G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 54
Trung Bộ · Bảy Ví Dụ Về Dục

Kinh Potaliya

Potaliya Sutta — MN 54 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Potaliya

Ông Potaliya đã giao hết tài sản cho con cái, giờ chỉ ăn và mặc, và cho rằng mình đã dứt bỏ mọi việc đời. Đức Phật nói: trong Luật của bậc Thánh, dứt bỏ không phải như vậy.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 54
  • Nơi chốn — thị trấn Āpaṇa (bản Việt in là Apāna), xứ Aṅguttarāpa
  • Chỗ mở đầu — ông phẫn nộ vì bị gọi là “Gia chủ”
  • Phần nổi tiếngbảy ví dụ về dục

Kinh Potaliya được Thế Tôn giảng tại thị trấn Āpaṇa xứ Anguttarapa. Gia chủ Potaliya đến gặp Phật, và phật lòng vì Ngài gọi ông là "Gia chủ" — ông cho rằng mình đã giao hết tài sản cho các con, sống với tối thiểu đồ ăn đồ mặc, nên "tất cả nghiệp vụ đã được tôi từ bỏ, tất cả tục sự đã được tôi đoạn tận". Thế Tôn nhẹ nhàng chỉ rõ: sự đoạn tận tục sự mà ông nói khác với sự đoạn tận tục sự trong giới luật của bậc Thánh. Đây là bài học đầu tiên: bỏ hình thức bên ngoài chưa phải là buông bỏ thật sự; cái phải buông là tâm. Thế Tôn nêu tám pháp: y cứ không sát sanh, không lấy của không cho, lời chân thật, không nói hai lưỡi, không tham dục, không hủy báng sân hận, không phẫn não, không quá mạn — mà từ bỏ tám điều ngược lại. Rồi Ngài giải thích rộng từng pháp theo cùng một cách quán: nếu ta làm điều ấy thì tự ta trách mắng ta, các bậc có trí sau khi tìm hiểu cũng khiển trách, và sau khi thân hoại mạng chung ác thú chờ đợi ta; chính điều ấy là kiết sử, là triền cái. Nhưng như thế vẫn chưa phải là đoạn tận "toàn diện, toàn bộ và toàn mặt". Phần nổi tiếng nhất của kinh là bảy ví dụ về nguy hại của các dục: con chó đói gặm khúc xương khéo lóc chỉ dính máu; con chim ưng ngậm miếng thịt bị bầy chim khác rượt xé; người cầm bó đuốc cỏ cháy rực đi ngược gió; hố than hừng mà hai lực sĩ lôi người ta tới; giấc mộng thấy vườn rừng khả ái, tỉnh dậy không còn gì; tài vật vay mượn bị chủ lấy lại giữa chợ; và cây đầy trái chín bị người thứ hai chặt tận gốc trong khi mình còn ở trên cây. Sau mỗi ví dụ, vị Thánh đệ tử thấy như chân với chánh trí tuệ, từ bỏ xả đa chủng và tu tập xả nhất chủng, nơi mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ không dư tàn. Y cứ xả niệm thanh tịnh vô thượng ấy, vị Thánh đệ tử chứng túc mạng minh, thiên nhãn minh, và lậu tận minh — tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại. Nghe xong, Potaliya nhận mình còn rất xa, thú nhận trước kia đã cúng dường lầm chỗ, rồi xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: Thế Tôn tại Āpaṇa, gia chủ Potaliya đến gặp — Thế Tôn ở tại Anguttarapa, thị trấn Āpaṇa; sau khi khất thực Ngài vào rừng nghỉ trưa, ngồi dưới một gốc cây. Gia chủ Potaliya mặc đồ đầy đủ, mang dù đi dép, tản bộ đến đảnh lễ. Thế Tôn ba lần mời ngồi và gọi ông là "Gia chủ"; ông phẫn nộ vì bị gọi là “Gia chủ”; đến lần thứ ba mới lên tiếng, rồi mới trình bày rằng tất cả nghiệp vụ đã được ông từ bỏ (SC 1–15).
  • 2. Hai nghĩa của "đoạn tận tục sự" — Potaliya nói ông đã giao hết tài sản cho các con, sống với tối thiểu đồ ăn đồ mặc. Thế Tôn dạy: sự đoạn tận tục sự ông nói khác với sự đoạn tận tục sự trong giới luật của bậc Thánh (SC 14–19).
  • 3. Tám pháp đưa đến đoạn tận tục sự (nói vắn tắt) — Y cứ không sát sanh, không lấy của không cho, lời chân thật, không nói hai lưỡi, không tham dục, không hủy báng sân hận, không phẫn não, không quá mạn — mà từ bỏ tám điều ngược lại (SC 20).
  • 4. Giải thích rộng rãi tám pháp — Mỗi pháp được khai triển theo một công thức giống nhau: vị Thánh đệ tử quán sát kiết sử làm nhân, tự trách mắng, bậc có trí khiển trách, ác thú chờ đợi; chính điều ấy là kiết sử, là triền cái; các lậu hoặc phiền lao nhiệt não do đó không còn (SC 25–32).
  • 5. Kāmādīnavakathā — Bảy ví dụ về nguy hại của các dục — Bảy ví dụ theo đúng thứ tự kinh văn: (1) khúc xương khéo lóc dính máu; (2) miếng thịt bị các chim tranh giựt; (3) bó đuốc cỏ cháy rực đi ngược gió; (4) hố than hừng; (5) cơn mộng; (6) tài vật vay mượn; (7) cây đầy trái chín bị chặt tận gốc. Sau mỗi ví dụ, vị Thánh đệ tử từ bỏ xả đa chủng, tu tập xả nhất chủng (SC 38–56).
  • 6. Ba minh do y cứ xả niệm thanh tịnh vô thượng — Nhớ đến các đời sống trước; thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy chúng sanh sống chết theo hạnh nghiệp; đoạn tận lậu hoặc, chứng và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong hiện tại (SC 57–59).
  • 7. Potaliya nhận lỗi và quy y — Potaliya thú nhận mình còn rất xa sự đoạn tận toàn diện; trước kia ông cúng dường lầm — trọng các Du sĩ ngoại đạo, khinh các Tỷ-kheo — nay ông sẽ biết đúng. Ông tán thán "Thật vi diệu thay" và xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời (SC 60–62).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 15 (mn54:3.15)
"Aññathā kho tvaṁ, gahapati, vohārasamucchedaṁ vadasi, aññathā ca pana ariyassa vinaye vohārasamucchedo hotī"ti.
—Này Gia chủ, sự đoạn tận các tục sự mà Ông nói khác với sự đoạn tận các tục sự trong giới luật của bậc Thánh.
"The cutting off of business as you describe it is one thing, householder, but the cutting off of business in the Noble One's training is quite different."
SC 20 (mn54:4.2–4.11)
"Aṭṭha kho ime, gahapati, dhammā ariyassa vinaye vohārasamucchedāya saṁvattanti. Katame aṭṭha? Apāṇātipātaṁ nissāya pāṇātipāto pahātabbo… anatimānaṁ nissāya atimāno pahātabbo."
—Này Gia chủ, tám pháp này đưa đến sự đoạn tận các tục sự trong giới luật bậc Thánh. Thế nào là tám? Y cứ không sát sanh, sát sanh cần phải từ bỏ. Y cứ không lấy của không cho, lấy của không cho cần phải từ bỏ. Y cứ lời chân thật, nói láo cần phải từ bỏ. Y cứ không nói hai lưỡi, nói hai lưỡi cần phải từ bỏ. Y cứ không tham dục, tham dục cần phải từ bỏ. Y cứ không hủy báng sân hận, hủy báng sân hận cần phải từ bỏ. Y cứ không phẫn não, phẫn não cần phải từ bỏ. Y cứ không quá mạn, quá mạn cần phải từ bỏ. […]
"Householder, these eight things lead to the cutting off of business in the Noble One's training. What eight? Killing living creatures should be given up, relying on not killing living creatures… Arrogance should be given up, relying on not being arrogant."
SC 38–40 (mn54:15.1–15.10) — ví dụ khúc xương
"Seyyathāpi, gahapati, kukkuro jighacchādubbalyapareto goghātakasūnaṁ paccupaṭṭhito assa… 'aṭṭhikaṅkalūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo'ti."
—Này Gia chủ, ví như có con chó đói lả, suy nhược, đi đến một lò thịt giết bò. Ở đây, có người giết bò thiện xảo hay người đệ tử quăng cho nó một khúc xương, khéo lóc, tận lóc, không có thịt, chỉ có dính máu. […] —Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Thế Tôn đã nói, dục được ví như khúc xương, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Householder, suppose a dog weak with hunger was hanging around a butcher's shop… 'With the simile of a skeleton the Buddha said that sensual pleasures give little gratification and much suffering and distress, and they are all the more full of drawbacks.'"
SC 41–43 (mn54:16.1–16.7) — ví dụ miếng thịt
"Seyyathāpi, gahapati, gijjho vā kaṅko vā kulalo vā maṁsapesiṁ ādāya uḍḍīyeyya… 'maṁsapesūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo'ti."
Này Gia chủ, ví như con chim kên, con chim diều hâu, hay con chim ưng giành được miếng thịt liền bay bổng lên; các con chim kên khác, chim diều hâu khác, hay chim ưng khác bay đuổi theo, đuổi sát theo giành giựt xé nát miếng thịt ấy. […] "Thế Tôn đã nói, dục được ví như miếng thịt, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Suppose a vulture or a crow or a hawk was to grab a scrap of meat and fly away. Other vultures, crows, and hawks would keep chasing it, pecking and clawing… 'With the simile of a scrap of meat…'"
SC 44–46 (mn54:17.1–17.6) — ví dụ bó đuốc cỏ
"Seyyathāpi, gahapati, puriso ādittaṁ tiṇukkaṁ ādāya paṭivātaṁ gaccheyya… 'tiṇukkūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo'ti."
Này Gia chủ, ví như một người cầm một bó đuốc cỏ đang cháy rực đi ngược gió. […] "Thế Tôn đã nói, dục được ví như bó đuốc cỏ, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Suppose a person carrying a blazing grass torch was to walk against the wind… 'With the simile of a grass torch…'"
SC 47–49 (mn54:18.1–18.10) — ví dụ hố than hừng
"Seyyathāpi, gahapati, aṅgārakāsu sādhikaporisā, pūrā aṅgārānaṁ vītaccikānaṁ vītadhūmānaṁ… 'aṅgārakāsūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo'ti."
Này Gia chủ, ví như một hố than hừng, sâu hơn thân người, đầy những than hừng, cháy không thành ngọn, cháy không thành khói, và một người đi đến muốn sống, muốn không chết, muốn lạc, né tránh khổ. Nhưng có hai nhà lực sĩ, nắm chặt hai cánh tay người ấy và lôi người ấy đến hố than hừng. […] "Thế Tôn đã nói, dục được ví như hố than hừng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Suppose there was a pit of glowing coals deeper than a man's height, full of glowing coals that neither flamed nor smoked… Two strong men would grab them by the arms and drag them toward the pit…"
SC 50 (mn54:19.1–19.4) — ví dụ cơn mộng
"Seyyathāpi, gahapati, puriso supinakaṁ passeyya ārāmarāmaṇeyyakaṁ vanarāmaṇeyyakaṁ bhūmirāmaṇeyyakaṁ pokkharaṇirāmaṇeyyakaṁ. So paṭibuddho na kiñci paṭipasseyya… 'supinakūpamā kāmā vuttā bhagavatā…'"
Này Gia chủ, ví như có người nằm mộng, thấy vườn khả ái, rừng núi khả ái, đất đai khả ái, ao hồ khả ái; khi tỉnh dậy, người ấy không thấy gì cả. Cũng vậy, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử suy nghĩ như sau: "Thế Tôn đã nói, dục được ví như một cơn mộng, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Suppose a person was to see delightful parks, woods, meadows, and lotus ponds in a dream. But when they woke they couldn't see them at all…"
SC 51–53 (mn54:20.1–20.11) — ví dụ tài vật vay mượn
"Seyyathāpi, gahapati, puriso yācitakaṁ bhogaṁ yācitvā yānaṁ vā poriseyyaṁ pavaramaṇikuṇḍalaṁ… 'yācitakūpamā kāmā vuttā bhagavatā bahudukkhā bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo'ti."
Này Gia chủ, ví như có người mượn tài vật cho mượn như xe cộ xứng đáng bậc sang trọng, các đồ châu báu trang sức mỹ diệu, và với những đồ vật vay mượn ấy, người ấy đi vào chợ phố […] Nhưng những người chủ thấy người kia ở chỗ nào liền lấy lui những vật sở hữu của mình. […] "Thế Tôn đã nói, dục được ví như tài vật vay mượn, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn".
"Suppose a man had borrowed some goods—a gentleman's carriage and fine jeweled earrings—and preceded and surrounded by these he proceeded through the middle of Āpaṇa… But when the owners saw him, they'd take back what was theirs."
SC 54–56 (mn54:21.1–21.22) — ví dụ cây có trái
"Seyyathāpi, gahapati, gāmassa vā nigamassa vā avidūre tibbo vanasaṇḍo… yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā yattha sabbaso lokāmisūpādānā aparisesā nirujjhanti tamevūpekkhaṁ bhāveti."
Này Gia chủ, ví như gần thôn làng hay gần thị tứ có một nhóm rừng, ở đấy, có một cây đầy những trái chín, nhưng không có trái nào rơi xuống đất. […] Rồi người này chặt cây ấy tận gốc. […] "Thế Tôn đã nói, dục được ví như cây có trái, khổ nhiều, não nhiều, tai họa ở đây càng nhiều hơn". Sau khi thấy như chân như vậy với chánh trí tuệ, sau khi từ bỏ loại xả thuộc loại đa chủng, y cứ đa chủng, đối với loại xả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủng, ở đây mọi chấp thủ đối với thế vật được đoạn trừ hoàn toàn, không có dư tàn, vị ấy tu tập loại xả như vậy.
"Suppose there was a dense forest grove not far from a town or village. And there was a tree laden with fruit… they shun equanimity based on diversity and develop only the equanimity based on unity, where all kinds of grasping to the worldly pleasures of the flesh cease without remainder."
SC 62 (mn54:26.1–26.4) — quy y
"Abhikkantaṁ, bhante, abhikkantaṁ, bhante… Esāhaṁ, bhante, bhagavantaṁ saraṇaṁ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca."
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. […]
"Excellent, sir! Excellent!… I go for refuge to the Buddha, to the teaching, and to the mendicant Saṅgha."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
vohārasamucchedasự đoạn tận các tục sự (chấm dứt việc đời, nghiệp vụ)Kinh phân biệt hai nghĩa: bỏ tài sản bên ngoài, và sự đoạn tận trong giới luật bậc Thánh.
gahapatigia chủChính từ này làm Potaliya phẫn nộ vì ông tự cho đã bỏ đời sống gia chủ.
kāmadục, các dục lạcĐối tượng của bảy ví dụ.
ādīnavanguy hại, tai họa"ādīnavo ettha bhiyyo" — tai họa ở đây càng nhiều hơn.
saṁyojanakiết sử (dây trói buộc)
nīvaraṇatriền cái (pháp ngăn che)
āsavā vighātapariḷāhālậu hoặc, phiền lao nhiệt não
upekkhā ekattā ekattasitāxả thuộc loại nhứt chủng, y cứ nhứt chủngĐối lại là upekkhā nānattā nānattasitā — xả đa chủng, y cứ đa chủng.
upekkhāsatipārisuddhixả niệm thanh tịnh (vô thượng)
aṭṭhikaṅkalakhúc xương (đã lóc hết thịt)
maṁsapesimiếng thịt
tiṇukkābó đuốc cỏ
aṅgārakāsuhố than hừng
supinakacơn mộng, giấc mộng
yācitaka bhogatài vật vay mượn
rukkhaphalacây có trái, trái cây
cetovimutti, paññāvimuttitâm giải thoát, tuệ giải thoát
ariyasāvakavị Thánh đệ tử

Chỗ mở đầu rất người. Đức Phật gọi ông là “Gia chủ” — ông phẫn nộ và im lặng. Phải tới lần thứ ba ông mới lên tiếng, rồi mới nói ra lý do: tất cả nghiệp vụ tôi đã từ bỏ rồi. Cái làm ông giận không phải lời dạy — mà là một cách xưng hô.

Đức Phật không tranh chữ. Ngài hỏi lại: ông dứt bỏ theo cách nào? Ông đáp: giao hết của cải cho con, giờ chỉ ăn và mặc. Ngài nói: đó là dứt bỏ theo cách khác, không phải cách trong Luật của bậc Thánh — rồi kể ra tám điều.

Tám điều ấy không nói về tài sản. Chúng nói về sát sanh, lấy của không cho, nói dối, nói hai lưỡi, tham đắm, hủy báng, phẫn nộ, quá mạn. Bỏ của thì dễ; bỏ tám điều này mới là việc.

Rồi tới bảy ví dụ, dồn liên tiếp. Khúc xương khô ném cho chó đói — gặm mãi không no. Miếng thịt con chim tha, cả đàn xúm lại giành. Bó đuốc cỏ cầm đi ngược gió. Hố than hừng — biết nóng mà vẫn bị kéo tới. Giấc mộng — tỉnh dậy không còn gì. Đồ mượn — chủ tới đòi lúc nào cũng được. Cây đầy trái mà có người đang chặt gốc.

Bảy ví dụ ấy nói bảy chuyện khác nhau, không phải một chuyện lặp bảy lần. Khúc xương: không bao giờ đủ. Miếng thịt: có thì bị tranh. Bó đuốc: giữ thì bỏng tay. Hố than: biết mà vẫn tới. Giấc mộng: không thật. Đồ mượn: không phải của mình. Cây bị chặt gốc: đang hưởng thì mất chỗ đứng.

Một chỗ dễ đọc nhầm, xin thưa rõ. Có người kể “lò sát sinh” thành ví dụ thứ tám. Không phải — đó là bối cảnh của ví dụ khúc xương (con chó đói tới bên lò sát sinh). Chỉ có bảy ví dụ.

Đoạn kết rất đẹp và rất khiêm. Nghe xong, Potaliya nói mình còn xa lắm, và nhận rằng trước đây mình đã cúng dường lầm chỗ — đem cái tốt nhất cho những người không đáng, còn với Thế Tôn thì chưa. Rồi ông xin quy y.

  • “Bỏ của cải là bỏ đời.” Kinh kể tám điều, không điều nào nói về tài sản.
  • “Có tám ví dụ về dục.” Bảy. Lò sát sinh là bối cảnh, không phải ví dụ riêng.
  • “Kinh chê ông Potaliya.” Ngài không chê — Ngài hỏi cách ông hiểu, rồi chỉ cách khác.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy khúc xương khôgiấc mộng. Hai cái dễ hình dung nhất.
  • Ngành Thiếu. Bảy ví dụ, chia bảy nhóm, mỗi nhóm kể lại một cái bằng lời mình.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chỗ mở đầu — giận vì một cách xưng hô — rất đáng bàn.
  • Vì sao ông Potaliya giận ngay từ đầu?
  • Tám điều phải dứt có nói về tài sản không?
  • Bảy ví dụ nói bảy điều gì khác nhau?
  • Ví dụ nào làm em nhớ nhất, vì sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.