G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 18
Hý Luận Vọng Tưởng · Nếm Chỗ Nào Cũng Ngọt

Kinh Mật Hoàn

Madhupiṇḍika Sutta — MN 18 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Mật Hoàn

Đây là chỗ giải thích rõ nhất trong tạng kinh về hý luận (papañca) — cái tiến trình biến một cái thấy đơn thuần thành vô số vọng tưởng, tranh cãi và phiền não.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 18
  • Nơi chốnKapilavatthu, vườn Nigrodha; đàm luận ở rừng Đại Lâm
  • Người giảng rộng — Tôn giả Mahākaccāna (Đại Ca-chiên-diên), được Thế Tôn ấn chứng
  • Tên kinh — Tôn giả Ānanda hỏi tên; chính Thế Tôn đặt tên Pháp môn Bánh Mật

Kinh Mật Hoàn là bài kinh nổi tiếng về "hý luận" (papañca) — tiến trình tâm biến một cái thấy đơn thuần thành vô số vọng tưởng, tranh cãi và phiền não. Mở đầu, một người dòng họ Sakka tên Gậy cầm tay đến hỏi Thế Tôn dạy điều gì. Thế Tôn trả lời rằng lời dạy của Ngài là lời dạy khiến người ta "không có tranh luận một ai ở đời", và các tưởng không còn ám ảnh vị Bà-la-môn đã sống không bị dục triền phược, hết nghi ngờ, hết hối quá, không còn tham ái đối với hữu và phi hữu. Người ấy không hiểu, lắc đầu chống gậy bỏ đi. Chiều đó, khi một Tỷ-kheo hỏi lại, Thế Tôn nói vắn tắt: do bất cứ nhân duyên gì mà "một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người", nếu ở đó không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thì chính đó là sự đoạn tận bảy tùy miên (tham, sân, kiến, nghi, mạn, hữu tham, vô minh) và đoạn tận mọi tranh chấp, đấu tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Nói xong Ngài đứng dậy vào tịnh xá, không giải thích rộng. Các Tỷ-kheo tìm đến Tôn giả Mahākaccāna. Ngài trước hết quở nhẹ: đứng trước Thế Tôn mà bỏ qua Ngài, khác nào người tìm lõi cây lại đi tìm nơi cành lá. Rồi Ngài giảng chuỗi nhân duyên trứ danh: do mắt và sắc, nhãn thức khởi lên; ba pháp gặp nhau là xúc; do xúc có thọ; có thọ thì có tưởng; có tưởng thì có suy tầm; có suy tầm thì có hý luận; và từ hý luận ấy, vọng tưởng ám ảnh con người đối với các sắc quá khứ, tương lai, hiện tại — tương tự cho tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Ngài cũng nói chiều thuận và chiều nghịch: có căn - trần - thức thì có xúc, có thọ, có tưởng, có suy tầm, có hý luận; không có căn - trần - thức thì tất cả đều không hiển lộ. Các Tỷ-kheo trình lại, Thế Tôn ấn chứng: "Nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như Mahākaccāna đã trả lời." Tôn giả Ānanda ví bài pháp như người đói lả được bánh mật, nếm chỗ nào cũng ngọt; nhân đó kinh mang tên Pháp môn Bánh Mật.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Gậy cầm tay Sakka hỏi Thế Tôn (SC 1-5) — Thế Tôn trú tại Kapilavatthu, vườn Nigrodharama, khất thực xong vào rừng Ðại Lâm nghỉ trưa dưới gốc beluvalatthika. Gậy cầm tay Sakka đến hỏi quan điểm và lời giảng của Ngài; nghe đáp xong thì lắc đầu, liếm lưỡi, trán nổi ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi.
  • 2. Thế Tôn kể lại cho chư Tỷ-kheo và nói lời dạy vắn tắt (SC 6-11) — Buổi chiều tại vườn Nigrodha, Thế Tôn thuật lại cuộc gặp. Một Tỷ-kheo hỏi lại ý nghĩa; Thế Tôn nói lời dạy vắn tắt về hý luận vọng tưởng và sự đoạn tận bảy tùy miên cùng mọi tranh chấp, rồi đứng dậy vào tịnh xá.
  • 3. Chư Tỷ-kheo tìm đến Tôn giả Mahākaccāna (SC 12-19) — Các Tỷ-kheo bàn nhau ai giải thích rộng được, nghĩ đến Tôn giả Mahākaccāna được Thế Tôn tán dương. Tôn giả nêu ví dụ người tìm lõi cây mà bỏ qua rễ và thân, rồi nhận lời giảng.
  • 4. Mahākaccāna giải thích rộng: tiến trình xúc - thọ - tưởng - suy tầm - hý luận (SC 20-27) — Giảng qua sáu căn: căn và trần làm duyên sanh thức, ba pháp gặp nhau là xúc, do xúc có thọ, có thọ có tưởng, có tưởng có suy tầm, có suy tầm có hý luận; rồi nêu chiều có (sự kiện này xảy ra) và chiều không (sự kiện này không xảy ra).
  • 5. Thế Tôn ấn chứng lời Mahākaccāna (SC 28-30) — Các Tỷ-kheo trình lại với Thế Tôn; Thế Tôn khen Tôn giả Mahākaccāna là bậc Hiền trí, bậc Ðại tuệ, và xác nhận Ngài cũng sẽ trả lời như vậy.
  • 6. Ānanda hỏi tên, Thế Tôn đặt tên: Pháp môn Bánh Mật (SC 31-34) — Tôn giả Ānanda ví pháp môn này như bánh mật đối với người đói lả, nếm chỗ nào cũng được vị ngọt thuần nhất, và hỏi tên pháp môn. Thế Tôn dạy hãy thọ trì tên gọi Pháp môn Bánh Mật (Mật hoàn).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 18.4 (SC 4)
Yathāvādī kho, āvuso, sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇabrāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya na kenaci loke viggayha tiṭṭhati, yathā ca pana kāmehi visaṁyuttaṁ viharantaṁ taṁ brāhmaṇaṁ akathaṅkathiṁ chinnakukkuccaṁ bhavābhave vītataṇhaṁ saññā nānusenti—evaṁvādī kho ahaṁ, āvuso, evamakkhāyī”ti.
Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Māra và Phạm thiên, với các chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, không có tranh luận một ai ở đời; các tưởng sẽ không ám ảnh vị Bà-la-môn sống không bị dục triền phược, không có nghi ngờ do dự, với mọi hối quá đoạn diệt, không có tham ái đối với hữu và phi hữu. Này Hiền giả, như vậy là quan điểm của Ta, như vậy là lời Ta giảng dạy.
“Respectable sir, my doctrine is such that one does not argue with anyone in this world with its gods, Māras, and divinities, this population with its ascetics and brahmins, its gods and humans. And it is such that perceptions do not underlie the brahmin who lives detached from sensual pleasures, without indecision, stripped of worry, and rid of craving for rebirth in this or that state. That is my doctrine, and that is what I assert.”
MN 18.5 (SC 5)
Evaṁ vutte, daṇḍapāṇi sakko sīsaṁ okampetvā, jivhaṁ nillāḷetvā, tivisākhaṁ nalāṭikaṁ nalāṭe vuṭṭhāpetvā daṇḍamolubbha pakkāmi.
Khi nghe nói vậy, Gậy cầm tay Sakka lắc đầu, liếm lưỡi, với trán nổi lên ba đường nhăn, chống gậy rồi đi.
When he had spoken, Daṇḍapāṇi shook his head, waggled his tongue, raised his eyebrows until his brow puckered in three furrows, and left leaning on his staff.
MN 18.8 (SC 10)
Yatonidānaṁ, bhikkhu, purisaṁ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti. Ettha ce natthi abhinanditabbaṁ abhivaditabbaṁ ajjhositabbaṁ. Esevanto rāgānusayānaṁ, esevanto paṭighānusayānaṁ, esevanto diṭṭhānusayānaṁ, esevanto vicikicchānusayānaṁ, esevanto mānānusayānaṁ, esevanto bhavarāgānusayānaṁ, esevanto avijjānusayānaṁ, esevanto daṇḍādānasatthādānakalahaviggahavivādatuvaṁtuvaṁpesuññamusāvādānaṁ. Etthete pāpakā akusalā dhammā aparisesā nirujjhantī”ti.
Này Tỷ-kheo, do bất cứ nhân duyên gì, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người. Nếu ở đây không có gì đáng tùy hỷ, đáng đón mừng, đáng chấp thủ, thời như vậy là sự đoạn tận tham tùy miên, sự đoạn tận sân tùy miên, sự đoạn tận kiến tùy miên, sự đoạn tận nghi tùy miên, sự đoạn tận mạn tùy miên, sự đoạn tận hữu tham tùy miên, sự đoạn tận vô minh tùy miên, sự đoạn tận chấp trượng, chấp kiếm, đấu tranh, tránh tranh, luận tranh, kháng tranh, ly gián ngữ, vọng ngữ. Chính ở đây, những ác, bất thiện pháp này đều được tiêu diệt, không còn dư tàn.
“Mendicant, judgments driven by proliferating perceptions beset a person. If they don’t find anything worth approving, welcoming, or getting attached to in the source from which these arise, just this is the end of the underlying tendencies to desire, aversion, views, doubt, conceit, the desire for continued existence, and ignorance. This is the end of taking up the rod and the sword, the end of quarrels, arguments, and disputes, of accusations, backbiting, and lies. This is where these bad, unskillful qualities cease without remainder.”
MN 18.12 (SC 16)
Seyyathāpi, āvuso, puriso sāratthiko sāragavesī sārapariyesanaṁ caramāno mahato rukkhassa tiṭṭhato sāravato atikkammeva mūlaṁ, atikkamma khandhaṁ, sākhāpalāse sāraṁ pariyesitabbaṁ maññeyya; evaṁsampadamidaṁ āyasmantānaṁ satthari sammukhībhūte, taṁ bhagavantaṁ atisitvā, amhe etamatthaṁ paṭipucchitabbaṁ maññatha.
Chư Hiền, cũng như một người ưa thích lõi cây, tìm tòi lõi cây, đi khắp mọi nơi tìm lõi cây, đến một cây to lớn, đứng thẳng và có lõi cây. Người này bỏ qua rễ, bỏ qua thân cây, nghĩ rằng phải tìm lõi cây ở nơi cành lá. Cũng vậy là hành động của chư Tôn giả, đứng trước mặt Thế Tôn, quý vị bỏ qua Thế Tôn, nghĩ rằng phải hỏi tôi về ý nghĩa này.
“Reverends, suppose there was a person in need of heartwood. And while wandering in search of heartwood he’d come across a large tree standing with heartwood. But he’d pass over the roots and trunk, imagining that the heartwood should be sought in the branches and leaves. Such is the consequence for the venerables. Though you were face to face with the Buddha, you bypassed him, imagining that you should ask me about this matter.”
MN 18.16 (SC 21)
Cakkhuñcāvuso, paṭicca rūpe ca uppajjati cakkhuviññāṇaṁ, tiṇṇaṁ saṅgati phasso, phassapaccayā vedanā, yaṁ vedeti taṁ sañjānāti, yaṁ sañjānāti taṁ vitakketi, yaṁ vitakketi taṁ papañceti, yaṁ papañceti tatonidānaṁ purisaṁ papañcasaññāsaṅkhā samudācaranti atītānāgatapaccuppannesu cakkhuviññeyyesu rūpesu.
Chư Hiền, do nhơn con mắt và các sắc pháp, nhãn thức khởi lên. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc nên có cảm thọ. Những gì có cảm thọ thời có tưởng, những gì có tưởng thời có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận. Do hý luận ấy làm nhơn, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người, đối với các sắc pháp do con mắt nhận thức, quá khứ, tương lai và hiện tại.
“Eye consciousness arises dependent on the eye and sights. The meeting of the three is contact. Contact is a requirement for feeling. What you feel, you perceive. What you perceive, you think about. What you think about, you proliferate. What you proliferate is the source from which judgments driven by proliferating perceptions beset a person. This occurs with respect to sights known by the eye in the past, future, and present.”
MN 18.18 (SC 25)
So vatāvuso, cakkhusmiṁ asati rūpe asati cakkhuviññāṇe asati phassapaññattiṁ paññāpessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Phassapaññattiyā asati vedanāpaññattiṁ paññāpessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Vedanāpaññattiyā asati saññāpaññattiṁ paññāpessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Saññāpaññattiyā asati vitakkapaññattiṁ paññāpessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati. Vitakkapaññattiyā asati papañcasaññāsaṅkhāsamudācaraṇapaññattiṁ paññāpessatīti—netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Chư Hiền, sự kiện này không xảy ra: khi nào không có mắt, khi nào không có các sắc, khi nào không có nhãn thức, sự thi thiết của xúc được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của xúc, sự thi thiết của thọ được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của thọ, sự thi thiết của tưởng được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của tưởng, sự thi thiết của suy tầm được hiển lộ. Sự kiện này không xảy ra: khi nào không có sự thi thiết của suy tầm, thời sự thi thiết của sự ám ảnh một số hý luận vọng tưởng được hiển lộ.
“Where there is no eye, no sights, and no eye consciousness, it will not be possible to discover evidence of contact. Where there is no evidence of contact, it will not be possible to discover evidence of feeling. Where there is no evidence of feeling, it will not be possible to discover evidence of perception. Where there is no evidence of perception, it will not be possible to discover evidence of thinking. Where there is no evidence of thinking, it will not be possible to discover evidence of being beset by judgments driven by proliferating perceptions.”
MN 18.21 (SC 30)
Paṇḍito, bhikkhave, mahākaccāno; mahāpañño, bhikkhave, mahākaccāno. Mañcepi tumhe, bhikkhave, etamatthaṁ paṭipuccheyyātha, ahampi taṁ evamevaṁ byākareyyaṁ yathā taṁ mahākaccānena byākataṁ. Eso cevetassa attho. Evañca naṁ dhārethā”ti.
Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahākaccāna là bậc Hiền trí. Chư Tỷ-kheo, Tôn giả Mahākaccāna là bậc Ðại tuệ. Chư Tỷ-kheo, nếu các Người hỏi Ta ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như Mahākaccāna đã trả lời. Như vậy là chính nghĩa lời dạy ấy, hãy như vậy thọ trì.
“Mahākaccāna is astute, mendicants, he has great wisdom. If you came to me and asked this question, I would answer it in exactly the same way as Mahākaccāna. That is what it means, and that’s how you should remember it.”
MN 18.22 (SC 32-33)
Seyyathāpi, bhante, puriso jighacchādubbalyapareto madhupiṇḍikaṁ adhigaccheyya, so yato yato sāyeyya, labhetheva sādurasaṁ asecanakaṁ. Evameva kho, bhante, cetaso bhikkhu dabbajātiko, yato yato imassa dhammapariyāyassa paññāya atthaṁ upaparikkheyya, labhetheva attamanataṁ, labhetheva cetaso pasādaṁ. Ko nāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti? “Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ madhupiṇḍikapariyāyotveva naṁ dhārehī”ti.
Bạch Thế Tôn, như một người bị đói lả và mệt mỏi, tìm được một bánh mật, cứ mỗi miếng vị ấy được nếm, cứ mỗi miếng vị ấy được thưởng thức vị ngọt thuần nhất. Bạch Thế Tôn, cũng vậy, Tỷ-kheo có tri thức biệt tài, cứ mỗi phần suy tư đến ý nghĩa pháp môn này với trí tuệ, cứ mỗi phần vị ấy được thưởng thức sự hoan hỷ, được thưởng thức sự thoải mái tâm trí. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì? — Do vậy, này Ānanda, pháp môn này được gọi là pháp môn bánh mật (Mật hoàn). Hãy như vậy thọ trì!
“Sir, suppose a person who was weak with hunger was to obtain a honey-cake. Wherever they taste it, they would enjoy a sweet, delectable flavor. In the same way, wherever a sincere, proficient mendicant might examine with wisdom the meaning of this exposition of the teaching they would only gain joy and clarity. Sir, what is the name of this exposition of the teaching?” “Well then, Ānanda, you may remember this exposition of the teaching as ‘The Honey-Cake Discourse’.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
papañcahý luận — sự nhân rộng, thêu dệt của tâmBản HT. Thích Minh Châu dịch là "hý luận"; papañcasaññāsaṅkhā dịch là "hý luận vọng tưởng".
papañcasaññāsaṅkhāhý luận vọng tưởng (những khái niệm phát sinh từ tưởng do hý luận)Sujato: "judgments driven by proliferating perceptions".
anusayatùy miên — khuynh hướng phiền não còn ngủ ngầmKinh nêu bảy: tham, sân (paṭigha), kiến, nghi, mạn, hữu tham, vô minh.
phassaxúc — sự gặp gỡ của căn, trần và thức
vedanāthọ — cảm thọ
saññātưởng — sự nhận biết, tri giác
vitakkasuy tầm — sự suy nghĩ, tầm
viññāṇathức — cái biết phân biệt qua từng căn
paññattithi thiết — sự trình bày, chỉ bày, khái niệm hóaTrong kinh: "sự thi thiết của xúc", "sự thi thiết của thọ"…
bhavābhavahữu và phi hữu — trạng thái tái sanh này hay trạng thái tái sanh khác
madhupiṇḍikabánh mật, mật hoàn — tên bài kinh
dhammapariyāyapháp môn — bài giảng, cách trình bày giáo pháp
MahākaccānaTôn giả Ðại Ca-chiên-diên — bậc đệ nhất về khai triển rộng nghĩa lý vắn tắt
DaṇḍapāṇiGậy cầm tay — một người dòng họ Sakka

Bài kinh mở đầu bằng một cảnh rất đời. Một người dòng họ Sakka tên Gậy cầm tay tới hỏi: "Sa-môn có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì?" Nghe xong, ông lắc đầu, liếm lưỡi, trán nổi ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi. Kinh tả rất kỹ cái mặt khó chịu ấy.

Vì sao ông bỏ đi? Vì câu trả lời của Thế Tôn không phải một lập trường để cãi. Ngài nói lời dạy của Ngài khiến người ta "không có tranh luận một ai ở đời". Người tới để cãi thì không có gì để cầm.

Chiều đó Thế Tôn nói lời dạy vắn tắt — rồi đứng dậy đi vào tịnh xá. Ngài không giải thích rộng. Đây là chi tiết quan trọng: kinh cho thấy Tăng chúng phải tự tìm nhau mà học.

Các Tỷ-kheo tìm tới Tôn giả Mahākaccāna, và ngài quở nhẹ một câu rất hay. Đứng trước Thế Tôn mà bỏ qua Ngài thì khác nào người đi tìm lõi cây lại đi tìm ở cành lá. Rồi ngài vẫn giảng.

Và đây là chuỗi trứ danh của bài kinh. Do mắt và sắc, nhãn thức khởi lên; ba pháp gặp nhau là xúc; do xúc có thọ; có thọ thì có tưởng; có tưởng thì có suy tầm; có suy tầm thì có hý luận.

Xin để ý chỗ ngoặt của chuỗi ấy. Từ xúc tới tưởng thì còn tự nhiên. Nhưng từ suy tầm trở đi thì ta bắt đầu thêm vào — và tới hý luận thì cái thêm vào đã nhiều hơn cái có thật.

Rồi chuỗi ấy quay ngược lại cắn ta. Từ hý luận ấy, vọng tưởng ám ảnh con người đối với các sắc quá khứ, tương lai và hiện tại. Ta không còn thấy cái đang thấy nữa — ta thấy cái ta đã dựng lên.

Tôn giả cũng nói chiều ngược, và chiều ngược mới là lối ra. Không có căn, không có trần, không có thức thì tất cả những thứ kia đều không hiển lộ. Chặt ở gốc, không chặt ở ngọn.

Điều bài kinh dạy rất thực tế. Phần lớn giận hờn, tranh cãi, mất ngủ của ta không nằm ở cái đã xảy ra — chúng nằm ở tầng hý luận chồng lên trên. Bảy tùy miên và mọi tranh chấp đều tiêu diệt ở đúng chỗ ấy.

Và cái tên bài kinh là của Tôn giả Ānanda ví ra. Pháp môn này như bánh mật đối với người đói lảnếm chỗ nào cũng được vị ngọt. Ngài hỏi tên, và chính Thế Tôn dạy thọ trì tên gọi Pháp môn Bánh Mật.

  • "Hý luận là nói giỡn." Papañcasự chồng chất của tưởng, không phải nói đùa.
  • "Phải diệt hết suy nghĩ." Kinh chỉ chỗ không tùy hỷ, không đón mừng, không chấp thủ.
  • "Ānanda đặt tên bài kinh." Ngài hỏi tên; Thế Tôn đặt.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện ông chống gậy bỏ đi — vì sao ông giận?
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể một chuyện giận nhau, rồi tách ra cái đã xảy racái mình thêm vào.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm MN 148 — Kinh Sáu Sáu, cùng chuỗi căn–trần–thức.
  • Vì sao Gậy cầm tay bỏ đi?
  • Chuỗi từ mắt tới hý luận gồm mấy bước?
  • Chỗ nào là chỗ ta bắt đầu thêm vào?
  • Ai đặt tên cho bài kinh này?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.