

Người đời gọi quý vị là Sa-môn, và quý vị cũng tự nhận như vậy. Đã mang danh xưng ấy thì phải tu cho xứngđể lời tự nhận là như thật, và để của cúng dường của thí chủ có kết quả lớn.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 40
  • Nơi chốn — giữa dân chúng Aṅga, tại xã ấp Assapura (xóm Ngựa)
  • Bài đi cặpMN 39, Đại kinh cùng nơi chốn
  • Kết phẩm — bài thứ mười, khép lại Phẩm Đại Song Đối

Kinh mở đầu bằng một lời nhắc rất thiết thực: người đời gọi quý vị là "Sa-môn", và khi được hỏi quý vị cũng tự nhận mình là Sa-môn; vậy đã mang danh xưng ấy thì phải tu tập cho xứng với danh xưng ấy, để lời tự nhận là như thật, để của cúng dường của thí chủ có kết quả lớn, và để sự xuất gia không thành vô dụng. Kế đó Ðức Phật chỉ rõ thế nào là KHÔNG thực hành pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn: đó là vị còn nguyên mười hai thứ cấu uế trong tâm chưa được đoạn diệt — tham dục, sân hận, phẫn nộ, hiềm hận (thù hận), giả dối, não hại, tật đố, xan lẩn, man trá, xảo trá, ái dục và tà kiến. Ngài ví sự xuất gia của người như vậy như một thứ vũ khí hai lưỡi rất sắc bén tên mataja được bọc trong ĐẠI Y (Pāli mn40:4.2 saṅghāṭiyā sampārutaṁ sampaliveṭhitaṁ; bản Anh: “wrapped in an outer robe”) — đây mới là hình ảnh trọng yếu: hiểm nguy giấu ngay dưới tấm y của người tu. Bản Việt dịch thoáng thành “được bao lại và bỏ trong bao”. Phần trọng tâm của kinh là lời cảnh tỉnh về hình thức. Ðức Phật lần lượt bác bỏ: Sa-môn hạnh không phải chỉ do mang đại y, không phải do lõa thể, thoa bụi đất, lễ nghi tắm rửa, sống dưới gốc cây, sống ngoài trời, đứng thẳng, ăn uống định kỳ, tụng chú thuật, hay bện tóc. Vì nếu chỉ mang đại y mà hết tham sân si thì cha mẹ bà con đã cho con mình mang đại y ngay khi mới sinh; nhưng thực tế Ngài vẫn thấy có người mang đại y mà tâm còn đầy tham dục, sân hận, tà kiến. Ngược lại, vị thực hành đúng là vị đã đoạn diệt các cấu uế ấy. Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch và được giải thoát, nên hân hoan sanh, hỷ sanh, thân khinh an, lạc thọ sanh, tâm được định tĩnh. Từ đó vị ấy an trú biến mãn khắp mười phương với tâm từ, bi, hỷ, xả — quảng đại vô biên, không hận không sân. Ðức Phật ví Pháp và Luật như một hồ sen nước trong mát: người từ bất cứ phương nào đi đến, bị nóng bức khát nước, đều được giải trừ. Cũng vậy, dù xuất thân Sát-đế-lị, Bà-la-môn, Phệ-xá hay Thủ-đà, ai đến với Pháp và Luật của Như Lai, tu tập từ bi hỷ xả thì nội tâm được định tĩnh; và nhờ đoạn tận các lậu hoặc, chứng vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại, vị ấy mới thật sự "thành Sa-môn".

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại xóm Ngựa (Assapura) — Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga, tại xã ấp Assapura, gọi các Tỷ-kheo. (SC 1-2 / mn40:1)
  • 2. Danh xưng "Sa-môn" và lời khuyên tu học cho xứng — Dân chúng biết các Ông là Sa-môn, các Ông tự nhận là Sa-môn, vậy phải tu tập những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, để danh xưng chân chính, của cúng dường có kết quả lớn, sự xuất gia không thành vô dụng. (SC 3 / mn40:2)
  • 3. Thế nào là KHÔNG thực hành pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn — Mười hai cấu uế chưa đoạn diệt: tham dục, sân hận, phẫn nộ, thù hận (hiềm hận), giả dối, não hại, tật đố, xan lẩn, man trá, xảo trá, ái dục, tà kiến — là những cấu uế, tỳ vết, lỗi lầm cho Sa-môn, đưa đến đọa xứ, ác thú. (SC 4 / mn40:3)
  • 4. Ví dụ vũ khí mataja hai lưỡi bọc trong đại y — Sự xuất gia của vị Tỷ-kheo ấy được ví như thứ vũ khí nguy hiểm tên mataja, hai lưỡi rất sắc bén, được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. (SC 5 / mn40:4)
  • 5. Sa-môn hạnh không tùy thuộc vào hình thức khổ hạnh bên ngoài — Không phải do mang đại y, lõa thể, thoa bụi đất, lễ nghi tắm rửa, sống dưới gốc cây, sống ngoài trời, đứng thẳng, ăn uống có định kỳ, sống theo chú thuật, hay bện tóc. (SC 6 / mn40:5)
  • 6. Lý luận phản chứng: nếu chỉ hình thức mà sạch tâm — Nếu chỉ mang đại y (hay bện tóc…) mà đoạn diệt được tham sân, thì bà con quyến thuộc đã cho người ấy mang đại y ngay khi mới sanh. Nhưng Thế Tôn vẫn thấy người mang đại y, người bện tóc mà tâm còn tham dục, sân hận, tà kiến. (SC 7-8 / mn40:6)
  • 7. Thế nào LÀ thực hành pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn — Vị đã đoạn diệt mười hai cấu uế ấy thì đoạn diệt được những cấu uế, tỳ vết, lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ. (SC 9 / mn40:7)
  • 8. Chuỗi hỷ - lạc - định sau khi tâm được gột sạch — Thấy tự ngã được gột sạch và được giải thoát nên hân hoan sanh, hỷ sanh, thân khinh an, lạc thọ sanh, tâm được định tĩnh. (SC 10 / mn40:8)
  • 9. Tu Bốn Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỷ, xả — An trú biến mãn một phương, rồi hai, ba, bốn phương, cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang, với tâm câu hữu với từ, với bi, với hỷ, với xả, quảng đại vô biên, không hận không sân. (SC 11-14 / mn40:9-12)
  • 10. Ví dụ hồ sen và bốn giai cấp — Hồ sen nước trong ngọt mát; người từ bốn phương đến, bị nóng bức khát nước, đều được giải trừ. Cũng vậy, người xuất gia từ gia đình Sát đế lị, Bà-la-môn, Phệ xá hay Thủ đà, đến với Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, tu tập từ bi hỷ xả thì nội tâm được định tĩnh. (SC 15 / mn40:13)
  • 11. Thành Sa-môn nhờ đoạn tận lậu hoặc, và kết kinh — Nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, ngay trong hiện tại tự mình chứng tri, chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát — vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ. (SC 16-17 / mn40:14)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 40.2 (SC 3)
“Samaṇā samaṇāti vo, bhikkhave, jano sañjānāti. Tumhe ca pana ‘ke tumhe’ti puṭṭhā samānā ‘samaṇāmhā’ti paṭijānātha. Tesaṁ vo, bhikkhave, evaṁsamaññānaṁ sataṁ evaṁpaṭiññānaṁ sataṁ: ‘yā samaṇasāmīcippaṭipadā taṁ paṭipajjissāma; evaṁ no ayaṁ amhākaṁ samaññā ca saccā bhavissati paṭiññā ca bhūtā; yesañca mayaṁ cīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjāma, tesaṁ te kārā amhesu mahapphalā bhavissanti mahānisaṁsā, amhākañcevāyaṁ pabbajjā avañjhā bhavissati saphalā saudrayā’ti. Evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ.
—Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỷ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: “Các Ông là ai!” Các Ông phải tự nhận: “Chúng tôi là Sa-môn”. Này các Tỷ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: “Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích”.
“Mendicants, people label you as ascetics. And when they ask you what you are, you claim to be ascetics. Given this label and this claim, you should train like this: ‘We will practice in the way that is proper for an ascetic. That way our label will be accurate and our claim correct. The services of those whose robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick we enjoy shall be very fruitful and beneficial for them. And our going forth will not be barren, but will be fruitful and fertile.’
MN 40.3 (SC 4)
Kathañca, bhikkhave, bhikkhu na samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno hoti? Yassa kassaci, bhikkhave, bhikkhuno abhijjhālussa abhijjhā appahīnā hoti, byāpannacittassa byāpādo appahīno hoti, kodhanassa kodho appahīno hoti, upanāhissa upanāho appahīno hoti, makkhissa makkho appahīno hoti, paḷāsissa paḷāso appahīno hoti, issukissa issā appahīnā hoti, maccharissa macchariyaṁ appahīnaṁ hoti, saṭhassa sāṭheyyaṁ appahīnaṁ hoti, māyāvissa māyā appahīnā hoti, pāpicchassa pāpikā icchā appahīnā hoti, micchādiṭṭhikassa micchādiṭṭhi appahīnā hoti—imesaṁ kho ahaṁ, bhikkhave, samaṇamalānaṁ samaṇadosānaṁ samaṇakasaṭānaṁ āpāyikānaṁ ṭhānānaṁ duggativedaniyānaṁ appahānā ‘na samaṇasāmīcippaṭipadaṁ paṭipanno’ti vadāmi.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.
And how does a mendicant not practice in the way that is proper for an ascetic? Any mendicant who has not given up covetousness, ill will, irritability, acrimony, disdain, contempt, jealousy, stinginess, deviousness, deceit, corrupt wishes, and wrong view is not practicing in the way that is proper for an ascetic, I say. And that is due to not giving up these stains, defects, and dregs of an ascetic, these grounds for rebirth in places of loss, to be experienced in bad places.
MN 40.4 (SC 5)
Seyyathāpi, bhikkhave, matajaṁ nāma āvudhajātaṁ ubhatodhāraṁ pītanisitaṁ. Tadassa saṅghāṭiyā sampārutaṁ sampaliveṭhitaṁ. Tathūpamāhaṁ, bhikkhave, imassa bhikkhuno pabbajjaṁ vadāmi.
Này các Tỷ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỷ-kheo ấy là như vậy.
I say that such a mendicant’s going forth may be compared to the kind of weapon called ‘deadborn’—double-edged, whetted with yellow arsenic—that has been covered and wrapped in an outer robe.
MN 40.5 (SC 6)
Nāhaṁ, bhikkhave, saṅghāṭikassa saṅghāṭidhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, acelakassa acelakamattena sāmaññaṁ vadāmi. Nāhaṁ, bhikkhave, rajojallikassa rajojallikamattena sāmaññaṁ vadāmi … Nāhaṁ, bhikkhave, jaṭilakassa jaṭādhāraṇamattena sāmaññaṁ vadāmi.
Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị lõa thể chỉ tùy thuộc vào lõa thể. Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống thoa bụi và đất chỉ tùy thuộc vào hạnh thoa bụi và đất. … Này các Tỷ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.
I say that you don’t deserve the label ‘outer robe wearer’ just because you wear an outer robe. You don’t deserve the label ‘naked ascetic’ just because you go naked. You don’t deserve the label ‘dust and dirt wearer’ just because you’re caked in dust and dirt. … You don’t deserve the label ‘matted-hair ascetic’ just because you have matted hair.
MN 40.8 (SC 10)
So sabbehi imehi pāpakehi akusalehi dhammehi visuddhamattānaṁ samanupassati. Tassa sabbehi imehi pāpakehi akusalehi dhammehi visuddhamattānaṁ samanupassato pāmojjaṁ jāyati, pamuditassa pīti jāyati, pītimanassa kāyo passambhati, passaddhakāyo sukhaṁ vedeti, sukhino cittaṁ samādhiyati.
Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát. Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.
They see themselves purified from all these bad, unskillful qualities. Seeing this, joy springs up. Being joyful, rapture springs up. When the mind is full of rapture, the body becomes tranquil. When the body is tranquil, they feel bliss. And when blissful, the mind becomes immersed in samādhi.
MN 40.9 (SC 11)
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ, tathā tatiyaṁ, tathā catutthaṁ. Iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati.
Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
MN 40.13 (SC 15)
Seyyathāpi, bhikkhave, pokkharaṇī acchodakā sātodakā sītodakā setakā supatitthā ramaṇīyā. Puratthimāya cepi disāya puriso āgaccheyya ghammābhitatto ghammapareto kilanto tasito pipāsito. So taṁ pokkharaṇiṁ āgamma vineyya udakapipāsaṁ vineyya ghammapariḷāhaṁ …pe… Evameva kho, bhikkhave, khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti, so ca tathāgatappaveditaṁ dhammavinayaṁ āgamma, evaṁ mettaṁ karuṇaṁ muditaṁ upekkhaṁ bhāvetvā labhati ajjhattaṁ vūpasamaṁ.
Này các Tỷ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. … Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.
Suppose there was a lotus pond with clear, sweet, cool water, clean, with smooth banks, delightful. Then along comes a person—whether from the east, west, north, or south—struggling in the oppressive heat, weary, thirsty, and parched. No matter what direction they come from, when they arrive at that lotus pond they would alleviate their thirst and heat exhaustion. In the same way, suppose someone has gone forth from the lay life to homelessness—whether from a family of aristocrats, brahmins, peasants, or menials—and has arrived at the teaching and training proclaimed by a Realized One. Having developed love, compassion, rejoicing, and equanimity in this way they find inner peace. Because of that inner peace they are practicing the way proper for an ascetic, I say.
MN 40.14 (SC 16)
Khattiyakulā cepi agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti. So ca āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati. Āsavānaṁ khayā samaṇo hoti.
Nếu từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc.
And suppose someone has gone forth from the lay life to homelessness—whether from a family of aristocrats, brahmins, peasants, or workers—and they realize the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom. And they live having realized it with their own insight in this very life due to the ending of defilements. They’re an ascetic because of the ending of defilements.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
samaṇaSa-môn — người xuất gia tu hànhChủ đề chính của kinh: danh xưng Sa-môn phải đi đôi với thực hành.
samaṇasāmīcippaṭipadāpháp môn (đạo lộ) xứng đáng bậc Sa-mônHT. Minh Châu dịch là "các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn".
samaṇamala / samaṇadosa / samaṇakasaṭacấu uế cho Sa-môn / tỳ vết cho Sa-môn / lỗi lầm (cặn bã) cho Sa-môn
abhijjhātham dục
byāpādasân hận
kodhaphẫn nộ
upanāhathù hận, hiềm hận
makkhagièm pha, che lấp công đức người khác (Tỳ-kheo Sujato: disdain). Hoà thượng Minh Châu dịch là “giả dối”.
paḷāsangang ngược, tranh đua, xem thường (Tỳ-kheo Sujato: contempt). Hoà thượng Minh Châu dịch là “não hại”; nghĩa đen không phải là làm hại hay quấy nhiễu.
issātật đố, ganh tỵ
macchariyaxan lẩn, bỏn xẻn
sāṭheyyaman trá
māyāxảo trá
pāpikā icchāước muốn xấu ác, ác dục (Tỳ-kheo Sujato: corrupt wishes). Hoà thượng Minh Châu dịch chỗ này là “ái dục”; xin đừng lẫn với taṇhā hay kāma — nghĩa đen chữ Pāli không liên quan tới ái dục.
micchādiṭṭhità kiến
saṅghāṭiđại y (y hai lớp của Tỷ-kheo)
jaṭilavị bện tóc (một hạng tu sĩ khổ hạnh)
mettā / karuṇā / muditā / upekkhātừ / bi / hỷ / xả — Bốn Vô Lượng Tâm
pāmojja, pīti, passaddhi, sukha, samādhihân hoan, hỷ, khinh an, lạc, định — chuỗi nhân duyên đưa tâm đến định tĩnh
āsavānaṁ khayānhờ đoạn diệt các lậu hoặc
cetovimutti / paññāvimuttitâm giải thoát / tuệ giải thoát
Assapuraxóm Ngựa — một xã ấp của dân chúng Anga (Ương già)

Bài kinh mở đầu bằng một lời nhắc rất thẳng. Người đời gọi quý vị là Sa-môn; khi được hỏi, quý vị cũng tự nhận. Vậy hãy tu cho xứng với cái tên ấyđể lời tự nhận là như thật.

Và lý do thứ hai mới nặng. Để của cúng dường của thí chủ có kết quả lớn, và để sự xuất gia không thành vô dụng. Kinh nhắc tới người cúng dường, không chỉ nhắc tới người tu.

Rồi Ngài kể ra mười hai cấu uế còn nguyên trong tâm. Tham dục, sân hận, phẫn nộ, hiềm hận, giả dối, não hại, tật đố, xan lẩn, man trá, xảo trá, ái dục, tà kiến.

Ba chữ trong danh sách ấy nên tra lại nghĩa đen. makkha nghĩa đen là gièm pha, che lấp công đức người khác (Hoà thượng dịch "giả dối"). paḷāsangang ngược, tranh đua, xem thường (Hoà thượng dịch "não hại"). pāpikā icchāước muốn xấu ác, ác dục (Hoà thượng dịch "ái dục" — xin đừng lẫn với taṇhā).

Và đây là ví dụ mạnh nhất bài kinh. Sự xuất gia của người còn nguyên mười hai cấu uế ấy ví như một thứ vũ khí hai lưỡi rất sắc bén tên matajađược bọc trong ĐẠI Y.

Xin đọc kỹ chữ "đại y". Không phải bọc trong một cái bao nào — mà bọc trong chính tấm y của người tu. Hiểm nguy giấu ngay dưới lớp áo đáng tin nhất. Bản Việt dịch thoáng thành "được bao lại và bỏ trong bao", làm mất hẳn hình ảnh ấylượt soi lại đã trả về.

Phần trọng tâm là lời cảnh tỉnh về hình thức. Sa-môn hạnh không phải do mang đại y, không phải do lõa thể, không phải do thoa bụi đất, không phải do lễ nghi tắm rửa.

Và Ngài dùng một lối lý luận phản chứng rất sắc. Nếu chỉ cần hình thức mà tâm sạch được, thì bạn bè, bà con, người thân của vị ấy đã có thể làm cho vị ấy thành Sa-môn ngay từ lúc mới sanhchỉ cần khoác cho tấm y.

Rồi tới phần khẳng định: thế nào LÀ xứng đáng. Sau khi tâm được gột sạch mười hai cấu uế, mới tới chuỗi hỷ — lạc — định, rồi tu Bốn Vô Lượng Tâm: từ, bi, hỷ, xả.

Ví dụ hồ sen cuối bài rất đáng nhớ cho đoàn thể. Một hồ nước trong mátngười thuộc bất cứ giai cấp nào đi đến, tắm rửa đều sạch bụi nhơ như nhau. Nước không hỏi ai là ai.

Và câu kết đặt lại định nghĩa. Thành Sa-môn là nhờ đoạn tận lậu hoặckhông nhờ y áo, không nhờ khổ hạnh, không nhờ dòng dõi.

  • "Mặc y là thành người tu." Kinh bác thẳng điều này.
  • "Khổ hạnh càng nhiều càng xứng." Kinh kể lõa thể, thoa bụi trong danh sách bị bác.
  • "Ái dục trong danh sách là tham ái." Chữ Pāli là ác dục, không phải taṇhā.
  • Ngành Oanh. Kể ví dụ hồ sen: ai tắm cũng sạch như nhau.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: mặc áo lam có làm em thành đoàn sinh tốt không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc mười hai cấu uế như một bảng tự kiểm.
  • Vì sao phải tu cho xứng với danh xưng?
  • Mười hai cấu uế gồm những gì?
  • Ví dụ con dao bọc trong đại y dạy điều gì?
  • Thành Sa-môn là nhờ điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.