G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 12
Trung Bộ · Tiếng Rống Sư Tử Lớn

Đại Kinh Sư Tử Hống

Mahāsīhanāda Sutta — MN 12 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Sư Tử Hống

Một vị vừa bỏ Tăng đoàn đang đi rêu rao khắp thành rằng Sa-môn Gotama chẳng có gì đặc biệt. Lời đáp của Đức Phật là đoạn tự thuật dài nhất trong kinh tạng — và nó kết bằng chuyện chính Ngài đã khổ hạnh khốc liệt tới đâu, rồi không đi tới đâu.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 12, thuộc Phẩm Sư Tử Hống. 371 đoạn có đánh số — một trong những bài dài nhất Trung Bộ.
  • Nơi — ngoài thành Vesālī, trong khu rừng phía tây thành.
  • Duyên khởiSunakkhatta người bộ lạc Licchavi, vừa mới từ bỏ Pháp và Luật này, đang nói xấu Đức Phật giữa hội chúng Vesālī. Tôn giả Sāriputta nghe được, về thưa lại.
  • Bài kinh tự đặt tên cho mình — ở đoạn cuối, Đức Phật bảo Tôn giả Nāgasamāla hãy nhớ bài này với tên “Pháp môn Lông tóc dựng ngược” (Lomahaṁsanapariyāya). Rất hiếm bài kinh nào tự đặt tên như vậy.

Sunakkhatta nói: “Sa-môn Gotama không có pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Sa-môn Gotama thuyết pháp do suy luận tác thành, tùy thuận trắc nghiệm…” — nhưng rồi chính ông ta nói thêm một câu: “…pháp ấy có khả năng hướng dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.” Đức Phật bắt ngay vào câu ấy. Ngài nói: “Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Ông ta nghĩ: ta sẽ nói xấu. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai.” Câu chê ấy tự nó chứa một lời khen lớn nhất — vì giáo pháp đưa được người ta tới chỗ hết khổ thì còn cần gì hơn nữa? Rồi Đức Phật trả lời đầy đủ, theo sáu khối lớn. Mười Như Lai lực. Bốn pháp vô sở úy. Tám hội chúng. Bốn loại sanh. Năm sanh thú, cộng thêm Niết-bàn — mỗi cõi kèm một ví dụ về người đi đường. Và sau mỗi khối, Ngài lặp lại một câu cảnh báo: ai biết như vậy, thấy như vậy mà vẫn nói lời kia, nếu không từ bỏ lời ấy, tâm ấy, tà kiến ấy, thì sẽ rơi vào địa ngục. Rồi tới khối thứ sáu, khối lạ nhất: Ngài tự kể lại đời khổ hạnh của chính mình. Bốn hạnhkhổ hạnh đệ nhất, bần uế đệ nhất, yểm ly đệ nhất, độc cư đệ nhất. Ngài sống lõa thể; bụi đất đóng trên thân bao năm cho tới khi tự tróc ra; bỏ chạy khi thấy người chăn bò, “như một con thú rừng thấy người”; nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương, để cho những đứa mục đồng khạc nhổ, tiểu tiện lên mình, lấy que đâm vào lỗ tai — mà không khởi ác tâm đối với chúng. Và câu kết của cả đoạn: “Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân.” Vì sao? Vì Ngài chưa chứng được thánh trí tuệ. Sau đó Ngài điểm qua sáu chủ trương “thanh tịnh nhờ…” của thời ấy — nhờ món ăn, nhờ luân hồi, nhờ sanh khởi, nhờ an trú, nhờ tế tự, nhờ thờ lửa — và nói rằng Ngài đã đi qua hết. Chính ở khối này có câu “Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một trái táo, và Ngài dặn ngay: chớ tưởng trái táo thời ấy to hơn bây giờ. Cũng chính ở đây mới có đoạn tả thân Ngài lúc ấy: xương sườn như rui cột một nhà sàn đổ nát, con ngươi lún sâu như bóng nước trong giếng sâu, da bụng chạm vào xương sống. Rồi tới chuyện tuổi tác: có người bảo già thì trí tuệ suy. Ngài đáp: “Nay Ta đã tám mươi tuổi… dầu các Ông có phải khiêng Ta trên một cái giường, trí tuệ biện tài của Như Lai cũng không hề đổi khác.” Tôn giả Nāgasamāla đứng sau quạt hầu, thưa: “Sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì?”

Mười Như Lai lựcĐoạn mn12:10–19 — chữ trong ngoặc là tên Hán-Việt trong bản của HT. Thích Minh Châu

  • 1. Như thật tuệ tri xứ là xứ, phi xứ là phi xứ — cái gì có thể, cái gì không thể. (Tri thị xứ phi xứ lực)
  • 2. Tuệ tri quả báo của các hành nghiệp quá khứ, vị lai, hiện tại, theo sở do và sở nhân. (Tri tam thế nghiệp báo lực)
  • 3. Tuệ tri con đường đưa đến tất cả cảnh giới. (Tri nhứt thiết đạo trí lực)
  • 4. Tuệ tri thế giới với mọi cảnh giới, nhiều chủng loại, nhiều sai biệt. (Tri thế gian chủng chủng tánh lực)
  • 5. Tuệ tri chí hướng sai biệt của các loại hữu tình.
  • 6. Tuệ tri những căn thượng hạ của các loài hữu tình.
  • 7. Tuệ tri sự tạp nhiễm, sự thanh tịnh, sự xuất khởi của các Thiền, các giải thoát, các định.
  • 8. Túc mạng minh — nhớ lại các đời sống quá khứ.
  • 9. Thiên nhãn minh — thấy chúng sanh chết đi sanh lại tùy theo hạnh nghiệp.
  • 10. Lậu tận minh — chứng và trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

Bốn pháp vô sở úyĐoạn mn12:22–27 — bốn lời chỉ trích mà không ai có thể nói đúng pháp

  • 1. Không ai có thể nói đúng pháp rằng: “Các pháp này chưa được chứng ngộ hoàn toàn mà quý vị tự xưng đã chứng ngộ.”
  • 2. …rằng: “Các lậu hoặc này chưa được đoạn trừ mà quý vị tự xưng đã đoạn trừ.”
  • 3. …rằng: “Những pháp quý vị gọi là chướng ngại pháp, khi thực hành thì chẳng có gì chướng ngại cả.”
  • 4. …rằng: “Pháp quý vị thuyết giảng không đưa đến mục tiêu đặc biệt, không có khả năng hướng thượng.”
  • Chữ Pāli là vesārajjasự không sợ hãi. Không phải gan dạ, mà là trạng thái của người không có gì phải giấu. Kinh ghi: “vì Ta không thấy lý do gì như vậy nên Ta đạt được vô úy.”

Năm sanh thú và sáu ví dụ người đi đườngĐoạn mn12:35–42 — năm cõi, cộng Niết-bàn là sáu

  • Địa ngụchố than hừng sâu hơn thân người, than đỏ không có ngọn lửa cũng không có khói.
  • Bàng sanhhầm phân sâu hơn thân người, đầy tràn.
  • Ngạ quỷcây mọc trên đất xấu, lá thưa, bóng lốm đốm.
  • Loài Ngườicây mọc trên đất bằng, lá rậm, bóng mát dày.
  • Chư Thiênlâu đài có nóc nhọn, trát trong trát ngoài, kín gió, có sàng tọa trải nệm len.
  • Niết-bànhồ sen nước trong mát ngọt, bờ thoai thoải, bên cạnh rừng cây rậm mát. Người đi đường lội xuống tắm, uống nước, hết mệt, rồi lên nằm nghỉ trong rừng. Là ví dụ duy nhất mà người đi đường thật sự tới nơi và nghỉ được.
  • Cả sáu ví dụ đều cùng một khuôn: một người có mắt nhìn kẻ đi đường, thấy con đường ấy dẫn tới đâu, và một thời gian sau thấy đúng như vậy. Đây là hình ảnh của Như Lai lực thứ ba.

Bốn hạnh khổ hạnh — Ngài tự kể về mìnhĐoạn mn12:44–56

  • 1. Khổ hạnh đệ nhất (tapassī) — sống lõa thể, không nhận đồ ăn mang đến, ăn một ngày một bữa cho tới nửa tháng một bữa, mặc vải liệm người chết, nằm trên gai, tắm ba lần mỗi ngày.
  • 2. Bần uế đệ nhất (lūkha) — bụi đất đóng trên thân bao năm cho tới khi tự tróc ra, như vỏ cây tích lại rồi bong. Và Ngài không hề nghĩ tới việc lấy tay chùi đi.
  • 3. Yểm ly đệ nhất (jegucchī) — bước tới bước lui hết sức để ý, thương xót cả một giọt nước, sợ làm hại những sinh vật nhỏ.
  • 4. Độc cư đệ nhất (pavivitta) — thấy người chăn bò hay người kiếm củi thì bỏ chạy từ rừng này qua rừng khác, như con nai rừng thấy người.
  • Và câu kết: “Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được thánh trí tuệ.”

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 12.4
(mn12:4.1–4.5)
“Kodhano heso, sāriputta, sunakkhatto moghapuriso… ‘Avaṇṇaṁ bhāsissāmī’ti kho, sāriputta, sunakkhatto moghapuriso vaṇṇaṁyeva tathāgatassa bhāsati.
Này Sāriputta, Sunakkhatta phẫn nộ và ngu si, do phẫn nộ nên nói lên lời ấy. Ông ta nghĩ: “Ta sẽ nói xấu”. Thế mà kẻ ngu Sunakkhatta lại nói lời tán thán Như Lai.
“Sāriputta, Sunakkhatta, that futile man, is angry… Thinking he criticizes the Realized One, in fact he just praises him.”
MN 12.9
(mn12:9.1)
Dasa kho panimāni, sāriputta, tathāgatassa tathāgatabalāni yehi balehi samannāgato tathāgato āsabhaṁ ṭhānaṁ paṭijānāti, parisāsu sīhanādaṁ nadati, brahmacakkaṁ pavatteti.
Này Sāriputta, Như Lai có đầy đủ mười Như Lai lực, chính nhờ thành tựu mười lực này, Như Lai tự nhận cho mình địa vị Ngưu Vương, rống tiếng rống con sư tử trong các Hội chúng và chuyển Phạm luân.
“There are these ten powers of a Realized One… With these he claims the bull’s place, roars his lion’s roar in the assemblies, and turns the divine wheel.”
MN 12.21
(mn12:21.4)
taṁ, sāriputta, vācaṁ appahāya taṁ cittaṁ appahāya taṁ diṭṭhiṁ appaṭinissajjitvā yathābhataṁ nikkhitto evaṁ niraye.
Này Sāriputta, nếu người ấy không từ bỏ lời nói ấy, không từ bỏ tâm ấy, không đoạn trừ tà kiến ấy; người ấy sẽ bị rơi vào địa ngục như một gánh nặng bị quăng bỏ một bên.
Unless they give up that speech and that thought, and let go of that view, they will be placed in hell as if delivered there.”
MN 12.44
(mn12:44.1–44.2)
Abhijānāmi kho panāhaṁ, sāriputta, caturaṅgasamannāgataṁ brahmacariyaṁ caritā — tapassī sudaṁ homi paramatapassī, lūkho sudaṁ homi paramalūkho, jegucchī sudaṁ homi paramajegucchī, pavivitto sudaṁ homi paramapavivitto.
Này Sāriputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất.
“Sāriputta, I recall having practiced a spiritual path consisting of four factors. I used to be a fervent mortifier, the ultimate fervent mortifier; I used to live rough…”
MN 12.56
(mn12:56.1–56.3)
Tāyapi kho ahaṁ, sāriputta, iriyāya tāya paṭipadāya tāya dukkarakārikāya nājjhagamaṁ uttariṁ manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ. Taṁ kissa hetu? Imissāyeva ariyāya paññāya anadhigamā…
Này Sāriputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được thánh trí tuệ.
“But Sāriputta, I did not achieve any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones by that conduct, that practice, that grueling work. Why is that? Because I didn’t achieve that noble wisdom…”
MN 12.62
(mn12:62.5, 62.12)
Ahaṁ kho pana, sāriputta, etarahi jiṇṇo vuddho mahallako addhagato vayoanuppatto, āsītiko me vayo vattatiMañcakena cepi maṁ, sāriputta, pariharissatha, nevatthi tathāgatassa paññāveyyattiyassa aññathattaṁ.
Này Sāriputta, nay Ta đã già, niên cao, lạp lớn, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đi đến đoạn cuối cuộc đời, tuổi Ta nay đã đến tám mươidầu các Ông có phải khiêng Ta trên một cái giường, trí tuệ biện tài của Như Lai cũng không hề đổi khác.
“For now I am old… I am eighty years oldEven if you have to carry me around on a stretcher, there will never be any deterioration in the Realized One’s lucidity of wisdom.”
MN 12.64
(mn12:64.4–64.6)
Api hi me, bhante, imaṁ dhammapariyāyaṁ sutvā lomāni haṭṭhāni. Konāmo ayaṁ, bhante, dhammapariyāyo”ti? — “Tasmātiha tvaṁ, nāgasamāla, imaṁ dhammapariyāyaṁ lomahaṁsanapariyāyotveva naṁ dhārehī”ti.
Bạch Thế Tôn, sau khi nghe pháp môn này, lông tóc con dựng ngược. Bạch Thế Tôn, pháp môn này tên gọi là gì? — Này Nāgasamāla, do vậy pháp môn này gọi là “Pháp môn Lông tóc dựng ngược”. Ông hãy như vậy thọ trì.
“While I was listening to this exposition of the teaching my hair stood up! What is the name of this exposition?” — “Well then, Nāgasamāla, you may remember it as ‘The Hair-raising Discourse’.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
tathāgatabalaNhư Lai lựcMười lực. Đây không phải phép lạ mà là mười phạm vi hiểu biết. Bản Việt kèm sẵn tên Hán-Việt trong ngoặc cho từng lực, rất tiện đối chiếu với sách Hán tạng.
vesārajjavô sở úy — không sợ hãiTừ visārada = tự tin, thản nhiên. Kinh định nghĩa nó bằng một phép loại trừ: vì Ta không thấy lý do gì như vậy nên Ta đạt được vô úy. Không sợ vì không có gì để lộ ra.
āsabhaṁ ṭhānaṁđịa vị Ngưu Vươngusabha = con bò đực đầu đàn. Hình ảnh đứng vững giữa bầy, không né tránh. Đi liền với sīhanāda (tiếng rống sư tử) và brahmacakka (chuyển Phạm luân).
moghapurisakẻ ngu, người rỗngChữ Đức Phật dùng cho Sunakkhatta. mogha = trống rỗng, uổng công. Không phải chữ mắng chửi mà là chữ chỉ một cuộc đời bỏ phí.
uttari manussadhammapháp thượng nhânChính là chữ Sunakkhatta phủ nhận, và cũng là chữ Đức Phật dùng khi nói về sáu năm khổ hạnh của mình: Ta cũng không chứng được. Cùng một chữ, hai chỗ — đó là chủ ý.
lomahaṁsanalông tóc dựng ngượcTên bài kinh do chính Đức Phật đặt. loma = lông; haṁsana = dựng đứng. Ở đây không phải sợ hãi mà là cái rùng mình khi nghe điều quá lớn.
SuddhāvāsaTịnh Cư thiênChỗ ngoại lệ Ngài chưa từng sanh vào — vì sanh vào đó thì không trở lui cõi này nữa, mà Ngài thì còn phải trở lại để thành Phật. Một chi tiết rất nhất quán, không phải câu nói cho có.
Sunakkhattatên vị đã bỏ Tăng đoànNgười Licchavi. Ông còn xuất hiện trong Kinh Ba-Lê (DN 24) — ở đó ông bỏ đi vì Đức Phật không chịu thi triển thần thôngkhông giảng về khởi nguyên thế giới. Hai bài đọc chung sẽ rõ câu chuyện.

Chỗ bất ngờ nhất của bài kinh là Ngài lấy chính khổ hạnh của mình làm bằng chứng chống lại khổ hạnh. Sunakkhatta chê Ngài không có pháp thượng nhân. Ngài đáp bằng mười lực và bốn vô sở úy — rồi quay sang kể lại sáu năm khổ hạnh, và kết luận: lúc ấy Ta cũng không có pháp thượng nhân. Nghĩa là: Ta đã làm mọi thứ các người khâm phục, và Ta biết rõ nó không dẫn tới đâu.

Và xin để ý câu đầu tiên Ngài nói. Không phải cãi lại. Ngài chỉ ra rằng lời chê ấy tự nó chứa một lời khen: Sunakkhatta thừa nhận pháp ấy đưa người thực hành tới chỗ diệt tận khổ đau. Còn cần gì hơn thế nữa? Đây là cách đáp mà không cần chống.

Về câu cảnh báo địa ngục — xin đọc cho hết câu. Kinh không nói Sunakkhatta đã bị đọa. Kinh nói: NẾU không từ bỏ lời ấy, tâm ấy, tà kiến ấy thì mới như vậy. Đó là một điều kiện, và điều kiện ấy được lặp lại nguyên văn sau mỗi khốicửa vẫn để ngỏ ở mọi lần lặp.

Hình ảnh cuối cùng đáng giữ lại. Suốt cả bài pháp dài ấy, Tôn giả Nāgasamāla vẫn đứng sau lưng quạt hầu. Và người đặt câu hỏi cuối cùng — câu hỏi khiến bài kinh có tênlà vị đang cầm cây quạt, chứ không phải Tôn giả Sāriputta.

  • “Mười Như Lai lực là mười phép thần thông.” Không. Đó là mười phạm vi hiểu biết. Chỉ ba lực cuối liên hệ tới các minh.
  • “Đức Phật kết án Sunakkhatta đọa địa ngục.” Câu kinh là câu điều kiện: nếu không từ bỏ lời ấy, tâm ấy, kiến ấy. Cửa vẫn để ngỏ.
  • “Đoạn khổ hạnh chứng tỏ Đức Phật tán thán khổ hạnh.” Ngược lại. Ngài kể để nói: Ta đã làm tới mức không ai làm hơn được, và Ta không chứng được gì cả.
  • “Về già thì trí tuệ Đức Phật cũng suy.” Bài kinh trả lời thẳng vào chủ trương ấy, khi Ngài đã tám mươi tuổi: dầu phải khiêng Ta trên một cái giường.
  • “Tiếng rống sư tử là áp đảo người khác.” Không.lời tuyên bố dám đứng lại mà trả lời — và cả bài kinh này chính là phần trả lời ấy.
  • Ngành Oanh. Khi bị nói xấu, tập tìm phần đúng trong câu ấy trước đã. Đức Phật làm đúng vậy: Ngài lấy ra phần đúng trong lời Sunakkhatta.
  • Ngành Thiếu. Kể đoạn Ngài ngủ trên bãi tha ma, gối đầu lên xương người chết — rồi hỏi: cố gắng như vậy mà vẫn không tới đâu, vì sao? Bài học: gắng sức nhiều chưa chắc là gắng đúng chỗ.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cả bài kinh là một mẫu trả lời lời chỉ trích mà không phản công: nói rõ mình có gì, thừa nhận chỗ mình từng sai, và để người kia còn đường lui.
  • Vì sao Đức Phật mở đầu bằng cách chỉ ra lời khen nằm trong câu chê?
  • Vì sao trong một bài nói về sở chứng của mình, Ngài lại kể quãng đời khổ hạnh không đưa tới đâu?
  • Trong sáu ví dụ người đi đường, vì sao chỉ có Niết-bàn là nơi người ấy tới được và nghỉ được?
  • Khi bị chê, em chống lại trước, hay tìm chỗ đúng trong đó trước?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này rất dài (371 đoạn); chúng tôi tóm bố cục đủ mọi phần rồi trích các đoạn then chốt. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.