G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 13
Trung Bộ · Vị Ngọt, Nguy Hiểm, Lối Ra

Đại Kinh Khổ Uẩn

Mahādukkhakkhandha Sutta — MN 13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Khổ Uẩn

Các du sĩ ngoại đạo hỏi vặn: chúng tôi cũng dạy hiểu biết về dục, sắc, thọ — vậy khác gì Sa-môn Gotama? Đức Phật không tranh luận. Ngài đưa ba câu hỏi — và nói: họ sẽ không trả lời được.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 13
  • Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana
  • Ba câu hỏiassāda (vị ngọt), ādīnava (nguy hiểm), nissaraṇa (xuất ly)
  • Ba đề mụccác dục, các sắc pháp, các cảm thọ

Kinh được Thế Tôn thuyết tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika, thành Sāvatthi. Nhân duyên: một số Tỷ-kheo đi khất thực còn sớm nên ghé vườn các Du sĩ ngoại đạo. Các Du sĩ hỏi vặn: "Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục, các sắc pháp, các cảm thọ; chúng tôi cũng vậy — vậy có gì sai khác?" Các Tỷ-kheo không hoan hỷ cũng không chỉ trích, mà về bạch Phật. Thế Tôn dạy cách trả lời: hãy hỏi lại họ ba câu về mỗi đề mục — thế nào là vị ngọt (assāda), thế nào là sự nguy hiểm (ādīnava), thế nào là sự xuất ly (nissaraṇa)? Ngoại đạo không thể trả lời, vì vấn đề này không thuộc khả năng hiểu biết của họ. Rồi Phật lần lượt phân tích ba đề mục theo đúng ba mặt ấy. Về các dục: vị ngọt là lạc hỷ khởi lên do năm pháp tăng trưởng dục (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái). Nguy hiểm thì được minh họa bằng rất nhiều ví dụ đời thường: người làm nghề nghiệp (đếm ngón tay, tính toán, làm ruộng, buôn bán, chăn bò, bắn cung, làm công cho vua) phải chịu lạnh, nóng, ruồi muỗi, đói khát; làm mà không được của thì khóc than đấm ngực; được của thì lo giữ, sợ vua chúa, trộm cướp, lửa, nước, kẻ thừa tự không xứng đáng cướp mất — và cuối cùng vẫn mất. Rồi tranh đoạt giữa vua với vua, mẹ với con, cha với con, anh em, bạn bè; chiến trận với cung tên, đao kiếm; trộm cướp bị vua bắt và hành hình đủ cách; sau cùng là ác hạnh về thân, lời, ý đưa đến đọa xứ, địa ngục. Xuất ly các dục là sự điều phục và đoạn trừ dục tham đối với các dục. Về các sắc pháp: vị ngọt là lạc hỷ y cứ sắc đẹp mỹ diệu của một thiếu nữ mười lăm, mười sáu tuổi. Nguy hiểm là chính người ấy về sau già tám chín mươi tuổi, lưng còm chống gậy; rồi bệnh nằm trong phân tiểu của mình; rồi tử thi ngoài nghĩa địa trương phồng, bị quạ diều ăn, còn bộ xương, cuối cùng thành bột. Về các cảm thọ: vị ngọt là bốn Thiền, nơi vị ấy không nghĩ đến tự hại, hại người, hại cả hai — "tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ". Nguy hiểm là các cảm thọ vô thường, khổ, biến hoại. Xuất ly cũng là đoạn trừ dục tham đối với các cảm thọ. Kết: chỉ ai như thật tuệ tri đủ ba mặt mới có thể tự hiểu biết hoàn toàn và đặt người khác vào địa vị tương tự. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: câu hỏi của các Du sĩ ngoại đạo — Đoạn [1]–[6]: Tại Sāvatthi, các Tỷ-kheo ghé vườn Du sĩ ngoại đạo; ngoại đạo hỏi có sự đặc thù, dị biệt, sai khác nào giữa Sa-môn Gotama và họ về thuyết pháp, giáo huấn. Các Tỷ-kheo không hoan hỷ cũng không chỉ trích, về thuật lại với Thế Tôn.
  • Thế Tôn dạy câu hỏi ngược lại: vị ngọt — nguy hiểm — xuất ly — Đoạn [7]: Hãy hỏi ngoại đạo thế nào là vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly của các dục, các sắc pháp, các cảm thọ. Họ không thể trả lời vì không thuộc khả năng hiểu biết của họ; chỉ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này mới trả lời được.
  • Các dục (kāma): vị ngọt — Đoạn [8]: Năm pháp tăng trưởng dục — sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái khả lạc khả ý khả hỷ; lạc hỷ khởi lên y cứ vào đó là vị ngọt các dục.
  • Các dục: sự nguy hiểm — nhiều ví dụ đời thường — Đoạn [9]–[16]: nghề nghiệp cực nhọc chịu nóng lạnh đói khát; nỗ lực mà không được tài sản nên khóc than; được tài sản thì khổ vì lo giữ rồi vẫn mất; tranh đoạt trong gia đình và xã hội; chiến trận; công phá thành quách; trộm cướp bị vua hành hình; ác hạnh thân-khẩu-ý đưa đến đọa xứ địa ngục.
  • Các dục: sự xuất ly, và kết luận về các dục — Đoạn [17]–[18]: xuất ly là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham; chỉ ai như thật tuệ tri đủ ba mặt mới tự tuệ tri và đặt người khác vào địa vị tương tự.
  • Các sắc pháp (rūpa): vị ngọt — Đoạn [19]–[20]: thiếu nữ Sát-đế-lị, Bà-la-môn hay Gia chủ khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, đạt mỹ diệu tối thượng; lạc thọ hỷ thọ y cứ sắc đẹp ấy là vị ngọt các sắc pháp.
  • Các sắc pháp: sự nguy hiểm — già, bệnh, chín giai đoạn tử thi — Đoạn [21]–[33]: cũng người ấy về sau tám mươi, chín mươi, một trăm tuổi, cong như nóc nhà, chống gậy run rẩy; rồi trầm bệnh nằm trong phân tiểu của mình; rồi tử thi trương phồng xanh đen nát thối; bị quạ, diều hâu, kên, chó, giả can, côn trùng ăn; bộ xương còn dính thịt máu gân, rồi xương rời rạc; xương trắng màu vỏ ốc, đống xương lâu hơn một năm, xương thối thành bột.
  • Các sắc pháp: sự xuất ly và kết luận — Đoạn [34]–[35]: điều phục và đoạn trừ dục tham đối với các sắc pháp; chỉ ai như thật tuệ tri mới tuệ tri và dạy được người khác.
  • Các cảm thọ (vedanā): vị ngọt là bốn Thiền vô hại — Đoạn [36]–[37]: Tỷ-kheo chứng và trú Thiền thứ nhất đến Thiền thứ tư; trong khi ấy không nghĩ đến tự hại, hại người, hại cả hai, cảm giác một cảm thọ vô hại — tối thượng vô hại ấy là vị ngọt các cảm thọ.
  • Các cảm thọ: nguy hiểm, xuất ly, kết luận và kết kinh — Đoạn [38]–[41]: các cảm thọ là vô thường, khổ, biến hoại — đó là sự nguy hiểm; xuất ly là điều phục và đoạn trừ dục tham đối với các cảm thọ; chỉ ai như thật tuệ tri mới tuệ tri và dạy được người khác. Thế Tôn thuyết giảng như vậy, các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 13, đoạn [7]
Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ assādo? … Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ ādīnavo? … Kiñca, bhikkhave, kāmānaṁ nissaraṇaṁ?
Này các Tỷ-kheo, các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được trả lời như sau: “Chư Hiền, thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các sắc pháp, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các cảm thọ, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?”
And what is the gratification of sensual pleasures? … And what is the drawback of sensual pleasures? … And what is the escape from sensual pleasures?
MN 13, đoạn [8]
Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ assādo? Pañcime, bhikkhave, kāmaguṇā. Katame pañca? Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā, sotaviññeyyā saddā …pe… ghānaviññeyyā gandhā … jivhāviññeyyā rasā … kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā—ime kho, bhikkhave, pañca kāmaguṇā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục? Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn, các tiếng do nhĩ căn nhận thức … các hương do tỷ căn nhận thức … các vị do thiệt căn nhận thức … các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ-kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.
And what is the gratification of sensual pleasures? There are these five kinds of sensual stimulation. What five? Sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. Sounds known by the ear … Smells known by the nose … Tastes known by the tongue … Touches known by the body, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. These are the five kinds of sensual stimulation.
MN 13, đoạn [9]
Ko ca, bhikkhave, kāmānaṁ ādīnavo? Idha, bhikkhave, kulaputto yena sippaṭṭhānena jīvikaṁ kappeti—yadi muddāya yadi gaṇanāya yadi saṅkhānena yadi kasiyā yadi vaṇijjāya yadi gorakkhena yadi issatthena yadi rājaporisena yadi sippaññatarena—
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.
And what is the drawback of sensual pleasures? It’s when a gentleman earns a living by means such as arithmetic, accounting, calculating, farming, trade, raising cattle, archery, government service, or one of the professions.
MN 13, đoạn [11]
So tesaṁ bhogānaṁ ārakkhādhikaraṇaṁ dukkhaṁ domanassaṁ paṭisaṁvedeti: ‘kinti me bhoge neva rājāno hareyyuṁ, na corā hareyyuṁ, na aggi daheyya, na udakaṁ vaheyya, na appiyā dāyādā hareyyun’ti. … So socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati, sammohaṁ āpajjati: ‘yampi me ahosi tampi no natthī’ti.
Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: “Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?” … Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: “Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa”.
But they experience pain and sadness when they try to protect it, thinking: ‘How can I prevent my wealth from being taken by rulers or bandits, consumed by fire, swept away by flood, or taken by unloved heirs?’ … They sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion: ‘What once was mine is gone.’
MN 13, đoạn [12]
Puna caparaṁ, bhikkhave, kāmahetu kāmanidānaṁ kāmādhikaraṇaṁ kāmānameva hetu rājānopi rājūhi vivadanti … Te tattha kalahaviggahavivādāpannā aññamaññaṁ pāṇīhipi upakkamanti, leḍḍūhipi upakkamanti, daṇḍehipi upakkamanti, satthehipi upakkamanti. Te tattha maraṇampi nigacchanti, maraṇamattampi dukkhaṁ.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong.
Furthermore, for the sake of sensual pleasures kings fight with kings, aristocrats fight with aristocrats, brahmins fight with brahmins, and householders fight with householders. A mother fights with her child, child with mother, father with child, and child with father. Brother fights with brother, brother with sister, sister with brother, and friend fights with friend. Once they’ve started quarreling, arguing, and disputing, they attack each other with fists, stones, rods, and swords, resulting in death and deadly pain.
MN 13, đoạn [17]
Kiñca, bhikkhave, kāmānaṁ nissaraṇaṁ? Yo kho, bhikkhave, kāmesu chandarāgavinayo chandarāgappahānaṁ—idaṁ kāmānaṁ nissaraṇaṁ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục? Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục.
And what is the escape from sensual pleasures? Removing and giving up desire and greed for sensual pleasures: this is the escape from sensual pleasures.
MN 13, đoạn [21]
Ko ca, bhikkhave, rūpānaṁ ādīnavo? Idha, bhikkhave, tameva bhaginiṁ passeyya aparena samayena āsītikaṁ vā nāvutikaṁ vā vassasatikaṁ vā jātiyā, jiṇṇaṁ gopānasivaṅkaṁ bhoggaṁ daṇḍaparāyanaṁ pavedhamānaṁ gacchantiṁ āturaṁ gatayobbanaṁ khaṇḍadantaṁ palitakesaṁ, vilūnaṁ khalitasiraṁ valinaṁ tilakāhatagattaṁ. Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, yā purimā subhā vaṇṇanibhā sā antarahitā, ādīnavo pātubhūtoti?
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các sắc pháp? Này các Tỷ-kheo, ở đây người ta có thể thấy bà chị ấy trong một thời khác, khoảng tám mươi tuổi, chín mươi tuổi hay một trăm tuổi, già yếu, cong như nóc nhà, lưng còm, phải dựa gậy để chống đỡ, vừa đi vừa run rẩy, đau ốm, tuổi trẻ đã tận, râu rụng, tóc bạc, hư rụng, sói đầu, da nhăn, tay chân bị khô đét tái xám. Này các Tỷ-kheo, các Người nghĩ thế nào? Có phải sự mỹ diệu về sắc đẹp xưa kia của người đó nay đã biến mất và sự nguy hiểm đã hiện ra?
And what is the drawback of forms? Suppose that some time later you were to see that same sister—eighty, ninety, or a hundred years old—bent double, crooked, leaning on a staff, trembling as they walk, ailing, past their prime, with teeth broken, hair grey and scanty or bald, skin wrinkled, and limbs blotchy. What do you think, mendicants? Has not that former beauty vanished and the drawback become clear?
MN 13, đoạn [36]
Ko ca, bhikkhave, vedanānaṁ assādo? Idha, bhikkhave, bhikkhu vivicceva kāmehi vivicca akusalehi dhammehi savitakkaṁ savicāraṁ vivekajaṁ pītisukhaṁ paṭhamaṁ jhānaṁ upasampajja viharati. … abyābajjhaṁyeva tasmiṁ samaye vedanaṁ vedeti. Abyābajjhaparamāhaṁ, bhikkhave, vedanānaṁ assādaṁ vadāmi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các cảm thọ? Ở đây các Tỷ-kheo ly các dục, ly các bất thiện pháp, tự chứng và an trú vào Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm có tứ. Trong khi ấy, nếu vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, trong khi ấy vị ấy cảm giác một cảm thọ vô hại. Này các Tỷ-kheo, tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ.
And what is the gratification of feelings? It’s when a mendicant, quite secluded from sensual pleasures, secluded from unskillful qualities, enters and remains in the first absorption, which has the rapture and bliss born of seclusion, while placing the mind and keeping it connected. At that time a mendicant doesn’t intend to hurt themselves, hurt others, or hurt both; they feel only feelings that are not hurtful. Freedom from being hurt is the ultimate gratification of feelings, I say.
MN 13, đoạn [38]–[39]
Ko ca, bhikkhave, vedanānaṁ ādīnavo? Yaṁ, bhikkhave, vedanā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā—ayaṁ vedanānaṁ ādīnavo. Kiñca, bhikkhave, vedanānaṁ nissaraṇaṁ? Yo, bhikkhave, vedanāsu chandarāgavinayo, chandarāgappahānaṁ—idaṁ vedanānaṁ nissaraṇaṁ.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các cảm thọ? Này các Tỷ-kheo, các cảm thọ là vô thường, khổ, biến hoại, như vậy là sự nguy hiểm các cảm thọ. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các cảm thọ? Này các Tỷ-kheo, sự điều phục dục tham đối với các cảm thọ, sự đoạn trừ dục tham, như vậy gọi là sự xuất ly các cảm thọ.
And what is the drawback of feelings? That feelings are impermanent, suffering, and perishable: this is their drawback. And what is the escape from feelings? Removing and giving up desire and greed for feelings: this is the escape from feelings.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dukkhakkhandhakhổ uẩn — khối khổ, đống khổMahā- = đại; tên kinh: Đại kinh Khổ uẩn.
assādavị ngọt, sự thích thú, sự hấp dẫnBản Anh (Sujato): gratification.
ādīnavasự nguy hiểm, điều tai hạiBản Anh: drawback.
nissaraṇasự xuất ly, sự thoát lyBản Anh: escape.
kāmadục, các dục lạc
kāmaguṇā (pañca kāmaguṇā)năm pháp tăng trưởng dục: sắc, thanh, hương, vị, xúc khả áiBản Minh Châu: “năm pháp tăng trưởng dục”.
rūpasắc pháp, hình sắcTrong kinh này chỉ đối tượng của mắt / thân sắc.
vedanācảm thọ
pariññāsự hiểu biết hoàn toàn, liễu triĐiểm tranh luận với ngoại đạo ở đầu kinh.
chandarāgavinaya / chandarāgappahānasự điều phục dục tham / sự đoạn trừ dục thamĐịnh nghĩa của nissaraṇa trong cả ba đề mục.
anicca — dukkha — vipariṇāmadhammavô thường — khổ — biến hoạiĐịnh nghĩa sự nguy hiểm của các cảm thọ.
jhānaThiền (thứ nhất đến thứ tư)Vị ngọt của các cảm thọ.
abyābajjhavô hại, không bị tổn hại“Tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ.”
aññatitthiyā paribbājakācác Du sĩ ngoại đạo
kulaputtathiện nam tử

Cách Ngài xử lý câu hỏi vặn rất đáng học. Ngài không nói mình hơn. Ngài đưa ra một bộ câu hỏi và để thực tế trả lời. Ai trả lời được thì hiểu; ai không trả lời được thì tự lộ.

Và bộ ba câu hỏi ấy là khung của cả bài. Với mỗi thứ, hỏi đủ ba mặt: nó ngọt ở đâu, nó nguy ở đâu, và ra khỏi nó bằng cách nào. Thiếu một mặt là hiểu lệch.

Chỗ đáng chú ý nhất: kinh CÔNG NHẬN vị ngọt. Không nói dục là hoàn toàn xấu. Lạc hỷ khởi lên do năm pháp tăng trưởng dục — đó là vị ngọt các dục, kinh nói thẳng. Chối bỏ vị ngọt thì không ai tin phần còn lại.

Phần nguy hiểm thì rất đời, và rất dài. Người làm nghề — đếm ngón tay, tính toán, làm ruộng, buôn bán, chăn bò, bắn cung, làm công cho vua — phải chịu lạnh, nóng, ruồi muỗi, đói khát. Làm mà không được của thì khóc than đấm ngực; được của thì lo giữ — sợ vua, sợ trộm, sợ lửa, sợ nước, sợ kẻ thừa tự không xứng đáng — và cuối cùng vẫn mất.

Rồi kinh đi tiếp, càng lúc càng nặng. Tranh đoạt giữa vua với vua, mẹ với con, cha với con, anh em, bạn bè; chiến trận; trộm cướp bị bắt và hành hình; và cuối cùng ác hạnh về thân khẩu ý đưa đến đọa xứ. Một chuỗi leo thang từ mệt nhọc tới đổ vỡ gia đình tới chết chóc.

Phần về sắc pháp thì sắc lạnh. Vị ngọt: vẻ đẹp của một thiếu nữ mười lăm mười sáu tuổi. Nguy hiểm: chính người ấy về sau tám chín mươi tuổi, cong như nóc nhà, chống gậy run rẩy; rồi nằm bệnh trong phân tiểu của mình; rồi chín giai đoạn tử thi. Cùng một người, không phải người khác.

Phần về cảm thọ mới là chỗ bất ngờ. Vị ngọt của cảm thọ không phải khoái lạc — mà là bốn thiền, nơi vị ấy không nghĩ đến tự hại, hại người, hại cả hai. "Tối thượng vô hại ấy, Ta nói là vị ngọt các cảm thọ."

Xuất ly thì cả ba đề mục đều một câu. Điều phục và đoạn trừ dục tham. Không phải trốn tránh, không phải phá bỏ đối tượng — mà bỏ cái tham nơi mình.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Hai ô trích có phần Pāli và tiếng Anh không cùng đoạn với câu tiếng Việt (cùng khuôn nhưng khác chỗ), và một ô Pāli chỉ trích vế đầu trong khi tiếng Việt trích đủ ba vế. Chúng tôi ghi chú ngay tại đó thay vì để người đọc tưởng ba cột luôn khớp từng chữ.

  • “Kinh nói dục hoàn toàn xấu.” Kinh công nhận vị ngọt trước, rồi mới nói nguy hiểm.
  • “Vị ngọt của cảm thọ là khoái lạc.” Kinh nói vị ngọt ấy là bốn thiền, chỗ không hại ai.
  • “Xuất ly là tránh xa đối tượng.” Kinh nói là đoạn trừ dục tham nơi mình.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy đoạn người làm lụng vất vả — dễ hiểu, không nặng.
  • Ngành Thiếu. Ba câu hỏi ngọt · nguy · lối ra — cho các em áp vào một thứ mình thích.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bộ ba câu hỏi này dùng được cho mọi việc. Đọc kèm MN 54.
  • Ba câu hỏi là gì?
  • Vì sao kinh công nhận vị ngọt trước?
  • Vị ngọt của cảm thọ là gì?
  • Xuất ly nghĩa là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.