G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 11
Trung Bộ · Tiếng Rống Sư Tử

Tiểu Kinh Sư Tử Hống

Cūḷasīhanāda Sutta — MN 11 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộTiểu Kinh Sư Tử Hống

Một lời tuyên bố rất mạnh — rồi ngay lập tức là lý do. Đức Phật không để tiếng rống ấy đứng trơ: Ngài đưa ra một tiêu chuẩn ai cũng đem ra thử được, và tiêu chuẩn ấy xoay quanh đúng một chữ.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 11, mở đầu Phẩm Sư Tử Hống (Sīhanādavagga) — 131 đoạn có đánh số.
  • NơiSāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
  • Bài đôi — đi cặp với Đại Kinh Sư Tử Hống (MN 12). Tiểu nói về giáo pháp; Đại nói về bản thân Đức Phật.
  • Điểm cần thấy ngay — Đức Phật dạy chúng Tỷ-kheo cách trả lời khi bị chất vấn, và cách ấy là đặt lại câu hỏi, chứ không phải to tiếng hơn.

Đức Phật bảo chúng Tỷ-kheo hãy rống tiếng rống sư tử: “Chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất, thứ hai, thứ ba, thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn.” Nghe qua thì đây là một câu rất khó nghe. Nhưng Ngài không dừng lại đó — Ngài lập tức nói người ta sẽ vặn lại thế nào, và phải đáp ra sao. Ngoại đạo sẽ hỏi: “Chư Tôn giả có tin tưởng gì, có sức lực gì mà dám nói vậy?” Câu đáp là bốn pháp: lòng tin bậc Đạo Sư, lòng tin Pháp, thành tựu viên mãn các Giới luật, và thương mến các pháp hữu — cả cư sĩ lẫn xuất gia. Ngoại đạo sẽ vặn tiếp — và đây là chỗ hay nhất của bài kinh: “Chúng tôi cũng có đủ bốn thứ ấy. Vậy giữa quý vị và chúng tôi khác nhau chỗ nào?” Câu hỏi hoàn toàn chính đáng, và Đức Phật không né. Ngài dạy đặt lại chín câu hỏi. Câu thứ nhất: “Cứu cánh là một hay là nhiều?”Một. Rồi tám câu tiếp, mỗi câu một cặp: cứu cánh ấy dành cho người có tham hay không tham? có sân hay không? có si? có ái? có chấp thủ? có trí hay không trí? có thuận ứng nghịch ứng hay không? ưa hý luận hay không? Ngoại đạo nếu trả lời cho đúng thì lần nào cũng phải chọn vế sau. Nghĩa là cái đích thì hai bên đồng ý. Rồi Đức Phật đi tới chỗ thật sự khác: hai loại tri kiếnhữu kiến (cho là có, mãi mãi) và phi hữu kiến (cho là không, chết là hết). Ai bám một bên thì chống lại bên kia, và không thoát khỏi khổ. Sau cùng là bốn chấp thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ. Có những đạo tự xưng liễu tri tất cả thủ nhưng thật ra chỉ hiển thị được một, hoặc hai, hoặc bakhông đạo nào hiển thị được cái thứ tư. Cái thứ tư ấy là ngã luận thủchấp vào một cái “ta”. Đó mới là chỗ khác biệt, và bài kinh nói thẳng ra như vậy. Rồi Ngài truy ngược: bốn thủ do đâu? — do ái; ái do thọ; thọ do xúc; xúc do sáu xứ; sáu xứ do danh sắc; danh sắc do thức; thức do hành; hành do vô minh. Tám bước lùi, tới tận gốc. Và khi vô minh được đoạn, minh khởi lên, vị ấy không chấp thủ, không ưu não, tự mình tịch diệt.

Chín câu hỏi đặt ngược lạiTheo đúng thứ tự trong kinh văn, đoạn mn11:5

  • 1. Cứu cánh là một hay đa diện? — Một.
  • 2–4. Cứu cánh ấy cho người có tham hay không tham? có sân hay không sân? có si hay không si? — Lần nào cũng là vế không.
  • 5–6. Cho người có ái hay không ái? có chấp thủ hay không chấp thủ?
  • 7. Cho người có trí hay không trí? — Có trí.
  • 8. Cho người có thuận ứng nghịch ứng hay không? — Chữ Pāli anuruddha-paṭiviruddha: thấy cái này thì ngả theo, thấy cái kia thì chống lại.
  • 9. Cho người ưa hý luận hay không ưa hý luận? — Chữ papañca, xem bảng thuật ngữ.

Bốn chấp thủ — và chỗ khác biệt thật sựĐoạn mn11:9 đến mn11:15

  • 1. Dục thủ (kāmupādāna) — bám vào dục lạc. Đạo nào cũng nói tới cái này.
  • 2. Kiến thủ (diṭṭhupādāna) — bám vào quan điểm.
  • 3. Giới cấm thủ (sīlabbatupādāna) — bám vào hình thức nghi lễ, tưởng rằng cứ làm đúng lễ là xong.
  • 4. Ngã luận thủ (attavādupādāna) — bám vào chủ trương có một cái “ta”. Đây là cái thứ tư mà bài kinh nói không ai khác hiển thị được.
  • Ba mức thiếu — có đạo chỉ hiển thị được cái thứ nhất (thiếu ba); có đạo được hai cái đầu (thiếu hai); có đạo được ba cái đầu (thiếu một). Cái thiếu, lần nào cũng là ngã luận thủ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 11.2
(mn11:2.1–2.3)
“Idheva, bhikkhave, samaṇo, idha dutiyo samaṇo, idha tatiyo samaṇo, idha catuttho samaṇo; suññā parappavādā samaṇebhi aññehīti. Evametaṁ, bhikkhave, sammā sīhanādaṁ nadatha.
Này các Tỷ-kheo, chỉ ở đây là có Sa-môn thứ nhất; ở đây là có Sa-môn thứ hai; ở đây là có Sa-môn thứ ba; ở đây là có Sa-môn thứ tư; các ngoại đạo khác không có Sa-môn. Này các Tỷ-kheo, các Ông hãy chân chánh rống tiếng rống sư tử như vậy.
“‘Only here is there a true ascetic, here a second ascetic, here a third ascetic, and here a fourth ascetic. Other sects are empty of ascetics.’ This, mendicants, is how you should rightly roar your lion’s roar.”
MN 11.4
(mn11:4.2–4.5)
‘Amhākampi kho, āvuso, atthi satthari pasādo, yo amhākaṁ satthā… idha no, āvuso, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ yadidaṁ tumhākaṁ vā amhākaṁ vā’ti?
Chư Hiền, chúng tôi cũng có lòng tin bậc Đạo Sư, vị ấy là Đạo Sư của chúng tôi… Chư Hiền, như vậy có sự sai biệt gì, có sự đặc thù gì, có sự khác biệt gì giữa quý vị và chúng tôi?
“‘We too have confidence in the Teacher—our Teacher… What, then, is the difference between you and us?’”
MN 11.6
(mn11:6.1–6.2)
Dvemā, bhikkhave, diṭṭhiyo — bhavadiṭṭhi ca vibhavadiṭṭhi ca.
Chư Tỷ-kheo, có hai loại tri kiến này: hữu kiếnphi hữu kiến.
“Mendicants, there are these two views: views favoring existence and views favoring nonexistence.”
MN 11.9
(mn11:9.3)
Kāmupādānaṁ, diṭṭhupādānaṁ, sīlabbatupādānaṁ, attavādupādānaṁ.
Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã luận thủ.
“Grasping at sensual pleasures, views, precepts and observances, and theories of a self.”
MN 11.17
(mn11:17.1–17.3)
Yato ca kho, bhikkhave, bhikkhuno avijjā pahīnā hoti vijjā uppannā… Anupādiyaṁ na paritassati, aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati. ‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Và Chư Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo đã đoạn trừ vô minh, đã làm minh sanh khởi… nên không chấp thủ dục thủ, không chấp thủ kiến thủ, không chấp thủ giới cấm thủ, không chấp thủ ngã luận thủ. Nhờ không chấp thủ nên không tháo động, nhờ không tháo động, nên tự thân chứng được Niết-bàn; vị ấy tuệ tri: “Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
“…Not grasping, they’re not anxious. Not being anxious, they personally become extinguished. They understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed…’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sīhanādatiếng rống sư tửTrong kinh tạng, không phải tiếng quát nạt mà là lời tuyên bố dám chịu trách nhiệm — nói ra rồi đứng lại mà trả lời mọi câu vặn. Chính vì vậy nửa sau bài kinh toàn là các câu vặn.
catuttho samaṇoSa-môn thứ tưTheo Chú giải, bốn hạng Sa-mônDự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hánbốn quả Thánh, chứ không phải bốn chức phẩm trong giáo hội.
niṭṭhācứu cánh — cái đích cuối cùngCâu hỏi thứ nhất trong chín câu. Hai bên đồng ý ngay rằng cứu cánh chỉ có một — nên tranh cãi không nằm ở cái đích.
papañcahý luận — sự bày vẽ thêm của tâmBản Việt: “hý luận”. Không hẳn là nói nhảm, mà là cái tâm cứ sanh chuyện thêm mãi quanh một điều đã thấy. Chữ này về sau được khai triển kỹ trong Kinh Mật Hoàn (MN 18).
bhavadiṭṭhi / vibhavadiṭṭhihữu kiến / phi hữu kiếnHai cực: một bên cho rằng có một cái ta thường còn; bên kia cho rằng chết là hết sạch. Đức Phật không đứng ở giữa hai cực này như một sự thoả hiệp — Ngài chỉ ra cả hai đều là chỗ bám.
upādānathủ — chấp thủ, sự bám lấyNghĩa đen là lấy nhiên liệu: lửa cháy được là nhờ có củi. Bám tức là tiếp nhiên liệu cho khổ.
attavādupādānangã luận thủChữ quan trọng nhất của bài. Không phải bám vào cái ta — mà bám vào chủ trương rằng có một cái ta (attavāda = lời nói/học thuyết về ngã). Đây là chỗ bài kinh nói khác biệt nằm ở đó.
anuruddha-paṭiviruddhathuận ứng – nghịch ứngCặp chữ rất gọn cho một thói quen rất quen: gặp cái hợp ý thì ngả theo, gặp cái trái ý thì chống lại — và cả hai đều là bị lôi.

Câu mở đầu nghe rất khó lọt tai — cho tới khi đọc tiếp. Nếu bài kinh dừng ở đoạn 2 thì đó đúng là một lời tự tôn. Nhưng Đức Phật lập tức nói rằng người ta sẽ vặn lại, và Ngài đưa ra tiêu chuẩn. Tiêu chuẩn ấy không phải cái tên đạo, không phải y phục, không phải nghi lễ — mà là: giáo pháp ấy có nói tới ngã luận thủ hay không. Một tiêu chuẩn có thể đem ra thử.

Và xin để ý cách Ngài dạy trả lời. Không phải “hãy nói to hơn”, cũng không phải “hãy tránh đi”. Ngài dạy đặt lại chín câu hỏi — và để cho người hỏi tự trả lời. Đây cũng chính là cách Ngài làm với người Kālāma (AN 3.65): không bắt tin, mà hỏi cho tới khi người ta tự thấy.

Về hai loại tri kiến. Đức Phật bác cả haikhông chọn bên nào. Và chính vì bác hữu kiến mà Ngài bị người đương thời vu là chủ trương đoạn diệt (phi hữu kiến). Ngài trả lời việc ấy trong Kinh Ví Dụ Con Rắn (MN 22) bằng một câu rất gọn: “Trước cũng như nay, Ta chỉ nói lên KHỔ và SỰ DIỆT KHỔ.”

  • “Kinh nói các đạo khác là vô giá trị.” Không. Kinh nói một điều hẹp hơn và kiểm được: giáo pháp ấy không hiển thị được ngã luận thủ. Đó là một tiêu chuẩn, không phải một lời mắng.
  • “Bốn hạng Sa-môn là bốn cấp bậc trong giáo hội.” Không. Theo Chú giải là bốn quả Thánh: Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán.
  • “Đức Phật né câu vặn.” Ngược lại. Chính Ngài nêu câu vặn ấy ra, ở dạng mạnh nhất — “chúng tôi cũng có đủ bốn thứ ấy” — rồi mới trả lời.
  • “Chấp kiến là chỗ sâu nhất.” Chưa. Sâu hơn là ngã luận thủcái thứ tư, và bài kinh nói rõ đó là chỗ không ai khác chạm tới.
  • “Bác cái ta thường còn tức là dạy đoạn diệt.” Không. Kinh gọi tên và bác cả hai: hữu kiến lẫn phi hữu kiến.
  • Ngành Oanh. Khi các em nói “đội em giỏi nhất”, hỏi lại: lấy gì chứng minh? Cho các em thấy nói mạnh thì dễ, đưa bằng chứng mới khó — và bài kinh này làm đúng chuyện đưa bằng chứng.
  • Ngành Thiếu. Tập trả lời một câu vặn bằng cách hỏi lại, giống chín câu hỏi trong kinh. Không cãi to hơn.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Trong bốn thủ, cái nào hay xuất hiện nhất trong sinh hoạt Đoàn? Gợi ý để suy nghĩ: giới cấm thủ — làm cho đủ lễ rồi yên trí là xong.
  • Vì sao Đức Phật tự nêu câu vặn ra, lại còn nêu ở dạng mạnh nhất?
  • Nếu cứu cánh chỉ có một, thì chỗ khác biệt thật sự nằm ở đâu?
  • Vì sao ngã luận thủ lại là cái khó buông nhất?
  • Em có thuận ứng — nghịch ứng không? Lúc ấy trong lòng cảm thấy thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này có Đại Kinh Sư Tử Hống (MN 12) đi liền sau, xin xem tại đây. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.