G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 34
Bên Bờ Sông Hằng · Cả Đàn Đều Qua Được

Tiểu Kinh Người Chăn Bò

Cūḷagopālaka Sutta — MN 34 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Người Chăn Bò

Thế Tôn đứng bên bờ sông Hằng và lấy chính dòng sông trước mặt làm ví dụ: hai người chăn bò, một vô trí một có trí. Rồi Ngài đối chiếu từng loại bò với từng hạng hành giả — và cả đàn đều qua được.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 34
  • Nơi chốn — giữa các bộ lạc Vajjī, tại Ukkacelā, trên bờ sông Hằng
  • Bài đi cặpMN 33, Đại kinh cùng hình ảnh
  • Kết bàiba bài kệ về cửa bất tử đã mở

Tiểu kinh Người chăn bò (MN 34) được Thế Tôn thuyết khi Ngài ở giữa các bộ lạc Vajjī, tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng. Lấy ngay dòng sông trước mặt làm ví dụ, Ngài kể hai câu chuyện đối nghịch. Chuyện thứ nhất: một người chăn bò ở Magadha vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, không chịu quán sát bờ bên này và bờ bên kia, cứ lùa cả đàn bò qua sông tại chỗ không thể lội được. Đàn bò xô nhau giữa dòng và gặp tai nạn. Thế Tôn dạy: cũng vậy, có những Sa-môn, Bà-la-môn không khéo biết đời này, đời sau, không khéo biết ma giới và tử thần giới; ai nghe theo và tin họ thì sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài. Chuyện thứ hai: một người chăn bò có trí, sau khi quán sát kỹ cả hai bờ, đưa đàn bò qua tại chỗ có thể lội được, và đưa theo thứ tự - trước hết những con bò đực già đầu đàn, rồi những con bò đực lớn mạnh đã được huấn luyện, rồi bò đực con và bò cái con lớn, rồi bò con nhỏ còn bú; cuối cùng cả con bò con mới sanh, nhờ chạy theo mẹ vừa chạy vừa kêu, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn. Phần cốt lõi của kinh là lời đối chiếu: mỗi loại bò tượng trưng cho một hạng người vượt qua dòng sông của Ma vương. Bò đầu đàn là bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc, đặt gánh nặng xuống, giải thoát nhờ chánh trí. Bò lớn mạnh đã huấn luyện là bậc đoạn năm hạ phần kiết sử, hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đấy (Bất lai). Bò con lớn là bậc Nhất lai. Bò con còn bú là bậc Dự lưu. Con bò mới sanh chạy theo mẹ là những vị tùy pháp hành, tùy tín hành - dù còn non yếu nhưng nương theo Chánh pháp thì vẫn qua bờ an toàn. Đây là điểm rất ấm áp cho đoàn sinh: không ai bị bỏ lại. Thế Tôn kết luận rằng chính Ngài khéo biết đời này và đời sau, khéo biết ma giới, tử thần giới; ai tin nghe nơi Ngài sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài. Kinh kết bằng bài kệ: cửa bất tử đã rộng mở, dòng Ma đã bị chặt ngang, hãy sống sung mãn hỷ và đạt an ổn Niết-bàn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở giữa các bộ lạc Vajjī (Bạt-kỳ) tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng, gọi các Tỷ-kheo và thuyết giảng (SC 1-3).
  • Ví dụ người chăn bò vô trí — Người chăn bò ở Magadha vô trí, không quán sát hai bờ sông Hằng, lùa đàn bò qua chỗ không thể lội được; đàn bò xô nhau giữa dòng và gặp tai nạn (SC 4).
  • Áp dụng: Sa-môn, Bà-la-môn không khéo biết — Cũng vậy, những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, đời sau, ma giới, phi ma giới, tử thần giới, phi tử thần giới; ai nghe và tin họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài (SC 5).
  • Ví dụ người chăn bò có trí — Người chăn bò có trí quán sát cả hai bờ, đưa đàn bò qua chỗ có thể lội được, theo thứ tự: bò đực già đầu đàn, bò đực lớn mạnh đã được huấn luyện, bò đực con và bò cái con lớn, bò con nhỏ còn bú, và cuối cùng con bò con mới sanh chạy theo mẹ - tất cả đều qua bờ bên kia an toàn (SC 6).
  • Áp dụng: Sa-môn, Bà-la-môn khéo biết — Ai nghe và tin những vị khéo biết đời này, đời sau, ma giới, tử thần giới thì được hạnh phúc, an lạc lâu dài (SC 7).
  • Năm hạng người vượt dòng Ma vương — Đối chiếu từng loại bò với từng hạng hành giả: bò đực đầu đàn = bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc; bò đực lớn mạnh đã huấn luyện = bậc đoạn năm hạ phần kiết sử, hóa sanh, nhập Niết-bàn tại đấy (Bất lai); bò đực con, bò cái con lớn = bậc Nhất lai; bò con nhỏ còn bú = bậc Dự lưu; con bò mới sanh chạy theo mẹ = bậc tùy pháp hành, tùy tín hành. Tất cả đều lội cắt ngang dòng sông Ma vương và qua bờ bên kia an toàn (SC 8-12).
  • Lời xác chứng của Thế Tôn — Thế Tôn tuyên bố chính Ngài khéo biết đời này, đời sau, ma giới, phi ma giới, tử thần giới, phi tử thần giới; ai nghe và tin nơi Ngài sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài (SC 13).
  • Bài kệ kết thúc — Ba bài kệ: đời này và đời sau được bậc Trí khéo trình bày; bậc Chánh Giác mở rộng cửa bất tử, đạt an ổn Niết-bàn; dòng Ma bị chặt ngang, nát tan hư hoại - hãy sống sung mãn hỷ (SC 14-17).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 1 (mn34:1.2)
ekaṁ samayaṁ bhagavā vajjīsu viharati ukkacelāyaṁ gaṅgāya nadiyā tīre.
Một thời Thế Tôn ở giữa các bộ lạc Vajjī (Bạt-kỳ) tại Ukkacela, trên bờ sông Hằng.
At one time the Buddha was staying in the land of the Vajjis near Ukkacelā on the bank of the Ganges River.
SC 4 (mn34:2.1)
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, māgadhako gopālako duppaññajātiko, vassānaṁ pacchime māse saradasamaye, asamavekkhitvā gaṅgāya nadiyā orimaṁ tīraṁ, asamavekkhitvā pārimaṁ tīraṁ, atittheneva gāvo patāresi uttaraṁ tīraṁ suvidehānaṁ.
Ngày xưa, này các Tỷ-kheo, tại Magadha có người chăn bò vô trí, vào cuối tháng mùa mưa, trong mùa gặt hái, không quan sát bờ bên này sông Hằng, không quan sát bờ bên kia sông Hằng, đuổi đàn bò qua bờ bên kia tại Suvideha, tại chỗ không có thể lội qua được.
Once upon a time, mendicants, there was an unintelligent Magadhan cowherd. In the last month of the rainy season, in autumn, without inspecting the near shore or the far shore, he drove his cattle across a place with no ford on the Ganges River to the northern shore among the Suvidehans.
SC 5 (mn34:3.4)
Evameva kho, bhikkhave, ye hi keci samaṇā vā brāhmaṇā vā akusalā imassa lokassa akusalā parassa lokassa, akusalā māradheyyassa akusalā amāradheyyassa, akusalā maccudheyyassa akusalā amaccudheyyassa, tesaṁ ye sotabbaṁ saddahātabbaṁ maññissanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn không khéo biết đời này, không khéo biết đời sau, không khéo biết ma giới, không khéo biết phi ma giới, không khéo biết tử thần giới, không khéo biết phi tử thần giới, những ai nghĩ rằng cần phải nghe, cần phải tin những vị này, thì họ sẽ gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.
In the same way, there are ascetics and brahmins who are unskilled in this world and the other world, unskilled in Māra's dominion and its opposite, and unskilled in Death's dominion and its opposite. If anyone thinks they are worth listening to and trusting, it will be for their lasting harm and suffering.
SC 6 (mn34:5.9)
Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, vacchako taruṇako tāvadeva jātako mātugoravakena vuyhamāno, sopi tiriyaṁ gaṅgāya sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ agamāsi.
Này các Tỷ-kheo thời xưa ấy có con bò còn nhỏ mới sanh, con bò này nhờ chạy theo con bò mẹ, vừa chạy, vừa kêu, sau khi lội cắt ngang dòng sông Hằng, cũng qua bờ bên kia một cách an toàn.
Once it happened that a baby calf had just been born. Urged on by its mother's lowing, even it managed to breast the stream of the Ganges and safely reach the far shore.
SC 8 (mn34:6.2)
evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū arahanto khīṇāsavā vusitavanto katakaraṇīyā ohitabhārā anuppattasadatthā parikkhīṇabhavasaṁyojanā sammadaññāvimuttā, te tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṅgatā.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, các Tỷ-kheo là những bậc A-la-hán, đã đoạn trừ các lậu hoặc, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích, các hữu kiết sử đã hoàn toàn bị đoạn diệt, đã được giải thoát nhờ chánh trí. Những vị này, sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương, đã qua bờ bên kia một cách an toàn.
are the mendicants who are perfected, who have ended the defilements, completed the spiritual journey, done what had to be done, laid down the burden, achieved their heart's goal, utterly ended the fetter of continued existence, and are rightly freed through enlightenment. Having breasted Māra's stream, they have safely crossed over to the far shore.
SC 12 (mn34:10.2)
evameva kho, bhikkhave, ye te bhikkhū dhammānusārino saddhānusārino, tepi tiriyaṁ mārassa sotaṁ chetvā sotthinā pāraṁ gamissanti.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo tùy pháp hành, tùy tín hành, những vị này sau khi lội cắt ngang dòng sông của Ma vương sẽ qua bờ bên kia một cách an toàn.
are the mendicants who are followers of teachings, followers by faith. They too, having breasted Māra's stream, will safely cross over to the far shore.
SC 13 (mn34:11.1)
Ahaṁ kho pana, bhikkhave, kusalo imassa lokassa kusalo parassa lokassa, kusalo māradheyyassa kusalo amāradheyyassa, kusalo maccudheyyassa kusalo amaccudheyyassa. Tassa mayhaṁ, bhikkhave, ye sotabbaṁ saddahātabbaṁ maññissanti, tesaṁ taṁ bhavissati dīgharattaṁ hitāya sukhāyā”ti.
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khéo biết đối với đời này, khéo biết đối với đời sau, khéo biết đối với ma giới, khéo biết đối với phi ma giới, khéo biết đối với tử thần giới, khéo biết đối với phi tử thần giới. Những ai nghĩ rằng, cần phải nghe, cần phải tin nơi Ta, thì họ sẽ được hạnh phúc, an lạc lâu dài.
Mendicants, I am skilled in this world and the other world, skilled in Māra's dominion and its opposite, and skilled in Death's dominion and its opposite. If anyone thinks I am worth listening to and trusting, it will be for their lasting welfare and happiness.
SC 16-17 (mn34:12.7-12.14)
Sabbaṁ lokaṁ abhiññāya, sambuddhena pajānatā; Vivaṭaṁ amatadvāraṁ, khemaṁ nibbānapattiyā. Chinnaṁ pāpimato sotaṁ, Viddhastaṁ vinaḷīkataṁ; Pāmojjabahulā hotha, Khemaṁ pattattha bhikkhavo”ti.
Bậc Chánh Giác, Trí Giả,
Biết rõ mọi thế giới,
Cửa bất tử rộng mở,
Ðạt an ổn Niết-bàn.

Dòng Ma bị chặt ngang,
Nát tan và hư hoại,
Hãy sống sung mãn hỷ,
Ðạt an ổn Niết-bàn,
(Này các Tỷ-kheo).
Directly knowing the whole world, the Buddha who understands has opened the door to freedom from death, for finding the sanctuary, extinguishment. The Wicked One's stream has been cut, it's blown away and mown down. Be full of joy, mendicants, set your heart on sanctuary!
Chữ PāliNghĩaGhi chú
gopālakangười chăn bòNhân vật ví dụ chính của kinh; duppaññajātiko = vô trí, sappaññajātiko = có trí.
titthabến, chỗ có thể lội qua sôngatitthena = tại chỗ không thể lội qua được.
Māradheyyama giới - lãnh vực của Ma vươngamāradheyya = phi ma giới.
maccudheyyatử thần giới - lãnh vực của Thần Chếtamaccudheyya = phi tử thần giới.
arahanta / khīṇāsavaA-la-hán, bậc đã đoạn trừ các lậu hoặc
pañca orambhāgiya-saṁyojananăm hạ phần kiết sửĐoạn tận năm kiết sử này thì được hóa sanh (opapātika) và nhập Niết-bàn tại đấy - bậc Bất lai.
sakadāgāmīNhất lai - chỉ trở lại đời này một lần nữa
sotāpannaDự lưu - nhập dòng, không còn đọa ác đạo, nhất định đạt đến chánh giác
dhammānusārī / saddhānusārītùy pháp hành / tùy tín hànhHai hạng đang đi vào dòng thánh, ví như con bò con mới sanh chạy theo mẹ.
amatadvāracửa bất tử
nibbānaNiết-bànTrong kệ đi cùng chữ khema = an ổn.
pāmojjahân hoan, hỷ duyệtPāmojjabahulā hotha - Hãy sống sung mãn hỷ.

Chi tiết hay nhất của bài kinh nằm ở chỗ đứng. Thế Tôn đang ở trên bờ sông Hằng — và Ngài lấy ngay dòng sông trước mặt làm ví dụ. Người nghe chỉ cần ngẩng lên là thấy.

Người chăn bò thứ nhất vô trí. Ông không quán sát bờ bên này, không quán sát bờ bên kia, cứ lùa cả đàn qua chỗ không thể lội được. Đàn bò xô nhau giữa dòng và gặp tai nạn.

Chỗ hỏng không phải là thiếu sức — mà là thiếu nhìn. Đàn bò vẫn khoẻ như đàn kia. Chỉ người dẫn đường là khác.

Áp dụng rất thẳng. Có những Sa-môn, Bà-la-môn không khéo biết đời này, đời sau, ma giới, tử thần giới. Ai nghe theo và tin họ thì gặp bất hạnh đau khổ lâu dài.

Người chăn bò thứ hai có trí. Ông quán sát kỹ cả hai bờ, đưa qua chỗ có thể lội được — và đưa theo đúng thứ tự.

Thứ tự ấy mới là chỗ đáng học. Bò đực già đầu đàn đi trước. Rồi bò đực lớn mạnh đã được huấn luyện. Rồi bò đực con và bò cái con lớn. Rồi bò con nhỏ còn bú. Con khoẻ mở đường, con yếu đi sau.

Và câu về con bê mới sanh là câu đẹp nhất bài kinh. Con bò con mới sanh, nhờ chạy theo mẹ, vừa chạy vừa kêu, cũng lội cắt ngang dòng sông Hằng và qua bờ bên kia một cách an toàn.

Rồi Thế Tôn đối chiếu từng loại bò với từng hạng người. Bò đực đầu đàn — bậc A-la-hán. Bò đực đã huấn luyện — bậc Bất lai. Bò con lớn — bậc Nhất lai. Bò con còn bú — bậc Dự lưu. Con bê mới sanh — bậc tùy pháp hành, tùy tín hành.

Đây là chỗ an ủi lớn nhất của bài kinh. Bậc tùy tín hành là người mới chỉ có lòng tin, chưa chứng gì cả. Vậy mà kinh nói rõ: vị ấy cũng qua bờ bên kia một cách an toàn. Cả đàn đều qua được — không con nào bị bỏ lại.

Nhưng xin đọc kỹ điều kiện. Con bê qua được là nhờ chạy theo mẹ. Nó không tự tìm chỗ lội. Người mới học đi được là nhờ đi sau người đi trước.

Và câu kệ cuối rất mạnh. Bậc Chánh Giác mở rộng cửa bất tử; dòng Ma bị chặt ngang, nát tan hư hoại. Hãy sống sung mãn hỷ.

  • "Chỉ bậc thánh mới qua được." Kinh kể cả con bê mới sanh cũng qua.
  • "Có lòng tin là đủ, khỏi cần ai." Con bê qua được nhờ chạy theo mẹ.
  • "Đàn bò kia yếu nên chết." Kinh nói hỏng ở người dẫn, không ở đàn bò.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện con bê nhỏ vừa bơi vừa kêu theo mẹ — các em rất thích.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao con khoẻ phải đi trước?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp để nói về trách nhiệm của người dẫn đoàn.
  • Hai người chăn bò khác nhau ở chỗ nào?
  • Thứ tự đưa đàn qua sông là gì?
  • Con bê mới sanh ứng với hạng người nào?
  • Nhờ đâu con bê qua được?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.