G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tiểu Tụng · Kp 7–8
Thứ Gửi Được Cho Người Khuất, Và Thứ Giữ Được Cho Mình

Ngoài Bức Tường & Kho Báu

Tirokuḍḍa & Nidhikaṇḍa Sutta — Kp 7–8 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTiểu TụngKp 7–8

Hai bài kệ đi liền với nhau. Bài trước là bản kinh gốc đứng sau mỗi mâm cúng giỗ của người Việt: chuyện gì xảy ra khi một gia đình nhớ tới người đã khuất, và khi không nhớ. Bài sau hỏi: nên cất của cải vào đâu? — và đáp rằng chỉ có đúng MỘT kho không ai cướp được.

  • Bộ — Tiểu Bộ Kinh, Tiểu Tụng, bài 78 — hai bài cuối trước Kinh Từ Bi (Kp 9)
  • Kp 7 (Tirokuḍḍa) còn xuất hiện trong Ngạ Quỷ Sự (Petavatthu) — cùng một bài, hai chỗ
  • Các bài khác của Tiểu Tụng — xem Kp 1–4 · Kp 5 · Kp 6 · Kp 9
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

KINH NGOÀI BỨC TƯỜNG mở đầu bằng một cảnh mà đọc xong khó quên được. “Ở bên ngoài bức tường, bọn họ đứng chờ đợi. Giao lộ, ngã ba đường, trở về mái nhà xưa, đợi chờ bên cạnh cổng.” Đó là những người thân đã khuất, đứng ngay bên ngoài nhà mình. Rồi: “Nhưng khi tiệc thịnh soạn được bày biện sẵn sàng, đủ mọi thức uống ăn — KHÔNG MỘT AI NHỚ HỌ.” Bài kinh không trách ai. Nó nói tiếp: “Sự kiện này phát sinh từ nghiệp xưa của họ.” Rồi tới lời khuyên: “Vậy ai có TỪ TÂM, nhớ cho các thân nhân thức uống ăn thanh tịnh, tốt đẹp và ĐÚNG THỜI” — và khi cúng thì nói rõ ra: “Món này cho bà con, mong bà con an lạc.” Rồi bài kinh giải thích vì sao việc ấy có ích, bằng một câu rất thực tế: “Tại đó không cấy cày, cũng không nuôi súc vật, cũng không có buôn bán, không trao đổi tiền vàng. Các ngạ quỷ họ hàng CHỈ SỐNG NHỜ BỐ THÍ.” Và hai ví dụ về nước: “Như nước đổ xuống đồi, chảy xuống tận vực sâu”, “như lòng sông tràn đầy, đưa nước đổ xuống biển”bố thí tại chỗ này thì cung cấp tới chỗ kia. Rồi tới đoạn mà con nghĩ mọi Huynh Trưởng nên thuộc: “KHÔNG KHÓC THAN, SẦU MUỘN, không thương tiếc cách gì — giúp ích loài ngạ quỷ. Quyến thuộc làm như vầy, KHÔNG LỢI cho ngạ quỷ. Nhưng khi vật cúng dường khéo đặt vào chư Tăng, ích lợi chúng LÂU DÀI, bây giờ, về sau nữa.” Nghĩa là: nước mắt không tới được chỗ ấy. Việc làm thì tới. KINH KHO BÁU bắt đầu bằng một người rất biết lo xa. “Một người cất kho báu ở tận dưới giếng sâu, nghĩ: nếu cần giúp đỡ, nó ích lợi cho ta.” Rồi bài kinh liệt kê những lúc người ta cần tới nó: bị vua kết án · trả nợ · bị cướp giam cầm đòi tiền chuộc · mất mùa · tai nạn. Nhưng rồi: “Dẫu nó không bao giờ được cất kỹ như vậy ở tận dưới giếng sâu — VẪN KHÔNG ĐỦ HOÀN TOÀN giúp ích người mọi lúc.” Vì sao? Bài kinh kể ra đủ các cách một kho báu biến mất: bị dời chỗ · người quên mất dấu · rắn thần lấy đi · thần linh tẩu tán · người thừa kế không ưa mà dời đi lúc chủ không thấy. Và câu cuối cùng, câu nặng nhất: “Và khi PHƯỚC ĐỨC TẬN, tất cả đều tiêu tan.” Rồi bài kinh xoay sang cái kho kia. “Những khi người nam, nữ có BỐ THÍ, TRÌ GIỚI, hoặc THIỀN ĐỊNH, TRÍ TUỆ — kho báu khéo để dành.” Cất ở đâu? “Trong chùa, tháp, Tăng đoàn, một cá nhân, lữ khách, hoặc người mẹ, người cha, hoặc là người anh nữa.” Và bốn dòng làm nên cả bài: “Kho này khéo để dành, ĐI THEO NGƯỜI, KHÔNG MẤT. Giữa mọi vật phải rời, NGƯỜI CÙNG ĐI VỚI NÓ. Không ai khác chia phần, KHÔNG CƯỚP NÀO LẤY ĐƯỢC.”

Hai bài này là kệ, nên chúng con để bản Việt của HT. Thích Minh Châu lên trước, rồi tới Pāli, rồi tiếng Anh.

Kp 7 ⭐ (cảnh mở đầu)
Ở bên ngoài bức tường, / Bọn họ đứng chờ đợi, / Giao lộ, ngã ba đường, / Trở về mái nhà xưa, / Ðợi chờ bên cạnh cổng.
Tirokuṭṭesu tiṭṭhanti, sandhisiṅghāṭakesu ca; Dvārabāhāsu tiṭṭhanti, āgantvāna sakaṁ gharaṁ.
They stand outside the walls, and at the junctions and crossroads. They stand at the door posts, having come to their own homes.
Kp 7 ⭐ (không ai nhớ họ)
Nhưng khi tiệc thịnh soạn, / Ðược bày biện sẵn sàng, / Ðủ mọi thức uống ăn, / Không một ai nhớ họ. / Sự kiện này phát sinh / Từ nghiệp xưa của họ.
Pahūte annapānamhi, khajjabhojje upaṭṭhite; Na tesaṁ koci sarati, sattānaṁ kammapaccayā.
But when abundant food and drink, snacks and meals are set out, no one remembers them, because of the deeds those beings did.
Kp 7 ⭐ (vì sao việc cúng có ích)
Tại đó không cấy cày, / Cũng không nuôi súc vật. / Cũng không có buôn bán, / Không trao đổi tiền vàng, / Các ngạ quỷ họ hàng, / Chỉ sống nhờ bố thí.
Na hi tattha kasi atthi, gorakkhettha na vijjati; Vaṇijjā tādisī natthi, hiraññena kayākkayaṁ; Ito dinnena yāpenti, petā kālaṅkatā tahiṁ.
For there is no farming there, nor is cattle-herding found; there is no trading such as this, nor buying and selling with money. The departed who have passed away sustain themselves there on what is given from here.
Kp 7 ⭐ (hai ví dụ về nước)
Như nước đổ xuống đồi, / Chảy xuống tận vực sâu, / Bố thí tại chỗ này, / Cung cấp loài ngạ quỷ. / Như lòng sông tràn đầy, / Ðưa nước đổ xuống biển, / Bố thí tại chỗ này, / Cung cấp loài ngạ quỷ.
Unname udakaṁ vaṭṭaṁ, yathā ninnaṁ pavattati; Evameva ito dinnaṁ, petānaṁ upakappati.
Just as water fallen on high ground flows down to the low, so too what is given from here benefits the departed.
Kp 7 ⭐ (đoạn đáng thuộc lòng)
Không khóc than, sầu muộn, / Không thương tiếc cách gì, / Giúp ích loài ngạ quỷ, / Quyến thuộc làm như vầy, / Không lợi cho ngạ quỷ. / Nhưng khi vật cúng dường, / Khéo đặt vào chư Tăng / Ích lợi chúng lâu dài, / Bây giờ, về sau nữa.
Na hi ruṇṇaṁ vā soko vā, yā caññā paridevanā; Na taṁ petānamatthāya, evaṁ tiṭṭhanti ñātayo. Ayañca kho dakkhiṇā dinnā, saṅghamhi suppatiṭṭhitā; Dīgharattaṁ hitāyassa, ṭhānaso upakappati.
Neither weeping nor sorrow nor any other lamentation benefits the departed, while their relatives carry on like this. But when this offering is given and well placed in the Saṅgha, it benefits them for a long time, and right away.
Kp 8 ⭐ (người biết lo xa)
Một người cất kho báu, / Ở tận dưới giếng sâu, / Nghĩ: “Nếu cần giúp đỡ, / Nó ích lợi cho ta”.
Nidhiṁ nidheti puriso, gambhīre odakantike; Atthe kicce samuppanne, atthāya me bhavissati.
A person stores away a treasure deep underground at the water line, thinking: “When a need or duty arises, it will be there for my benefit.”
Kp 8 ⭐ (nhưng nó vẫn không đủ)
Dẫu nó không bao giờ / Ðược cất kỹ như vậy / Ở tận dưới giếng sâu, / Vẫn không đủ hoàn toàn / Giúp ích người mọi lúc. … Và khi phước đức tận, / Tất cả đều tiêu tan.
Na cassa sabbaso taṁ hoti, nidhi vassa na sabbadā … Yadā puññakkhayo hoti, sabbametaṁ vinassati.
Yet that treasure is not entirely his, nor is it always there for him … When his merit is exhausted, all of it is lost.
Kp 8 ⭐ (kho báu thật, và chỗ cất nó)
Những khi người nam, nữ, / Có bố thí, trì giới / Hoặc thiền định, trí tuệ, / Kho báu khéo để dành. / Trong chùa, tháp, Tăng đoàn, / Một cá nhân, lữ khách, / Hoặc người mẹ, người cha, / Hoặc là người anh nữa.
Yassa dānena sīlena, saṁyamena damena ca; Nidhī sunihito hoti, itthiyā purisassa vā.
When a woman or a man has a treasure well stored away by giving, by ethical conduct, by restraint and self-control…
Kp 8 ⭐ (bốn dòng làm nên cả bài)
Kho này khéo để dành, / Ði theo người, không mất, / Giữa mọi vật phải rời, / Người cùng đi với nó. / Không ai khác chia phần, / Không cướp nào lấy được.
Eso nidhi sunihito, ajeyyo anugāmiko; Pahāya gamanīyesu, etaṁ ādāya gacchati. Asādhāraṇamaññesaṁ, acorāharaṇo nidhi.
This treasure is well stored away, unconquerable, following one along. Among things that must be left behind, this is what one takes when going. It cannot be shared with others, and no thief can carry it off.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
tirokuṭṭangoài bức tườngtên bài Kp 7
petangạ quỷ; nghĩa gốc là “NGƯỜI ĐÃ ĐI”cùng gốc với pitṛngười đã khuất, tổ tiên
dakkhiṇāvật cúng dường, phẩm vật dângchữ dùng cho đồ cúng có hồi hướng
saṅghamhi suppatiṭṭhitāKHÉO ĐẶT vào chư Tăngchỗ đặt quyết định hiệu quả, theo bài kinh
upakappatitới nơi, đến được, có tác dụngchữ của hai ví dụ về nước
ruṇṇa · soka · paridevanākhóc · sầu · than thởba thứ kinh nói là KHÔNG ích lợi cho người khuất
nidhikho báu chôn giấutên bài Kp 8
anugāmikaĐI THEO ngườichữ đẹp nhất của bài: cái đi theo mình qua cửa tử
acorāharaṇakhông kẻ trộm nào lấy đượca-cora-āharaṇa
puññakkhayaphước đức cạn hếtlý do cuối cùng khiến kho báu chôn giấu tiêu tan

Hai bài kệ này được đặt cạnh nhau, và nên đọc chung như vậy.

Một bài nói về THỨ MÌNH GỬI ĐƯỢC cho người đã chết. Bài kia nói về THỨ MÌNH MANG THEO ĐƯỢC khi chính mình đi.

Xin bắt đầu từ bài trước, vì với một gia đình Việt Nam thì nó đã QUEN mà chưa được BIẾT.

Mỗi mâm cúng giỗ, mỗi mùa Vu Lan, mỗi ngày kỵ trong nhà người Việt đều đứng trên bản kinh này. Nhưng ít ai đã đọc nó.

Và điều nó THẬT SỰ nói thì cụ thể hơn điều phần đông người ta tưởng.

Thứ nhất, kinh KHÔNG nói người khuất đói vì con cháu vô tâm. Kinh nói “sự kiện này phát sinh từ NGHIỆP XƯA của họ.”

Điều ấy quan trọng, vì nó GỠ ĐI cái mặc cảm tội lỗi mà bản kinh này hay bị đem ra tạo nên.

Thứ hai, kinh nêu LÝ DO vì sao việc cúng có tác dụng — và lý do ấy THỰC TẾ, không huyền bí.

“Tại đó không cấy cày, không nuôi súc vật, không buôn bán, không trao đổi tiền vàng.” Họ KHÔNG TỰ LÀM RA ĐƯỢC. Nên thứ tới được với họ phải đến TỪ ĐÂY.

Thứ ba — và đây là câu một Huynh Trưởng nên mang theo.

“KHÔNG KHÓC THAN, SẦU MUỘN, không thương tiếc cách gì — giúp ích loài ngạ quỷ.”

Kinh nói thẳng: NƯỚC MẮT KHÔNG TỚI ĐƯỢC CHỖ ẤY. VIỆC LÀM thì tới.

Câu ấy KHÔNG phải lời trách người đang đau buồn. Nó là lời chỉ chỗ ĐẶT nỗi đau buồn ấy vào.

Bây giờ tới bài thứ hai. Nó mở đầu bằng một người làm một việc HOÀN TOÀN HỢP LÝ.

Ông ta chôn của cải xuống sâu, phòng ngày cần tới. Không ai gọi việc ấy là dại.

Và bài kinh cũng KHÔNG gọi việc ấy là dại. Bài kinh gọi nó là KHÔNG ĐỦ.

Rồi kinh kể ra những cách một kho báu chôn giấu bị mất, và bản kê ấy rất cụ thể: bị dời chỗ · quên mất dấu · rắn thần lấy · thần linh tẩu tán · người thừa kế dời đi lúc chủ không thấy.

Rồi tới nguyên nhân cuối cùng, cái nguyên nhân không ai tính trước được: “Và khi PHƯỚC ĐỨC TẬN, tất cả đều tiêu tan.”

Rồi bài kinh xoay: có một lối cất khác, và nó làm bằng BỐN thứ. BỐ THÍ · TRÌ GIỚI · THIỀN ĐỊNH · TRÍ TUỆ.

Và xin để ý CHỖ CẤT cái kho ấy, vì bản kê rất đỗi gần gũi.

“Trong chùa, tháp, Tăng đoàn” — rồi: “một cá nhân, LỮ KHÁCH, hoặc NGƯỜI MẸ, NGƯỜI CHA, hoặc là NGƯỜI ANH nữa.”

Một việc tử tế với chính mẹ mình được kể như MỘT CHỖ CẤT KHO BÁU. Xin thưa, đó là điều nên nói với các em.

Rồi tới bốn dòng mà cả bài kệ tồn tại vì chúng.

“ĐI THEO NGƯỜI, KHÔNG MẤT.” “Giữa mọi vật PHẢI RỜI, người CÙNG ĐI VỚI NÓ.” “Không cướp nào lấy được.”

Đọc hai bài cạnh nhau thì chúng trả lời cho nhau.

Bài trước: THỨ CÒN GỬI ĐƯỢC cho người đã đi. Bài sau: THỨ ĐI THEO MÌNH khi tới lượt mình.

Và ở cả hai bài, câu trả lời là CÙNG MỘT CHỮ: việc mình đã làm.

  • “Người khuất khổ vì con cháu vô tâm.” Kinh nói tình trạng ấy “phát sinh từ NGHIỆP XƯA của họ”.
  • “Khóc nhiều mới là có hiếu.” Kinh nói thẳng khóc than và sầu muộn KHÔNG ích lợi cho người khuất; việc cúng dường thì có.
  • “Kinh chê việc dành dụm.” Kho báu chôn giấu không bị gọi là dại. Nó bị gọi là KHÔNG ĐỦ — vì nó không đi theo được.
  • “Muốn có phước phải tới chùa.” Bản kê của kinh có cả lữ khách, người mẹ, người cha, người anh.
  • Ngành Oanh. Hỏi: “Khi dọn nhà, con mang theo được cái gì, và phải bỏ lại cái gì?” Rồi kể cái kho báu ĐI THEO được.
  • Ngành Thiếu. Trước Vu Lan, đọc to Kp 7. Phần lớn gia đình chưa từng nghe bản kinh mà tục lệ nhà mình đứng trên đó.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Dùng bài này với em nào vừa mất người thân — nhưng dùng TRỌN bài, đừng dùng nửa: vừa nói nước mắt không tới được, vừa chỉ ra việc làm thì tới.
  • Và từ Kp 8: cho các em kể bốn thứ làm nên kho báunhững chỗ cất nórồi để ý rằng “người mẹ” có trong danh sách ấy.
  • Vì sao kinh nói việc cúng có tác dụng? Nêu lý do thực tế kinh đưa ra.
  • Kinh nói gì về việc khóc than?
  • Vì sao kho báu chôn giấu bị gọi là “không đủ” chứ không bị gọi là “dại”?
  • Kể bốn thứ làm nên kho báu thật, và ba chỗ có thể cất nó.
  • Hai bài kệ trả lời cho nhau ra sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN cả hai bài.

Xin ghi rõ một điểm về cách trình bày trang này: hai bài đều là KỆ, và bản Việt của HT. Thích Minh Châu dịch theo thể năm chữ nên số dòng tiếng Việt KHÔNG khớp một-một với số dòng Pāli. Vì vậy ở phần trích chúng tôi để bản Việt lên trướcghép Pāli theo Ý của từng đoạn kệ, không ghép theo từng dòng — xin bác đọc phần Pāli như câu đối chiếu, không phải bản phiên dòng-đối-dòng. Bài Kp 7 cũng có mặt trong Ngạ Quỷ Sự (Petavatthu); chúng tôi chưa đối chiếu bản ở Petavatthu, chỉ dùng bản trong Tiểu Tụng. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng: Kp 7 · Kp 8. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.