G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 27
Trung Bộ · Dấu Chân Chưa Phải Con Voi

Tiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi

Cūḷahatthipadopama Sutta — MN 27 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Dụ Dấu Chân Voi

Người thợ săn thấy dấu chân voi lớn thì chưa vội kết luận — vì có loài voi cái chân to mà thân nhỏ. Phải thấy tận mắt con voi mới nói được. Đức Phật áp thẳng hình ảnh ấy sang cách ta kết luận về một người tu.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 27
  • Người hỏi — Bà-la-môn Jāṇussoṇi
  • Lượt soi — bài này không tìm thấy lỗi nào
  • Bài đi cặpMN 95DN 28, cùng nói về căn cứ

Bài kinh mở đầu bằng cuộc gặp giữa Bà-la-môn Jānussoni và Du sĩ Pilotika trên đường ra khỏi thành Sāvatthi. Được hỏi vì sao tin tưởng Sa-môn Gotama, Pilotika trả lời bằng một ví dụ: như người săn voi thiện xảo vào rừng, thấy một dấu chân voi lớn thì kết luận ngay "con voi này là con voi lớn"; cũng vậy, ông đã thấy "bốn dấu chân" của Sa-môn Gotama — bốn hạng người bác học biện tài (Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn) đến với ý định chất vấn, nhưng nghe Pháp thoại xong thì không hỏi nổi câu nào, trái lại trở thành đệ tử, có vị còn xuất gia và chứng ngộ. Từ đó ông kết luận Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác. Jānussoni nghe xong liền xuống xe đảnh lễ, rồi đến thuật lại với Thế Tôn. Thế Tôn dạy một điều rất quan trọng: ví dụ ấy "chưa được đầy đủ một cách rộng rãi". Người săn voi thật sự thiện xảo sẽ KHÔNG vội kết luận khi mới thấy dấu chân lớn, vì trong rừng có voi cái lùn thấp cũng dấu chân lớn; thấy thêm vật cao bị cọ xát cũng chưa kết luận, vì có voi cái có ngà; thấy thêm vết ngà cắt chém cũng chưa, vì có voi cái ngà lớn. Chỉ khi đi theo đến cùng, thấy cành cây bị gãy và tận mắt thấy con voi đực, người ấy mới kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn". Áp dụng vào đường tu: Như Lai ra đời, thuyết pháp sơ thiện trung thiện hậu thiện; người nghe sanh tín, xuất gia, giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, đoạn năm triền cái, chứng bốn Thiền, được Túc mạng minh, Thiên nhãn minh. Mỗi bậc ấy Thế Tôn đều gọi là "dấu chân của Như Lai" — nhưng vị Thánh đệ tử vẫn CHƯA đi đến kết luận. Chỉ khi chứng Lậu tận trí, biết như thật Bốn Sự Thật, tâm giải thoát khỏi ba lậu và biết "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành", thì tới mức độ đó vị Thánh đệ tử mới thật sự kết luận về Tam Bảo, và ví dụ dấu chân voi mới đầy đủ. Nghe xong, Jānussoni xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời. Bài học cho Huynh trưởng và đoàn sinh: lòng tin trong đạo Phật là chánh tín — không tin vì ấn tượng bên ngoài, mà phải tự mình đi theo con đường Giới - Định - Tuệ đến chỗ tự thân chứng nghiệm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi tại Sāvatthi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, vườn ông Anāthapiṇḍika. Bà-la-môn Jānussoni sáng sớm ra khỏi thành bằng cỗ xe toàn trắng do ngựa cái kéo, gặp Du sĩ Pilotika (Vacchāyana) từ chỗ Sa-môn Gotama trở về. (SC 1-2)
  • Pilotika nêu ví dụ dấu chân voi và bốn dấu chân của Sa-môn Gotama — Pilotika không dám tự nhận biết trí tuệ của Sa-môn Gotama, nhưng nói: như người săn voi thiện xảo thấy dấu chân voi lớn liền kết luận "Con voi này là con voi lớn"; cũng vậy ông đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama nên kết luận "Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì". (SC 3-10)
  • Bốn dấu chân: Sát-đế-lị, Bà-la-môn, gia chủ, Sa-môn bác học đều quy phục — Bốn hạng người bác học, biện bác "như chia chẻ sợi tóc" soạn sẵn câu hỏi để chất vấn; nhưng khi được Sa-môn Gotama khích lệ bằng Pháp thoại thì không hỏi được, trái lại trở thành đệ tử; riêng hạng Sa-môn thì xin xuất gia và có vị chứng đạt mục đích tối thượng của phạm hạnh. (SC 11-15)
  • Jānussoni đảnh lễ và đến thưa hỏi Thế Tôn — Jānussoni bước xuống xe, chấp tay, ba lần thốt lời cảm hứng "Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác!", rồi đến chỗ Thế Tôn thuật lại toàn bộ câu chuyện. (SC 16)
  • Thế Tôn dạy: ví dụ ấy chưa đầy đủ một cách rộng rãi — Thế Tôn nói ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi, và hứa giảng cho đủ. (SC 17-18)
  • Ví dụ đầy đủ: người săn voi thiện xảo không vội kết luận — Thấy dấu chân lớn — chưa kết luận, vì có voi cái lùn thấp dấu chân lớn; thấy thêm vật cao bị cọ xát — chưa kết luận, vì có voi cái có ngà; thấy thêm vật cao bị ngà cắt chém — chưa kết luận, vì có voi cái ngà lớn; chỉ khi thấy thêm cành cây bị gãy VÀ thấy tận mắt con voi đực đang đi, đứng, ngồi hay nằm, mới kết luận: "Con voi này thật là con voi đực lớn". (SC 19)
  • Như Lai xuất hiện ở đời và người gia chủ nghe Pháp, xuất gia — Mười danh hiệu Như Lai; Ngài thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Người nghe sanh lòng tín ngưỡng, thấy đời sống gia đình đầy triền phược, nên cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia. (SC 20-21)
  • Giới hạnh của vị Tỷ-kheo — Từ bỏ sát sanh, lấy của không cho, phi phạm hạnh; từ bỏ nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói phù phiếm; các giới về ăn một bữa, không xem múa hát, không nhận vàng bạc, voi bò ruộng đất, không buôn bán gian lận. Tri túc với y và bình bát như chim mang theo hai cánh. (SC 22-25)
  • Hộ trì các căn và chánh niệm tỉnh giác — Không nắm giữ tướng chung, tướng riêng khi sáu căn tiếp xúc sáu trần; tỉnh giác trong mọi cử chỉ đi, đứng, ngồi, nằm, ăn uống, nói năng, im lặng. (SC 26-27)
  • Đoạn trừ năm triền cái và bốn Thiền — mỗi bậc là một "dấu chân Như Lai" nhưng chưa đủ để kết luận — Sống chỗ thanh vắng, gột rửa tâm khỏi tham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi. Chứng Thiền thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư. Sau mỗi bậc: "như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận…" (SC 28-32)
  • Túc mạng minh và Thiên nhãn minh — vẫn chưa kết luận — Nhớ nhiều đời sống quá khứ với đại cương và chi tiết; với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy chúng sanh chết đi sanh lại tùy theo hạnh nghiệp. Cả hai đều là dấu chân Như Lai, nhưng vị Thánh đệ tử vẫn không đi đến kết luận. (SC 33-34)
  • Lậu tận trí và giải thoát — mức độ kết luận thật sự — Biết như thật Bốn Sự Thật và bốn điều về lậu hoặc; tâm thoát khỏi dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu; biết "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành…". Tới mức độ này vị Thánh đệ tử mới đi đến kết luận, và ví dụ dấu chân voi mới thật sự đầy đủ một cách rộng rãi. (SC 35-38)
  • Jānussoni quy y Tam Bảo — Bà-la-môn Jānussoni tán thán "Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống…" và xin quy y Phật, Pháp, Tăng, trọn đời quy ngưỡng. (SC 39-40)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 27, đoạn SC 10 (Pāli/Anh: mn27:3.1–3.6)
Seyyathāpi, bho, kusalo nāgavaniko nāgavanaṁ paviseyya. So passeyya nāgavane mahantaṁ hatthipadaṁ, dīghato ca āyataṁ, tiriyañca vitthataṁ. So niṭṭhaṁ gaccheyya: ‘mahā vata bho nāgo’ti. Evameva kho ahaṁ, bho, yato addasaṁ samaṇe gotame cattāri padāni athāhaṁ niṭṭhamagamaṁ: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Này Tôn giả, như một người săn voi thiện xảo vào một khu rừng có voi ở, và thấy một dấu chân voi lớn, dài bề dài và rộng bề ngang. Người đó đi đến kết luận: “Con voi này là con voi lớn”. Cũng vậy, này Tôn giả, tôi đã thấy bốn dấu chân của Sa-môn Gotama và đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, và Tăng chúng khéo hành trì”.
“Suppose that a skilled bull elephant tracker were to enter a bull elephant wood. There he’d see a large elephant’s footprint, long and broad. He would come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’ In the same way, because I saw four footprints of the ascetic Gotama I came to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
MN 27, đoạn SC 17 (Pāli/Anh: mn27:9.5–9.7)
“na kho, brāhmaṇa, ettāvatā hatthipadopamo vitthārena paripūro hoti. Api ca, brāhmaṇa, yathā hatthipadopamo vitthārena paripūro hoti taṁ suṇāhi, sādhukaṁ manasi karohi, bhāsissāmī”ti.
Này Bà-la-môn, ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ một cách rộng rãi. Này Bà-la-môn, với tầm mức như thế nào ví dụ dấu chân voi được đầy đủ một cách rộng rãi? Hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói
“Brahmin, the simile of the elephant’s footprint is not yet completed in detail. As to how it is completed in detail, listen and apply your mind well, I will speak.”
MN 27, đoạn SC 19 (Pāli/Anh: mn27:10.3–10.6)
Yo hoti kusalo nāgavaniko neva tāva niṭṭhaṁ gacchati: ‘mahā vata bho nāgo’ti. Taṁ kissa hetu? Santi hi, brāhmaṇa, nāgavane vāmanikā nāma hatthiniyo mahāpadā, tāsaṁ petaṁ padaṁ assāti.
Nếu người đó là một thợ săn voi thiện xảo, người đó không đi đến kết luận: “Con voi này chắc chắn to lớn”. Vì sao vậy? Này Bà-la-môn, trong rừng voi, có những loại voi cái lùn thấp, có dấu chân lớn, có thể dấu chân này thuộc loại voi này.
A skilled bull elephant tracker does not yet come to the conclusion, ‘This must be a big bull elephant.’ Why not? Because in an elephant wood there are dwarf cow elephants with big footprints, and this footprint might be one of theirs.
MN 27, cuối đoạn SC 19 (Pāli/Anh: mn27:10.21–10.23)
Tañca nāgaṁ passati rukkhamūlagataṁ vā abbhokāsagataṁ vā gacchantaṁ vā tiṭṭhantaṁ vā nisinnaṁ vā nipannaṁ vā. So niṭṭhaṁ gacchati: ‘ayameva so mahānāgo’ti.
Và người đó thấy một con voi đực dưới gốc cây hay ở ngoài trời, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, người đó đi đến kết luận: “Con voi này thật là con voi đực lớn”.
And they see that bull elephant walking, standing, sitting, or lying down at the root of a tree or in the open. Then they’d come to the conclusion, ‘This is that big bull elephant.’
MN 27, đoạn SC 29 (Pāli/Anh: mn27:19.1–19.5)
So ime pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe, vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Na tveva tāva ariyasāvako niṭṭhaṁ gacchati: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti.
Vị ấy từ bỏ năm triền cái làm cho tâm ô uế, làm cho trí tuệ muội lược, ly dục, ly pháp ác bất thiện, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Nhưng vị Thánh đệ tử không đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”.
They give up these five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Then, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, they enter and remain in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. This, brahmin, is that which is called ‘a footprint of the Realized One’ and also ‘a trace of the Realized One’ and also ‘a mark of the Realized One’. But a noble disciple does not yet come to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’
MN 27, đoạn SC 35 (Pāli/Anh: mn27:25.2–25.3)
So ‘idaṁ dukkhan’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ dukkhanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti. ‘Ime āsavā’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavasamudayo’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodho’ti yathābhūtaṁ pajānāti, ‘ayaṁ āsavanirodhagāminī paṭipadā’ti yathābhūtaṁ pajānāti.
Vị ấy biết như thật: “Ðây là Khổ”, biết như thật: “Ðây là Nguyên nhân của khổ”, biết như thật: “Ðây là Khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là Con đường đưa đến khổ diệt”, biết như thật: “Ðây là những lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là nguyên nhân của lậu hoặc”, biết như thật: “Ðây là các lậu hoặc diệt”, biết như thật: “Ðây là con đường đưa đến các lậu hoặc diệt”.
They truly understand: ‘This is suffering’ … ‘This is the origin of suffering’ … ‘This is the cessation of suffering’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of suffering.’ They truly understand: ‘These are defilements’ … ‘This is the origin of defilements’ … ‘This is the cessation of defilements’ … ‘This is the practice that leads to the cessation of defilements.’
MN 27, đoạn SC 37 (Pāli/Anh: mn27:26.1–26.3)
Tassa evaṁ jānato evaṁ passato kāmāsavāpi cittaṁ vimuccati, bhavāsavāpi cittaṁ vimuccati, avijjāsavāpi cittaṁ vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Vị ấy nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữa”.
Knowing and seeing like this, their mind is freed from the defilements of sensuality, desire to be reborn, and ignorance. When they’re freed, they know they’re freed. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’
MN 27, đoạn SC 38 (Pāli/Anh: mn27:26.4–26.7)
Idampi vuccati, brāhmaṇa, tathāgatapadaṁ itipi, tathāgatanisevitaṁ itipi, tathāgatārañjitaṁ itipi. Ettāvatā kho, brāhmaṇa, ariyasāvako niṭṭhaṁ gato hoti: ‘sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho’ti. Ettāvatā kho, brāhmaṇa, hatthipadopamo vitthārena paripūro hotī”ti.
Này Bà-la-môn, như vậy gọi là dấu chân của Như Lai, dấu cọ xát của Như Lai, dấu cắt chém của Như Lai. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, vị Thánh đệ tử đi đến kết luận: “Thế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trì”. Này Bà-la-môn, tới mức độ này, ví dụ dấu chân con voi thật sự được đầy đủ một cách rộng rãi.
This, brahmin, is what is called ‘a footprint of the Realized One’ and also ‘a trace of the Realized One’ and also ‘a mark of the Realized One’. At this point a noble disciple has come to the conclusion, ‘The Blessed One is a fully awakened Buddha. The teaching is well explained. The Saṅgha is practicing well.’ And it is at this point that the simile of the elephant’s footprint has been completed in detail.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
hatthipadopamaví dụ dấu chân voihatthipada = dấu chân voi; upama = ví dụ. "Cūḷa" = nhỏ/tiểu, để phân biệt với Đại kinh Dụ dấu chân voi (MN 28).
niṭṭhaṁ gacchatiđi đến kết luận, đi đến chỗ chắc chắnChữ then chốt của bài kinh. "Neva tāva niṭṭhaṁ gacchati" = "chưa vội đi đến kết luận".
nāgavanikangười săn voi, người theo dấu voiBản Minh Châu dịch "người săn voi thiện xảo" (kusalo nāgavaniko).
tathāgatapadaṁdấu chân của Như LaiĐi kèm tathāgatanisevitaṁ (dấu cọ xát của Như Lai) và tathāgatārañjitaṁ (dấu cắt chém của Như Lai).
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
sammāsambuddho bhagavā, svākkhāto bhagavatā dhammo, suppaṭipanno bhagavato sāvakasaṅghoThế Tôn là bậc Chánh Ðẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo thuyết giảng, Chúng Tăng khéo hành trìCâu kết luận về Tam Bảo, lặp lại nhiều lần suốt bài kinh.
pañca nīvaraṇānăm triền cáitham ái, sân hận, hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá, nghi.
jhānaThiền (định)Bài kinh nêu đủ bốn Thiền: paṭhamaṁ, dutiyaṁ, tatiyaṁ, catutthaṁ jhānaṁ.
vitakka – vicāratầm – tứCó ở Thiền thứ nhất, diệt ở Thiền thứ hai.
āsavalậu hoặcBa lậu: kāmāsava (dục lậu), bhavāsava (hữu lậu), avijjāsava (vô minh lậu).
āsavānaṁ khayañāṇaLậu tận trí — trí biết các lậu hoặc đã đoạn tậnMinh thứ ba, là chỗ vị Thánh đệ tử mới thật sự đi đến kết luận.
pubbenivāsānussatiTúc mạng minh — trí nhớ các đời sống quá khứ
dibbacakkhuthiên nhãn — mắt trời thuần tịnh siêu nhân, thấy chúng sanh sống chết theo nghiệp
indriyasaṁvarahộ trì các căn
sati-sampajaññachánh niệm tỉnh giác
sīlakkhandhagiới uẩnBản Việt: "Thánh giới uẩn".
brahmacariyaphạm hạnh, đời sống thanh tịnh
Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyaSanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không có trở lui đời sống này nữaCông thức chứng A-la-hán.
saraṇaṁ gacchāmicon xin quy y

Bà-la-môn Jāṇussoṇi kể chuyện mình. Ông gặp du sĩ Pilotika, hỏi Sa-môn Gotama có trí tuệ không. Pilotika đáp có, và đưa ra bốn dấu chân voi — bốn hạng người thông thái đến tranh luận mà đều thành đệ tử.

Và Đức Phật nói ngay: bốn dấu ấy chưa đủ. "Ví dụ dấu chân voi như vậy chưa được đầy đủ chi tiết." Người thợ săn giỏi thấy dấu chân dài rộng vẫn chưa kết luận — vì có loài voi cái chân to mà thân nhỏ.

Rồi Ngài kể tiếp từng bước. Thấy thêm vết cọ trên cao? Vẫn chưa. Thấy vết ngà trên cây? Vẫn chưa — có loài voi cái có ngà. Chỉ khi thấy chính con voi ấy — đang đứng, đang đi, dưới gốc cây hay ngoài khoảng trống — thì mới kết luận được.

Chỗ này rất chính xác về cách suy luận. Mỗi dấu hiệu đều làm tăng khả năng, nhưng không dấu hiệu nào đủ để kết luận. Và kinh không bảo bỏ hết dấu hiệu đi — nó nói đi tiếp cho tới chỗ thấy được.

Rồi Ngài áp sang đường tu. Người xuất gia giữ giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, bỏ năm triền cái, chứng bốn thiền, rồi ba minh. Mỗi bậc là một dấu chân voiđáng tin hơn bậc trước, nhưng chưa phải con voi.

Và con voi ở đâu? Chỉ tới lậu tận trí"Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành" — thì bậc Thánh đệ tử mới đi đến kết luận: Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được khéo thuyết, chúng Tăng khéo hành trì. Kết luận đặt ở cuối, không phải ở đầu.

Vì sao bài này rất cần cho ngày nay. Người ta hay kết luận về một vị thầy từ một hai dấu hiệu — nói hay, đông người theo, tướng mạo trang nghiêm. Kinh không nói những dấu ấy vô nghĩa; kinh nói chúng là dấu chân, chưa phải con voi.

Và nó cắt cả hai chiều. Không chỉ chớ vội tin, mà cũng chớ vội bác — người thợ săn vẫn theo dấu, không quay về. Hoài nghi mà bỏ đi thì cũng không tới đâu.

  • “Đừng tin dấu hiệu nào cả.” Người thợ săn vẫn theo dấu — chỉ là chưa kết luận vội.
  • “Bốn hạng người thông thái quy phục là đủ chứng minh.” Đức Phật nói chưa đầy đủ chi tiết.
  • “Chứng thiền là đã tới nơi.” Kinh xếp bốn thiền vẫn là dấu chân.
  • Ngành Oanh. Dấu chân voi — vẽ dấu chân to, hỏi: chắc là voi lớn chưa?
  • Ngành Thiếu. Hỏi: em kết luận về một người từ mấy dấu hiệu?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm MN 95DN 28ba bài cùng một chủ đề: căn cứ.
  • Vì sao dấu chân lớn chưa đủ?
  • Khi nào mới kết luận được?
  • Bốn thiền là dấu chân hay con voi?
  • Vì sao bài này cắt cả hai chiều?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.