G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 35
Nhà Luận Chiến Gặp Câu Hỏi Không Trả Lời Được

Tiểu Kinh Saccaka

Cūḷasaccaka Sutta — MN 35 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Saccaka

Saccaka khoe rằng ai tranh luận với ông cũng phải run sợ, toát mồ hôi, "dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy cũng run sợ". Ông rủ năm trăm vị Licchavi đi xem cuộc luận chiến.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 35
  • Nơi chốnVesālī, rừng Đại Lâm, giảng đường Trùng Các
  • Người khơi chuyện — Tôn giả Assaji, một trong năm vị đầu tiên
  • Bài đi cặpMN 36, Đại kinh cùng nhân vật

Tiểu kinh Saccaka (MN 35) ghi lại cuộc đối thoại giữa Thế Tôn và Niganthaputta Saccaka — một nhà luận chiến nổi tiếng ở Vesālī, người tự khoe rằng bất cứ Sa-môn, Bà-la-môn nào tranh luận với ông cũng phải run sợ, toát mồ hôi, "dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy cũng run sợ". Nhân nghe Tôn giả Assaji trình bày lời dạy cốt lõi của Thế Tôn — sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều vô thường và vô ngã; tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã — Saccaka cho đó là "ác tà kiến", liền rủ khoảng năm trăm vị Licchavi vào rừng Ðại Lâm để tranh luận. Saccaka lập luận bằng ví dụ: mọi hạt giống, cây cỏ, mọi công nghiệp nặng nhọc đều nương tựa vào đất; cũng vậy con người lấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm tự ngã mà làm thiện sự hay ác sự. Thế Tôn không bác bỏ suông, mà hỏi lại: một vị vua quán đảnh có quyền hành trong nước mình; vậy nếu "sắc là tự ngã của ta" thì ông có quyền bảo "sắc của tôi phải như thế này, không phải như thế này" chăng? Saccaka im lặng hai lần; đến lần thứ ba, khi thần Dạ xoa Vajirapāṇi cầm chùy sắt cháy đỏ hiện ra trên đầu ông, ông sợ hãi và phải thừa nhận "Thưa không" đối với cả năm uẩn. Thế Tôn dẫn tiếp: cái gì vô thường thì khổ; cái gì vô thường, khổ, biến hoại thì không hợp lý khi quán là "cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Ngài ví lời Saccaka như người tìm lõi cây mà chặt cây chuối, lột hết bẹ cũng không được cả giác cây; và chỉ ra mồ hôi đang chảy trên trán Saccaka trong khi thân Thế Tôn không hề có mồ hôi. Cuối kinh, Thế Tôn dạy hai điều then chốt cho người tu: người đệ tử Thanh văn đoạn nghi, thành tựu vô úy là người thấy như thật với chánh trí tuệ đối với mọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức — quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, xa hay gần — rằng "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"; và bậc A-la-hán do quán như vậy mà chứng vô chấp thủ giải thoát, thành tựu ba pháp vô thượng. Saccaka sám hối, thỉnh Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo thọ trai. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: chấp ngã không bị phá bằng lời hơn thua, mà bằng cách soi lại chính mình — cái gì ta không làm chủ được thì không thể là "ta" hay "của ta"; và người thắng cuộc trong kinh không dùng lời sắc bén để hạ nhục ai, mà vẫn nhận lời mời cơm của người vừa tranh luận với mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: lời khoe khoang của Saccaka tại Vesālī — Thế Tôn ở rừng Ðại Lâm, giảng đường Trùng Các, thành Vesālī. Niganthaputta Saccaka, người ưa luận chiến, tuyên bố không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào đối thoại với ông mà không run sợ, toát mồ hôi nách — dù là một cột trụ vô tình cũng phải run sợ (SC 1–2).
  • 2. Tôn giả Assaji trình bày lời dạy của Thế Tôn — Saccaka gặp Tôn giả Assaji đi khất thực, hỏi Thế Tôn huấn luyện đệ tử thế nào. Tôn giả Assaji đáp bằng công thức: năm uẩn là vô thường, năm uẩn là vô ngã; tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã. Saccaka tỏ ý thất vọng và muốn tranh luận để "đoạn trừ ác tà kiến ấy" (SC 3–6).
  • 3. Saccaka rủ năm trăm Licchavi đi xem cuộc luận chiến — Saccaka đến giảng đường mời khoảng năm trăm vị Licchavi, khoe sẽ kéo tới giật lui Sa-môn Gotama như lực sĩ nắm lông cừu, như người nấu rượu vần thùng rượu, như voi lớn chơi trò phun nước. Hội chúng chia hai ý kiến. Cả đoàn vào Ðại Lâm gặp Thế Tôn đang nghỉ trưa dưới gốc cây (SC 7–17).
  • 4. Ví dụ đất và chủ trương "năm uẩn là tự ngã" — Saccaka hỏi lại Thế Tôn về cách huấn luyện đệ tử và nhận cùng một câu trả lời. Ông đưa ví dụ hạt giống, cây cỏ, công nghiệp nặng nhọc đều y cứ vào đất, để chủ trương: sắc, thọ, tưởng, hành, thức là tự ngã, người ta nương tựa vào đó mà làm thiện sự hay ác sự (SC 18–29).
  • 5. Thế Tôn cật vấn: có quyền hành gì trên năm uẩn? — Thế Tôn hỏi về quyền hành của vua Sát-đế-lị đã làm lễ quán đảnh, rồi hỏi: nếu sắc là tự ngã của ông, ông có quyền bảo "sắc của tôi phải như thế này" không? Saccaka im lặng hai lần. Ðến lần thứ ba, thần Dạ xoa Vajirapāṇi cầm chùy sắt cháy đỏ đứng trên không; Saccaka sợ hãi, tìm sự che chở nơi Thế Tôn và trả lời "Thưa không" đối với cả năm uẩn (SC 30–49).
  • 6. Vô thường – khổ – vô ngã, và ví dụ cây chuối — Thế Tôn dẫn Saccaka qua công thức: sắc (thọ, tưởng, hành, thức) là vô thường, cái gì vô thường là khổ, cái gì vô thường khổ biến hoại thì không hợp lý khi chánh quán là "cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Rồi Thế Tôn nói ví dụ người tìm lõi cây chặt cây chuối mà không được cả giác cây, và chỉ ra mồ hôi đang chảy trên trán Saccaka, còn thân Thế Tôn thì không có mồ hôi (SC 50–65).
  • 7. Ví dụ con cua của Licchavi Dummukha — Licchavi Dummukha thưa ví dụ con cua bị các đứa trẻ chặt gãy hết càng, không lội xuống hồ sen được nữa; cũng vậy mọi khúc thuyết, gian kế, tranh luận của Saccaka đã bị Thế Tôn chặt đứt. Saccaka bảo Dummukha ngừng nói (SC 66–71).
  • 8. Thế nào là Thanh văn đệ tử và thế nào là bậc A-la-hán — Saccaka hỏi: đến mức độ nào một đệ tử Thanh văn tuân phụng giáo điển, nghi ngờ được đoạn trừ, thành tựu vô úy? Và đến mức độ nào một Tỷ-kheo là bậc A-la-hán? Thế Tôn dạy: thấy như thật với chánh trí tuệ đối với mọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức — quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần — rằng "cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"; bậc A-la-hán do đó chứng được vô chấp thủ giải thoát và thành tựu ba pháp vô thượng: Kiến vô thượng, Ðạo vô thượng, Giải thoát vô thượng (SC 72–75).
  • 9. Saccaka sám hối và cúng dường trai tăng — Saccaka nhận mình lỗ mãng, khinh suất, nói có thể an toàn khi chiến đấu với voi điên, lửa hừng, rắn độc, nhưng không thể an toàn khi chống lại Thế Tôn; ông thỉnh Thế Tôn và chúng Tỷ-kheo thọ trai. Sau bữa ăn, ông hồi hướng công đức cho những người bố thí; Thế Tôn phân biệt công đức đối với người đáng cúng dường còn tham sân si và đối với bậc không còn tham sân si (SC 76–85).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 2 (Pāli/Anh: mn35:2.3–2.4)
nāhaṁ taṁ passāmi samaṇaṁ vā brāhmaṇaṁ vā, saṅghiṁ gaṇiṁ gaṇācariyaṁ, api arahantaṁ sammāsambuddhaṁ paṭijānamānaṁ, yo mayā vādena vādaṁ samāraddho na saṅkampeyya na sampakampeyya na sampavedheyya, yassa na kacchehi sedā mucceyyuṁ. Thūṇaṁ cepāhaṁ acetanaṁ vādena vādaṁ samārabheyyaṁ, sāpi mayā vādena vādaṁ samāraddhā saṅkampeyya sampakampeyya sampavedheyya.
Ta không thấy một Sa-môn hay một Bà-la-môn nào, là vị Hội chủ, là vị Giáo trưởng, vị Sư trưởng Giáo hội, dầu tự cho là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, khi đối thoại với ta, không ai là không run sợ, không hoảng sợ, không khiếp sợ, không ai là không toát mồ hôi nách. Dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy khi đối thoại với ta cũng run sợ, cũng hoảng sợ, cũng khiếp sợ, huống nữa là một người thường.
I don't see any ascetic or brahmin who would not shake and rock and tremble, sweating from the armpits, were I to take them on in debate—not a leader of an order or a community, or the tutor of a community, and not even one who claims to be a perfected one, a fully awakened Buddha. Even an insentient post would shake and rock and tremble were I to take it on in debate.
SC 5 và SC 22 (Pāli/Anh: mn35:4.3–4.5)
rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ, vedanā aniccā, saññā aniccā, saṅkhārā aniccā, viññāṇaṁ aniccaṁ. Rūpaṁ, bhikkhave, anattā, vedanā anattā, saññā anattā, saṅkhārā anattā, viññāṇaṁ anattā. Sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattā’ti.
Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường, thọ là vô thường, tưởng là vô thường, hành là vô thường, thức là vô thường. Này các Tỷ-kheo, sắc là vô ngã, thọ là vô ngã, tưởng là vô ngã, hành là vô ngã, thức là vô ngã. Tất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngã.
Form, feeling, perception, choices, and consciousness are impermanent. Form, feeling, perception, choices, and consciousness are not-self. All conditions are impermanent. All things are not-self.
SC 37 (Pāli/Anh: mn35:13.12–13.13)
byākarohi dāni, aggivessana, na dāni te tuṇhībhāvassa kālo. Yo koci, aggivessana, tathāgatena yāvatatiyaṁ sahadhammikaṁ pañhaṁ puṭṭho na byākaroti, etthevassa sattadhā muddhā phalatī”ti.
Này Aggivessana, nay Ông phải trả lời. Nay không phải lúc Ông giữ im lặng nữa. Này Aggivessana, ai được Như Lai hỏi đến lần thứ ba một câu hỏi hợp lý mà không trả lời, thời đầu của người ấy sẽ bị bể ra làm bảy mảnh tại chỗ.
“Answer now, Aggivessana. Now is not the time for silence. If anyone fails to answer when asked a legitimate question three times by the Realized One, their head explodes into seven pieces there and then.”
SC 50–55 (Pāli/Anh: mn35:20.4–20.11 — xin lưu ý mn35:19 là đoạn hỏi về quyền hành đối với THỨC, không phải đoạn tam pháp ấn)
—Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường? —Vô thường, Tôn giả Gotama. —Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ hay lạc? —Là khổ, Tôn giả Gotama. —Cái gì vô thường, khổ, biến hoại; có hợp lý chăng khi chánh quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”? —Thưa không, Tôn giả Gotama.
“Is form permanent or impermanent?” — “Impermanent.” — “But if it's impermanent, is it suffering or happiness?” — “Suffering.” — “But if it's impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus: ‘This is mine, I am this, this is my self’?” — “No.”
SC 62 (Pāli/Anh: mn35:21.2)
yo nu kho dukkhaṁ allīno dukkhaṁ upagato dukkhaṁ ajjhosito, dukkhaṁ ‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’ti samanupassati, api nu kho so sāmaṁ vā dukkhaṁ parijāneyya, dukkhaṁ vā parikkhepetvā vihareyyā”ti?
Này Aggivessana, Ông nghĩ thế nào? Ai ái luyến khổ, chấp trước khổ, tham đắm khổ, quán khổ và nói: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Người ấy có thể liễu tri cái khổ của tự mình hay có thể sống trừ diệt khổ không?
Consider someone who resorts, draws near, and clings to suffering, regarding it thus: ‘This is mine, I am this, this is my self.’ Would they be able to completely understand suffering themselves, or live having wiped out suffering?
SC 64 (Pāli/Anh: mn35:22.2–22.4)
So tattha passeyya mahantaṁ kadalikkhandhaṁ ujuṁ navaṁ akukkukajātaṁ. Tamenaṁ mūle chindeyya, mūle chetvā agge chindeyya, agge chetvā pattavaṭṭiṁ vinibbhujeyya. So tattha pattavaṭṭiṁ vinibbhujanto pheggumpi nādhigaccheyya, kuto sāraṁ?
Này Aggivessana, như một người muốn được lõi cây, tìm cầu lõi cây, đi chỗ này chỗ kia tìm kiếm lõi cây. Người ấy cầm một cái búa sắc bén, đi vào rừng. Người ấy có thể thấy ở đây thân một cây chuối lớn thẳng đứng, còn trẻ, không có khúc đốt. Người ấy có thể chặt gốc cây ấy. Sau khi chặt gốc cây, người ấy chặt ngọn cây. Sau khi chặt ngọn cây, người ấy có thể lột ra các lá cuộn tròn. Nhưng khi lột ra các lá cuộn tròn, người ấy không tìm được giác cây, còn nói gì đến lõi cây. Cũng vậy này Aggivessana, khi được Ta hỏi, Ta cật vấn, Ta chất vấn về những lời của Ông, Ông đã tự tỏ ra trống rỗng, trống không, thất bại.
There they'd see a big banana trunk, straight and young and grown unskewed. They'd cut it down at the base, cut off the top, and unroll the coiled sheaths. But they wouldn't even find sapwood, much less heartwood.
SC 74 (Pāli/Anh: mn35:25.2)
Idha, aggivessana, bhikkhu yaṁ kiñci rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādā vimutto hoti;
Ở đây, này Aggivessana, Tỷ-kheo đối với bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các sắc pháp, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, chứng được vô chấp thủ giải thoát.
It's when a mendicant truly sees any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ And having seen this with right understanding they're freed by not grasping.
SC 75 (Pāli/Anh: mn35:26.2–26.4)
dassanānuttariyena, paṭipadānuttariyena, vimuttānuttariyena. Evaṁ vimuttacitto kho, aggivessana, bhikkhu tathāgataññeva sakkaroti garuṁ karoti māneti pūjeti—buddho so bhagavā bodhāya dhammaṁ deseti, danto so bhagavā damathāya dhammaṁ deseti, santo so bhagavā samathāya dhammaṁ deseti, tiṇṇo so bhagavā taraṇāya dhammaṁ deseti, parinibbuto so bhagavā parinibbānāya dhammaṁ desetī”ti.
Với tâm giải thoát như vậy, này Aggivessana, Tỷ-kheo thành tựu ba pháp vô thượng: Kiến vô thượng, Ðạo vô thượng, Giải thoát vô thượng. Ðược giải thoát như vậy, này Aggivessana, vị ấy chỉ kính lễ, tôn trọng, đảnh lễ, cúng dường Như Lai: “Thế Tôn đã giác ngộ, Ngài thuyết pháp để giác ngộ. Thế Tôn đã điều phục, Ngài thuyết pháp để điều phục. Thế Tôn đã tịch tĩnh, Ngài thuyết pháp để tịch tĩnh. Thế Tôn đã vượt qua, Ngài thuyết pháp để vượt qua. Thế Tôn đã chứng Niết-bàn, Ngài thuyết pháp để chứng Niết-bàn”.
…unsurpassable seeing, practice, and freedom. They honor, respect, esteem, and venerate only the Realized One: ‘The Blessed One is awakened, tamed, serene, crossed over, and quenched. And he teaches Dhamma for awakening, self-control, serenity, crossing over, and extinguishment.’
SC 77 (Pāli/Anh: mn35:27.2)
mayameva, bho gotama, dhaṁsī, mayaṁ pagabbā, ye mayaṁ bhavantaṁ gotamaṁ vādena vādaṁ āsādetabbaṁ amaññimha.
Tôn giả Gotama, chúng tôi thật là lỗ mãng, chúng tôi thật là khinh suất. Chúng tôi đã dám nghĩ dùng lời nói để luận chiến với Tôn giả Gotama! Này Tôn giả Gotama, rất có thể còn có sự an toàn cho một người chiến đấu với con voi điên, nhưng không thể có sự an toàn cho một người chiến đấu chống Tôn giả Gotama!
Worthy Gotama, it was rude and impudent of me to imagine I could attack you in debate.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aniccavô thườngCâu kinh: "sắc là vô thường, thọ là vô thường…" (SC 5, SC 22).
anattāvô ngãKhông có một tự ngã (attā) làm chủ trong năm uẩn. Chủ đề trung tâm của bài kinh này.
attātự ngã, cái taChủ trương của Saccaka: "Sắc là tự ngã của ta…" (SC 27).
dukkhakhổ"Cái gì vô thường thì cái ấy là khổ" (SC 52-53).
khandha (pañcakkhandhā)uẩn, năm uẩn: sắc – thọ – tưởng – hành – thứcrūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇa.
sabbe saṅkhārā aniccā, sabbe dhammā anattātất cả hành là vô thường, tất cả pháp là vô ngãCâu tóm kết được tụng đọc nhiều nhất trong bài kinh (SC 5, SC 22).
etaṁ mama, esohamasmi, eso me attācái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôiBa cách chấp thủ; thể phủ định "netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā" là công thức quán chiếu (SC 72, SC 74).
yathābhūtaṁ sammappaññāyathấy như thật với chánh trí tuệ
anupādā vimuttavô chấp thủ giải thoát; giải thoát do không chấp thủÐịnh nghĩa bậc A-la-hán trong kinh này (SC 74).
arahantA-la-hán"các lậu hoặc đã tận… đã đặt gánh nặng xuống… được chánh trí giải thoát" (SC 73).
āsavalậu hoặc"các lậu hoặc đã tận" (khīṇāsava).
bhavasaṁyojanahữu kiết sửSợi dây trói buộc vào tái sinh; A-la-hán đã đoạn trừ (SC 73).
anuttariya (ba pháp vô thượng)Kiến vô thượng (dassanānuttariya), Ðạo vô thượng (paṭipadānuttariya), Giải thoát vô thượng (vimuttānuttariya)SC 75.
Nigaṇṭha / NigaṇṭhaputtaNi-kiền-tử, người theo phái Ni-kiền (Kỳ-na giáo)Saccaka Nigaṇṭhaputta là nhân vật chính đối thoại.
Aggivessanatên dòng họ của SaccakaThế Tôn luôn gọi ông bằng tên dòng họ này.
Licchavīdân tộc Licchavi ở VesālīKhoảng năm trăm vị Licchavi chứng kiến cuộc đàm luận.
Vajirapāṇi (yakkha)thần Dạ xoa Kim Cang Thủ, tay cầm chùy sắtSC 38.
Mahāvana – Kūṭāgārasālārừng Ðại Lâm – giảng đường Trùng CácNơi thuyết kinh, tại Vesālī.
sāvakaThanh văn, đệ tử nghe pháp
dakkhiṇā / dakkhiṇeyyavật bố thí cúng dường / bậc đáng được cúng dườngÐoạn kết bàn về công đức của sự cúng dường (SC 84-85).

Bài kinh bắt đầu bằng một lời khoe rất kêu. Saccaka nói không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào tranh luận với ông mà không run sợ, toát mồ hôi nách"dầu ta có đối thoại với một cột trụ vô tình, cột trụ ấy cũng run sợ".

Chuyện nổ ra vì một câu tóm tắt. Tôn giả Assaji trình bày lời dạy cốt lõi: năm uẩn vô thường, vô ngã; tất cả hành vô thường, tất cả pháp vô ngã. Saccaka cho đó là "ác tà kiến".

Lập luận của Saccaka nghe rất thuận tai. Mọi hạt giống, cây cỏ, mọi công nghiệp nặng nhọc đều nương tựa vào đất. Cũng vậy, con người lấy năm uẩn làm tự ngã mà làm thiện, làm ác. Không có nền thì không có gì đứng được.

Thế Tôn không bác bỏ suông. Ngài hỏi lại một câu rất đời: một vị vua quán đảnh có quyền hành trong nước mình — muốn phạt ai thì phạt, thưởng ai thì thưởng. Vậy nếu "sắc là tự ngã của ta", ông có quyền bảo "sắc của tôi phải như thế này, không phải như thế này" chăng?

Đây là chỗ hay nhất của bài kinh. Đã gọi là "của ta" thì phải sai khiến được. Cái gì ta không sai khiến được thì gọi là "của ta" bằng cách nào? Câu hỏi ấy ai cũng tự hỏi mình được, ngay bây giờ.

Saccaka im lặng — hai lần. Đến lần thứ ba, thần Dạ-xoa Vajirapāṇi cầm chùy sắt cháy đỏ hiện ra trên đầu ông. Ông sợ hãi và phải thừa nhận.

Xin thưa một chỗ chúng tôi đã sửa trên trang này. Ở ô trích ấy, câu tiếng Việt là lời Thế Tôn, nhưng phần Pāli và tiếng Anh của bản nháp lại là lời của thần Dạ-xoa ở đoạn kế tiếp. Lượt soi lại bắt được; nay đã thay đúng và ghi rõ.

Rồi tới chuỗi vô thường – khổ – vô ngã. Sắc là thường hay vô thường? — Vô thường. Cái gì vô thường là khổ hay lạc? — Là khổ. Cái gì vô thường, khổ, biến hoại, có hợp lý chăng khi quán "cái này là tôi"?Thưa không.

Và ví dụ cây chuối khép lại cuộc tranh luận. Người tìm lõi cây chặt một thân chuối to, thẳng, mới, chặt gốc, chặt ngọn, lột bẹ ralột mãi mà không gặp lõi. Lập luận của Saccaka cũng vậy: bóc hết lớp này lớp khác, bên trong trống không.

Kết cục rất đẹp và rất người. Saccaka thưa: "chúng tôi thật là lỗ mãng, chúng tôi thật là khinh suất" — rồi cúng dường trai tăng. Người mở đầu bằng lời khoe khoang kết thúc bằng lời xin lỗi.

  • "Phật thắng nhờ thần Dạ-xoa doạ." Ngài thắng bằng câu hỏi; Saccaka đã bí từ trước.
  • "Vô ngã nghĩa là không có gì." Kinh hỏi về quyền hành, không nói năm uẩn không có.
  • "Saccaka bị làm nhục." Ông tự nhận lỗiđược nhận cúng dường.
  • Ngành Oanh. Cho các em lột thử một bẹ chuối tìm lõi.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: em có bảo được thân em đừng bệnh không?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm Kinh Vô Ngã Tướng — cùng một chuỗi câu hỏi.
  • Saccaka lập luận bằng ví dụ gì?
  • Thế Tôn hỏi lại bằng câu hỏi nào?
  • Ví dụ cây chuối dạy điều gì?
  • Cuộc tranh luận kết thúc ra sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.