G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.20
Tăng Chi Bộ · Bố Thí Thế Nào Là Hơn

Kinh Velāma

Velāma Sutta — AN 9.20 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Velāma

Ông Cấp Cô Độc thưa rằng nhà mình vẫn bố thí, nhưng chỉ là đồ thô xấu. Đức Phật nói: đồ thô hay đồ quý không phải chỗ quyết định — rồi Ngài kể chuyện một đại thí đàn khổng lồ thời xưa, và xếp thang bậc.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, bài 20
  • Người nghe — gia chủ Cấp Cô Độc
  • Nhân vật trong chuyện — Bà-la-môn Velāma thời xưa, chính là tiền thân Đức Phật

Kinh Velàma (Tăng Chi Bộ 9.20) được Thế Tôn nói tại Jetavana cho gia chủ Anàthapindika. Khi được hỏi gia đình có bố thí không, gia chủ thưa có nhưng chỉ là món ăn thô tệ và cháo chua. Nhân đó, Thế Tôn dạy điều then chốt: giá trị của bố thí không nằm ở vật thí thô hay tế, mà ở CÁCH cho. Bố thí không cẩn thận, không chú tâm, không tự tay mình, đem vật quăng bỏ đi mà cho, không nghĩ đến tương lai — thì quả dị thục là tâm không hưởng được các thứ thù diệu, và ngay cả con cái, vợ, người giúp việc trong nhà cũng không khéo nghe, không lóng tai. Ngược lại, bố thí có cẩn thận, có chú tâm, tự tay mình cho, cho vật tốt, có nghĩ đến tương lai — thì quả trái lại, tốt đẹp, và người trong nhà biết nghe, biết an trú tâm hiểu biết.\n\nTiếp đó, Thế Tôn kể chuyện Bà-la-môn Velàma thuở xưa bố thí vô cùng rộng lớn: 84.000 bát vàng đựng đầy bạc, 84.000 bát bạc đựng đầy vàng, 84.000 bát đồng đựng đầy châu báu, cùng voi, xe, bò sữa, giường nằm, vải quý; đồ ăn uống nhiều đến nỗi \"chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông\". Rồi Ngài xác nhận chính Ngài là Velàma lúc ấy. Nhưng — điểm xoay của bài kinh — cuộc đại thí ấy \"không có một ai xứng đáng để nhận bố thí, không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy\".\n\nTừ đó Thế Tôn mở ra một thang bậc công đức tăng dần: cúng dường một vị đầy đủ chánh kiến còn hơn cả đại thí của Velàma; rồi hơn nữa là một vị Nhất lai, một vị Bất lai, một vị A-la-hán, một vị Ðộc Giác Phật, Như Lai bậc Chánh Ðẳng Giác, chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ, xây tinh xá cho chúng Tăng bốn phương, quy y Tam Bảo với tâm tịnh tín, thọ trì năm học pháp — và trên tất cả: tu tập từ tâm giải thoát dù chỉ trong khoảnh khắc vắt sữa bò, rồi cao nhất là tu tập tưởng vô thường dù chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay.\n\nBài học cho Huynh Trưởng và đoàn sinh: của cho không bằng cách cho; và dù cho nhiều đến đâu, việc gieo trồng tâm từ và trí tuệ quán vô thường — dẫu chỉ một thoáng ngắn ngủi — vẫn là cúng dường cao thượng nhất.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, vườn ông Anàthapindika. Gia chủ Anàthapindika đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn hỏi ông có bố thí trong gia đình không, ông thưa có nhưng chỉ là món ăn thô tệ và cháo chua (đoạn 1–2.3).
  • 2. Bố thí không cẩn thận và quả dị thục — Dù vật thí thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, không chú tâm, không tự tay mình, bố thí vật quăng đi, không nghĩ đến tương lai, thì quả dị thục là tâm không thiên về thưởng thức các vật thù diệu, và người trong nhà không khéo nghe, không lóng tai (đoạn 2.4–2.9).
  • 3. Bố thí có cẩn thận và quả dị thục — Ngược lại, bố thí có cẩn thận, có chú tâm, tự tay mình, không bố thí vật quăng bỏ, có nghĩ đến tương lai, thì tâm thiên về thưởng thức các món thù diệu, và người trong nhà khéo nghe, lóng tai, an trú tâm hiểu biết (đoạn 3.1–3.6).
  • 4. Đại thí của Bà-la-môn Velàma — Thuở xưa có Bà-la-môn tên Velàma bố thí rộng lớn: 84.000 bát vàng đựng đầy bạc, 84.000 bát bạc đựng đầy vàng, 84.000 bát đồng đựng đầy châu báu, 84.000 voi, xe, bò sữa, thiếu nữ, giường nằm, vải quý, cùng đồ ăn uống nhiều đến mức "chúng tôi nghĩ chúng chảy như dòng sông" (đoạn 4). [Ghi chú đối chiếu: bản Hoà thượng Minh Châu ghi “châu báu”; Pāli là hiraññapūrāni — đầy vàng, tiền vàng (bản Anh: “filled with gold coins”). Và “84.000 thước vải” trong bản Việt, Pāli là caturāsīti vatthakoṭisahassāni — tức 84.000 koṭi, một con số lớn hơn rất nhiều. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng và ghi chỗ khác biệt.]
  • 5. Thế Tôn xác nhận chính Ngài là Velàma; đại thí ấy không có người xứng đáng thọ nhận — Thế Tôn dạy chớ nghĩ Velàma là ai khác: chính Ta là Bà-la-môn Velàma. Nhưng khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận, không có ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy (đoạn 5).
  • 6. Thang bậc công đức: từ cúng một vị chánh kiến đến quán vô thường — Chuỗi so sánh tăng dần: bố thí cho một vị đầy đủ chánh kiến hơn đại thí của Velàma; rồi 100 vị chánh kiến < một vị Nhất lai < ... một vị Bất lai < một vị A-la-hán < một vị Ðộc Giác Phật < Như Lai bậc A-la-hán Chánh Ðẳng Giác < chúng Tỷ-kheo với đức Phật là vị thượng thủ < xây tinh xá cho chúng Tăng bốn phương < quy y Tam Bảo với tâm tịnh tín < thọ trì học pháp (năm giới) < tu tập từ tâm giải thoát dù chỉ trong khoảnh khắc vắt sữa bò < tu tập tưởng vô thường dù chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay (đoạn 6–9.1).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.20:2.1–2.3 (TTC 1)
“Api nu te, gahapati, kule dānaṁ dīyatī”ti? “Dīyati me, bhante, kule dānaṁ; tañca kho lūkhaṁ kaṇājakaṁ biḷaṅgadutiyan”ti.
—Này Gia chủ, Ông có bố thí trong gia đình của Ông không?
—Bạch Thế Tôn, trong gia đình của con có bố thí, nhưng chỉ có món ăn thô tệ làm bằng hột gạo bể, và cháo chua.
"Householder, I wonder whether your family gives gifts?" "It does, sir. But only coarse sour gruel with false black pepper."
AN 9.20:2.4–2.6 (TTC 2)
“Lūkhañcepi, gahapati, dānaṁ deti paṇītaṁ vā; tañca asakkaccaṁ deti, acittīkatvā deti, asahatthā deti, apaviddhaṁ deti, anāgamanadiṭṭhiko deti.
—Này Gia chủ, dầu bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí không cẩn thận, bố thí không có chú tâm, bố thí không tự tay mình, bố thí những vật quăng đi, bố thí không có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm không thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu…
"Householder, someone might give a gift that's either coarse or fine. But they give it carelessly, thoughtlessly, not with their own hand. They give the dregs, and they give without consideration for consequences."
AN 9.20:3.1–3.6 (TTC 3)
tañca sakkaccaṁ deti, cittīkatvā deti, sahatthā deti, anapaviddhaṁ deti, āgamanadiṭṭhiko deti… Evañhetaṁ, gahapati, hoti sakkaccaṁ katānaṁ kammānaṁ vipāko.
Này Gia chủ, dầu có bố thí các món thô hay tế, nếu bố thí có cẩn thận, bố thí có chú tâm, bố thí tự tay mình, bố thí những vật không quăng bỏ đi, bố thí có nghĩ đến tương lai; chỗ nào, chỗ nào, sự bố thí ấy sanh quả dị thục, thời tâm thiên về thưởng thức các món ăn thù diệu, tâm thiên về thưởng thức y áo thù diệu… Vì sao? Này Gia chủ, như vậy là quả dị thục của việc làm có cẩn thận.
"And they give it carefully, thoughtfully, with their own hand. They don't give the dregs, and they give with consideration for consequences… Because that is the result of deeds done carefully."
AN 9.20:4.1 (TTC 4 — phần Pāli chỉ trích đoạn 4.1)
Bhūtapubbaṁ, gahapati, velāmo nāma brāhmaṇo ahosi.
Thuở xưa, này Gia chủ, có một vị Bà-la-môn tên là Velàma. Vị ấy bố thí rộng lớn như sau: Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng vàng đựng đầy bạc. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng bạc đựng đầy vàng. Vị ấy bố thí 84.000 bát bằng đồng đựng đầy châu báu.
"Once upon a time, householder, there was a brahmin named Velāma. He gave the following gift, a great offering. 84,000 gold cups filled with silver. 84,000 silver cups filled with gold. 84,000 bronze cups filled with gold coins."
AN 9.20:5.4 (TTC 5 — phần Pāli chỉ trích đoạn 5.4)
Ahaṁ tena samayena velāmo brāhmaṇo ahosiṁ.
Có thể, này Gia chủ, Ông nghĩ: “Có thể Bà-la-môn Velàma là một người nào khác, vị đã bố thí một cách rộng lớn như vậy”. Này Gia chủ, chớ có nghĩ như vậy. Chính lúc ấy, Ta là Bà-la-môn Velàma, chính Ta đã bố thí rộng lớn ấy. Nhưng này Gia chủ, khi bố thí ấy được cho, không có một ai xứng đáng để nhận bố thí. Không có một ai làm cho thanh tịnh bố thí ấy.
"I myself was the brahmin Velāma at that time. I gave that gift, a great offering. But at that event there was no one worthy of a religious donation, and no one to purify the religious donation."
AN 9.20:6.1 (TTC 5)
Yaṁ, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya, idaṁ tato mahapphalataraṁ.
Này Gia chủ, dầu Bà-la-môn Velàma bố thí có rộng lớn, nếu có ai bố thí cho một người chánh kiến, bố thí này lớn hơn quả lớn kia.
"It would be more fruitful to feed one individual accomplished in view than that great offering of Velāma."
AN 9.20:8.9 (TTC 5)
yo ca antamaso gandhohanamattampi mettacittaṁ bhāveyya, (…) idaṁ tato mahapphalataraṁ.
…và ai tu tập từ tâm giải thoát, cho đến trong khi khoảnh khắc vắt sữa bò, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
"It would be more fruitful to develop a heart of love—even just as long as it takes to pull a cow's udder—than to undertake the training rules."
AN 9.20:9.1 (TTC 5, câu kết)
Yañca, gahapati, velāmo brāhmaṇo dānaṁ adāsi mahādānaṁ, yo cekaṁ diṭṭhisampannaṁ bhojeyya …
…và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc vắt sữa bò, tu tập từ tâm, và có ai dầu chỉ trong một khoảnh khắc búng ngón tay, tu tập tưởng vô thường, bố thí này quả lớn hơn bố thí kia.
"It would be more fruitful to develop the perception of impermanence—even as long as a finger-snap—than to do all of these things, including developing a heart of love for as long as it takes to pull a cow's udder."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dānabố thí, sự choTrọng tâm của kinh: không chỉ cho gì, mà cho như thế nào.
mahādānađại thí, cuộc bố thí rộng lớnChỉ cuộc bố thí của Bà-la-môn Velàma.
sakkaccaṁ detibố thí có cẩn thận, cung kính
asakkaccaṁ detibố thí không cẩn thận
cittīkatvācó chú tâm, trân trọng
sahatthātự tay mình (cho)
vipākaquả dị thục, kết quả chín muồi của nghiệp
mahapphalataraquả lớn hơnTừ khóa lặp lại suốt thang bậc so sánh.
diṭṭhisampannavị đầy đủ chánh kiến (bậc Dự lưu)Nghĩa đen: đầy đủ (chánh) kiến. Việc đồng nhất vị này với bậc Dự Lưu là cách hiểu theo Chú giải — đúng theo truyền thống, nhưng là một lớp giải thích chồng lên nghĩa đen của chữ.
sakadāgāmīNhất lai
anāgāmīBất lai
arahantA-la-hán
paccekabuddhaÐộc Giác Phật
tathāgataNhư Lai
saṅghachúng Tăng
cātuddisa saṅghachúng Tăng trong bốn phươngNgười cúng tinh xá là cúng cho Tăng chúng khắp bốn phương, không riêng ai.
saraṇagamanaquy y (Phật, Pháp, Tăng)
sikkhāpadahọc pháp, giới điều (năm giới)
veramaṇītừ bỏ, tránh xa
mettacitta / mettā cetovimuttitừ tâm, từ tâm giải thoát
gandhohanamattakhoảnh khắc vắt sữa bòHình ảnh chỉ thời gian rất ngắn.
accharāsaṅghātamattakhoảnh khắc búng ngón tayThời gian còn ngắn hơn nữa — tu tưởng vô thường trong chừng ấy đã hơn tất cả.
aniccasaññātưởng vô thườngĐỉnh cao của thang bậc trong kinh này.

Chỗ mở đầu rất tế nhị. Ông Cấp Cô Độc — người bố thí nổi tiếng nhất — thưa rằng nhà mình vẫn cho, nhưng chỉ cho đồ thô. Đức Phật đáp: cho đồ thô hay đồ quý không phải chỗ quyết định; chỗ quyết định là cho với tâm nào.

Rồi Ngài kể chuyện Velāma. Vị Bà-la-môn ấy làm một đại thí đàn khổng lồ: 84.000 bát vàng đựng đầy bạc, 84.000 bát bạc đựng đầy vàng, 84.000 bát đồng đựng đầy châu báu, cùng voi, ngựa, xe, bò sữa, vải quý… Con số cố ý lớn đến mức khó hình dung.

Và rồi Ngài lật ngược. Đại thí đàn ấy — dù lớn đến vậyvẫn không bằng cúng dường cho MỘT vị đầy đủ chánh kiến. Rồi cứ thế đi lên: một vị Nhất Lai hơn nữa, một vị Bất Lai, một vị A-La-Hán, một vị Độc Giác, Đức Phật, chúng Tăng có Phật dẫn đầu, xây tinh xá cho bốn phương Tăng, quy y Tam Bảo, giữ năm giới.

Và bậc cao nhất làm cả bài kinh đổi hướng. Hơn tất cả những điều trên là tu tập tưởng vô thường — dù chỉ trong khoảnh khắc búng ngón tay. Một khoảnh khắc quán vô thường hơn cả một kho vàng.

Xin thưa cho cân, kẻo dạy thành lệch. Kinh không chê bố thí. Nó đặt bố thí vào một thang bậc có thật, và mọi bậc đều được kể là có công đức. Điều nó nói là: công đức lớn nhất không mua được bằng của cải.

Vì sao chi tiết “búng ngón tay” quan trọng.đặt bậc cao nhất trong tầm tay mọi người — kể cả người không có gì để cho. Đại thí đàn thì phải giàu mới làm được; quán vô thường một khoảnh khắc thì ai cũng làm được.

Hai chỗ chúng tôi ghi rõ về khác biệt bản dịch. Bản Hoà thượng ghi "bát đồng đựng đầy châu báu"; Pāli là hiraññapūrāniđầy vàng, tiền vàng. Và "84.000 thước vải"; Pāli là caturāsīti vatthakoṭisahassāni84.000 koṭi, một con số lớn hơn rất nhiều. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng và ghi chỗ khác biệt.

Và một chỗ về thuật ngữ. Diṭṭhisampanna nghĩa đen chỉ là "đầy đủ chánh kiến". Việc đồng nhất vị này với bậc Dự Lưucách hiểu theo Chú giải — đúng theo truyền thống, nhưng là một lớp giải thích chồng lên nghĩa chữ.

  • “Cho nhiều thì phước nhiều.” Kinh xếp một khoảnh khắc quán vô thường trên cả đại thí đàn.
  • “Vậy khỏi bố thí.” Kinh kể mọi bậc đều có công đức — chỉ xếp thứ tự.
  • “Phải cho đồ quý mới được phước.” Ngài nói ngay từ đầu: thô hay quý không phải chỗ quyết định.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy câu mở đầu: cho đồ đơn sơ mà cho với lòng tốt thì vẫn quý.
  • Ngành Thiếu. Kể thang bậc, rồi hỏi: vì sao bậc cao nhất lại là điều ai cũng làm được?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài rất hợp khi đoàn tổ chức quyên góp. Đọc kèm AN 5.31.
  • Điều gì quyết định giá trị của bố thí?
  • Kể thang bậc từ thấp lên cao.
  • Vì sao bậc cao nhất lại là búng ngón tay?
  • Kinh có chê bố thí không?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 6 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.