G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 28
Trường Bộ · Ông Có Biết Không

Kinh Tự Hoan Hỷ

Sampasādanīya Sutta — DN 28 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Tự Hoan Hỷ

Tôn giả Sāriputtavị đệ tử trí tuệ đệ nhất — nói lời tin tưởng tuyệt đối: không có ai hơn Thế Tôn. Thay vì nhận, Đức Phật vặn lại: ông có biết hết chư Phật ba đời không?

  • Bộ — Trường Bộ, bài 28
  • Nơi chốnNāḷandā, vườn xoài Pāvārika
  • Bài đi cặpMN 95 Caṅkī, về hộ trì sự thật

Kinh Tự Hoan Hỷ (DN 28) được Thế Tôn nói tại Nālandā, trong rừng Pāvārikambavana. Mở đầu, Tôn giả Sāriputta bạch lên một lời tin tưởng rất mạnh: ngài tin rằng ở quá khứ, vị lai và hiện tại không có Sa môn hay Bà-la-môn nào vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ. Ðiều đặc biệt của bài kinh là Ðức Phật không nhận ngay lời tán thán ấy, mà vặn hỏi lại: "Ngươi có dùng tâm của Ngươi biết được tâm của chư Phật quá khứ không? Vị lai không? Hiện tại không?" Ba lần Sāriputta đều thành thật thưa: "Bạch Thế Tôn, không!" Phật liền chỉ ra rằng như vậy lời tuyên bố kia quả là "đại ngôn", là "tiếng rống con sư tử". Ðây là bài học rất quý cho người học Phật: lòng tin phải được xét lại, không được nói vượt quá chỗ mình thật sự biết. Sāriputta không rút lời, mà nêu rõ cơ sở của lòng tin: ngài không có tha tâm trí, nhưng ngài "biết truyền thống về Chánh pháp" (dhammanvaya). Ví như thành trì biên cảnh chỉ có một cửa, người giữ cửa tuy không thấy hết mọi khe hở của tường, nhưng biết chắc mọi sinh vật to lớn ra vào đều phải qua cửa ấy; cũng vậy, chư Phật ba đời đều phải đi qua một con đường: diệt Năm Triền cái, an trú Bốn Niệm xứ, tu Bảy Giác chi, chứng vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Tiếp đó Sāriputta lần lượt nêu mười sáu đề mục "thật là vô thượng" trong giáo pháp Thế Tôn: các thiện pháp, các Nhập xứ, bốn loại nhập thai, ký tâm, kiến định, bảy hạng người, tinh cần, đạo hành, chánh hạnh ngôn ngữ, giới hạnh, sự giảng dạy, giải thoát trí của người khác, thường trú luận, Túc mạng trí, Sanh tử trí và Thần túc thông. Khi bị hỏi có vị nào bằng Thế Tôn, ngài đáp: quá khứ và vị lai thì có, hiện tại thì không, vì hai vị Chánh Ðẳng Giác không thể cùng xuất hiện một thời. Phật xác nhận câu trả lời ấy đúng pháp. Cuối kinh, Tôn giả Udāyi tán thán Như Lai thiểu dục, tri túc mà không tự tỏ lộ, và Phật dạy Sāriputta hãy thường thuyết bài pháp này cho bốn chúng để trừ nghi ngờ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Tiếng rống sư tử của Tôn giả Sāriputta (SC 1–8) — Tại Nālandā, rừng Pāvārikambavana, Tôn giả Sāriputta bạch Thế Tôn rằng ngài tin tưởng không có Sa môn, Bà-la-môn nào ở quá khứ, vị lai, hiện tại vĩ đại hơn Thế Tôn về giác ngộ. Phật vặn hỏi ba lần: ông có dùng tâm mình biết được tâm chư Phật quá khứ, vị lai, hiện tại không? Sāriputta ba lần đáp "Bạch Thế Tôn, không!". Sāriputta liền giải thích: con không có tha tâm trí, nhưng con "biết truyền thống về Chánh pháp" (dhammanvaya), ví như người giữ cửa thành biên cảnh chỉ có một cửa — không thấy hết khe hở, nhưng biết mọi sinh vật to lớn ra vào đều phải qua cửa ấy.
  • 2. Mười sáu đề mục "vô thượng" mà Thế Tôn thuyết giảng (SC 9–48) — Sāriputta lần lượt nêu từng điểm "thật là vô thượng" trong giáo pháp của Thế Tôn, theo đúng thứ tự kinh văn: (1) các thiện pháp (37 phẩm trợ đạo); (2) trình bày các Nhập xứ; (3) bốn loại nhập thai; (4) bốn loại ký tâm sai khác; (5) bốn loại kiến định (dassanasamāpatti); (6) phân loại bảy hạng Người; (7) tinh cần — Bảy Giác chi; (8) bốn loại đạo hành (paṭipadā); (9) chánh hạnh trong ngôn ngữ; (10) giới hạnh của con người; (11) sai biệt trong sự giảng dạy; (12) giải thoát trí của người khác; (13) ba loại Thường trú luận; (14) Túc mạng trí; (15) Sanh tử trí của các loài hữu tình; (16) hai loại Thần túc thông (hữu lậu "không phải Thánh" và vô lậu "bậc Thánh").
  • 3. Bốn Thiền và sự trung đạo của Thế Tôn (SC 49) — Sāriputta xác nhận Thế Tôn đã chứng đạt tất cả những gì một thiện nam tử có lòng tin, tinh tấn có thể đạt được; Ngài không đam mê dục lạc cũng không đam mê khổ hạnh, và có thể an trú dễ dàng trong hạnh phúc hiện tại do bốn Thiền định đem lại.
  • 4. Khi bị hỏi vặn: có vị Phật nào bằng Thế Tôn? (SC 50–54) — Sāriputta trình bày cách mình sẽ trả lời: không ai lớn hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn ở quá khứ hay vị lai; nhưng CÓ những vị A-la-hán Chánh Ðẳng Giác quá khứ và vị lai BẰNG Thế Tôn; còn ở hiện tại thì không — vì "không có trường hợp hai vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cùng xuất hiện ở đời, không trước không sau". Thế Tôn xác nhận Sāriputta đã trả lời thuận pháp, đúng pháp, không ai có thể chỉ trích. [Nói cho đủ: kinh nói không có trường hợp hai vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác cùng xuất hiện trong MỘT thế giới, không trước không sau — chứ không phải nói chung là “không thể cùng xuất hiện”.]
  • 5. Lời tán thán của Tôn giả Udāyi (SC 55–57) — Tôn giả Udāyi tán thán Như Lai thiểu dục, tri túc, nghiêm túc, có đại thần lực đại uy lực mà không tự tỏ lộ — trong khi ngoại đạo chỉ cần thấy mình có một pháp đã "dương cờ gióng trống". Thế Tôn bảo Udāyi hãy ghi nhận điều ấy.
  • 6. Lời dặn cuối và tên gọi của kinh (SC 58–60) — Thế Tôn dạy Sāriputta phải luôn luôn thuyết "pháp phân biệt" này cho bốn chúng, để những ai còn nghi ngờ, ngần ngại đối với Như Lai được diệt trừ nghi ngờ. Vì Sāriputta nói lên lòng hoan hỷ của mình trước Thế Tôn nên bài kinh mang tên "Sampasādanīya — Tự hoan hỷ".

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 28, SC 2 (dn28:1.4)
“evaṁpasanno ahaṁ, bhante, bhagavati, na cāhu na ca bhavissati na cetarahi vijjati añño samaṇo vā brāhmaṇo vā bhagavatā bhiyyobhiññataro yadidaṁ sambodhiyan”ti.
—Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.
"Sir, I have such confidence in the Buddha that I believe there's no other ascetic or brahmin—whether past, future, or present—whose direct knowledge is superior to the Buddha when it comes to awakening."
DN 28, SC 3 (dn28:1.5)
“Uḷārā kho te ayaṁ, sāriputta, āsabhī vācā bhāsitā, ekaṁso gahito, sīhanādo nadito…
- Này Sāriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật là rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: “Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.”
"That's a grand and bold statement, Sāriputta. You've roared a definitive, categorical lion's roar…"
DN 28, SC 3–5 (dn28:1.10, 1.13)
“No hetaṁ, bhante”.
- Bạch Thế Tôn, không!
"No, sir."
DN 28, SC 6 (dn28:1.17)
- Này Sāriputta, hãy xem! Ngươi không có trí tuệ biết được tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai! Vậy sao, này Sāriputta, lời nói của Ngươi tuyên bố thật là đại ngôn, thật là gan dạ.
Well then, Sāriputta, given that you don't comprehend the minds of the Buddhas of the past, future, and present, why do you make such a grand and bold statement…
DN 28, SC 7 (dn28:2.1–2.9)
“Na kho me, bhante, atītānāgatapaccuppannesu arahantesu sammāsambuddhesu cetopariyañāṇaṁ atthi. Api ca me dhammanvayo vidito. Seyyathāpi, bhante, rañño paccantimaṁ nagaraṁ daḷhuddhāpaṁ daḷhapākāratoraṇaṁ ekadvāraṁ…
Bạch Thế Tôn, con không có trí tuệ để được biết tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Bạch Thế Tôn, nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì ở biên cảnh, có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa thành ra vào. Cửa thành có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm, ngăn chận những người lạ, chỉ cho vào những ai quen biết. Người này, trong khi đi tuần tiểu xung quanh thành, có thể không thấy hết các chắp nối và khe hở của tường, nhỏ cho đến một con mèo có thể đi qua được. Nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cửa này.
"Sir, though I don't encompass the minds of Buddhas past, future, and present, still I understand this by inference from the teaching. Suppose there was a king's frontier citadel with fortified embankments, ramparts, and arches, and a single gate… 'Whatever sizable creatures enter or leave the citadel, all of them do so via this gate.'"
DN 28, SC 7 (dn28:2.9–2.11)
Ye te, bhante, ahesuṁ atītamaddhānaṁ arahanto sammāsambuddhā, sabbe te bhagavanto pañca nīvaraṇe pahāya cetaso upakkilese paññāya dubbalīkaraṇe catūsu satipaṭṭhānesu suppatiṭṭhitacittā, satta sambojjhaṅge yathābhūtaṁ bhāvetvā anuttaraṁ sammāsambodhiṁ abhisambujjhiṁsu.
Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả những bậc Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
"All the perfected ones, fully awakened Buddhas—whether past, future, or present—give up the five hindrances, corruptions of the heart that weaken wisdom. Their mind is firmly established in the four kinds of mindfulness meditation. They correctly develop the seven awakening factors. And they awaken to the supreme perfect awakening."
DN 28, SC 49 (dn28:19.1–19.2)
Yaṁ taṁ, bhante, saddhena kulaputtena pattabbaṁ āraddhavīriyena thāmavatā purisathāmena purisavīriyena purisaparakkamena purisadhorayhena, anuppattaṁ taṁ bhagavatā.
Bạch Thế Tôn, những gì có thể đạt được bởi một thiện nam tử có lòng tin, có tinh tấn, có kiên trì bởi sự kiên trì của con người, bởi sự tinh tấn của con người, bởi sự tiến bộ của con người, bởi sự nhẫn nhục của con người, đều được Thế Tôn chứng đạt. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không có đam mê các dục lạc, dục lạc này là đê tiện, hèn hạ, thuộc phàm phu, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích. Thế Tôn cũng không đam mê tu hành khổ hạnh, khổ hạnh này là khổ, không xứng bậc Thánh, không có lợi ích.
"The Buddha has achieved what should be achieved by a faithful gentleman by being energetic and strong, by human strength, energy, vigor, and exertion. The Buddha doesn't indulge in sensual pleasures, which are low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And he doesn't indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless."
DN 28, SC 53 (dn28:19.14–19.20)
“Này Hiền giả, trước mặt Thế Tôn, tôi có nghe nói, từ nơi Ngài tôi có ghi nhận: “Trong thời quá khứ, có vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác bằng Ta về phương diện giác ngộ.” … “Không có trường hợp, không có sự kiện trong một thế giới, hai vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác cùng xuất hiện ở đời, không trước, không sau. Sự kiện như vậy không thể xảy ra”.
(Sujato) "…it's impossible for two perfected ones, fully awakened Buddhas, to arise in the same solar system at the same time."
DN 28, SC 56 (dn28:20.2–20.4)
“acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante, tathāgatassa appicchatā santuṭṭhitā sallekhatā. Yatra hi nāma tathāgato evaṁmahiddhiko evaṁmahānubhāvo, atha ca pana nevattānaṁ pātukarissati.
—Thật là hy hữu, bạch Thế Tôn! Thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn! Như Lai thiểu dục như vậy, tri túc như vậy, nghiêm túc như vậy; trong khi Như Lai có đại thần lực như vậy, có đại uy lực như vậy, mà không tự mình tỏ lộ. Bạch Thế Tôn, nếu có một du sĩ ngoại đạo nào, tự thấy mình chứng được dầu chỉ có một pháp, họ đã dương cờ (gióng trống) lên rồi.
"It's incredible, sir, it's amazing! The Realized One has so few wishes, such contentment, such self-effacement! For even though the Realized One has such power and might, he will not make a display of himself. If the wanderers following other religions were to see even a single one of these qualities in themselves they'd carry around a banner to that effect."
DN 28, SC 59–60 (dn28:21.2–21.5)
“Tasmātiha tvaṁ, sāriputta, imaṁ dhammapariyāyaṁ abhikkhaṇaṁ bhāseyyāsi… Tasmā imassa veyyākaraṇassa sampasādanīyantveva adhivacananti.
—Vậy Sāriputta, Ngươi phải luôn luôn thuyết pháp phân biệt này cho các Tỷ kheo, Tỷ kheo ni, các Nam cư sĩ và các Nữ cư sĩ. Này Sāriputta, nếu có những kẻ ngu nào còn nghi ngờ hay ngần ngại đối với Như Lai, nếu họ được nghe pháp phân biệt này, nghi ngờ hay ngần ngại của họ đối với Như Lai sẽ được diệt trừ. … Như vậy, tôn giả Sāriputta nói lên lòng hoan hỷ của mình đối với Thế Tôn. Do vậy, danh từ “Sam pasàdaniyam, Tự hoan hỷ” được dùng cho câu trả lời này.
"So Sāriputta, you should frequently speak this exposition of the teaching to the monks, nuns, laymen, and laywomen… That's how Venerable Sāriputta declared his confidence in the Buddha's presence. And that's why the name of this discussion is 'Inspiring Confidence'."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sampasādanīyaTự hoan hỷ; làm khởi lên lòng tịnh tínTên kinh; từ gốc pasāda = lòng tin trong sáng. Bản Anh dịch "Inspiring Confidence".
sīhanādaTiếng rống sư tửLời tuyên bố dứt khoát, không sợ hãi. Phật gọi lời Sāriputta là sīhanāda.
dhammanvayaTruyền thống về Chánh pháp; sự suy diễn đúng đắn từ giáo phápĐiểm then chốt của kinh: Sāriputta không có tha tâm trí, nhưng nương dhammanvaya mà biết.
cetopariyañāṇaTha tâm trí — trí biết tâm người khácĐiều Sāriputta thừa nhận mình KHÔNG có đối với chư Phật ba đời.
pañca nīvaraṇāNăm Triền cái
cattāro satipaṭṭhānāBốn Niệm xứ
satta sambojjhaṅgāBảy Giác chi
anuttarā sammāsambodhiVô thượng Chánh Ðẳng Giác
anuttariyaVô thượng — không gì hơn đượcĐiệp khúc suốt kinh: "điểm này thật là vô thượng".
dassanasamāpattiKiến định — bốn loại định có thấy biếtChính bản Việt ghi kèm chữ Pali này (SC 19).
paṭipadāÐạo hành — đường lối tu hànhBốn loại: khổ/lạc kết hợp chứng ngộ chậm/mau. Bản Việt ghi "Paṭipadā = đạo hành".
iddhividhaThần túc thông — các loại thần thôngChia hai: hữu lậu hữu dư y ("không phải Thánh") và vô lậu vô dư y ("bậc Thánh").
pubbenivāsānussatiñāṇaTúc mạng trí — trí nhớ các đời quá khứ
cutūpapātañāṇaSanh tử trí — trí thấy sự sống chết của chúng sanh (Thiên nhãn)
sassatavādaThường trú luận — chủ trương bản ngã và thế giới thường còn
appicchatā, santuṭṭhitā, sallekhatāThiểu dục, tri túc, nghiêm túc (đoạn giảm)Ba đức Tôn giả Udāyi tán thán nơi Như Lai.
dhammapariyāyaPháp môn, bài pháp phân biệtBản Việt dịch là "pháp phân biệt" ở đoạn kết.
tathāgataNhư Lai

Lời của Tôn giả Sāriputta nghe rất đẹp. Ngài nói "tự hoan hỷ tín thành" nơi Thế Tôn: không có ai, trong quá khứ, vị lai hay hiện tại, hơn Thế Tôn về Chánh Đẳng Giác. Đây là lời tán thán từ vị đệ tử trí tuệ bậc nhất.

Và Đức Phật không nhận. Ngài vặn từng câu: ông có biết tâm chư Phật quá khứ không? — Không. Chư Phật vị lai? — Không. Có biết được tâm Ta không? — Không. Vậy sao lại nói lời hùng tráng như vậy?

Chỗ này rất đáng dừng lại. Người nói là bậc A-La-Hán, trí tuệ đệ nhất. Điều được nói ra là đúng. Vậy mà Ngài vẫn hỏi lại. Cái bị hỏi không phải nội dung — mà là căn cứ.

Và Tôn giả Sāriputta trả lời rất khéo. Ngài nhận là không biết tâm chư Phật, nhưng biết theo “pháp loại truyền thống” (dhammanvaya) — nghĩa là suy ra từ những gì tự mình đã thấy và đã kiểm được, như người giữ thành biết chỉ có một cửa ra vào nên biết ai vào ra cũng phải qua đó.

Ví dụ người giữ thành là chỗ hay nhất. Người ấy không thấy hết mọi người, nhưng biết chắc một điều: ai muốn vào ra đều phải qua cửa này. Suy luận có căn cứ khác hẳn với khẳng định không căn cứ.

Vì sao bài này cần cho người dạy đạo. Nó cho thấy: ngay cả lời tán thán đúng cũng phải nói cho đúng căn cứ. Đi thẳng với MN 95: được tin, được nói mình tin — nhưng không được nói mình biết.

Chỗ chúng tôi phải nói cho đủ. Bản tra cứu tóm tắt rằng "hai vị Chánh Đẳng Giác không thể cùng xuất hiện". Kinh nói đủ hơn: không có trường hợp hai vị A-La-Hán Chánh Đẳng Giác cùng xuất hiện trong MỘT thế giới, không trước không sau. Bỏ mấy chữ ấy là đổi hẳn phạm vi khẳng định. Đã sửa.

Và một chỗ về trình bày. Ô trích tiếng Anh còn dính nhãn "(Sujato)" nằm bên trong ô lời kinh — đã bỏ ra ngoài.

  • “Đức Phật khiêm tốn nên từ chối lời khen.” Ngài hỏi về căn cứ, không phải từ chối nội dung.
  • “Sāriputta nói sai.” Điều ngài nói đúng; chỗ được chỉnh là cách nói.
  • “Suy luận thì không đáng tin.” Kinh chấp nhận suy luận có căn cứ — ví dụ người giữ thành.
  • Ngành Oanh. Ví dụ người giữ cửa thành — dễ hình dung.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: em nói "chắc chắn" về điều gì mà chưa tự kiểm?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài nên đọc cùng MN 95. Cả hai nói về chỗ khác nhau giữa tin và biết.
  • Đức Phật hỏi lại điều gì — nội dung hay căn cứ?
  • Pháp loại truyền thống nghĩa là gì?
  • Ví dụ người giữ thành nói gì?
  • Bài này và MN 95 gặp nhau ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.