G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 5.31
Tăng Chi Bộ · Hai Người Cùng Tin

Kinh Công Chúa Sumanā

Sumanā Sutta — AN 5.31 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Công Chúa Sumanā

Công chúa Sumanā hỏi một câu rất sắc: hai người giống nhau hết — cùng lòng tin, cùng giới, cùng trí tuệ — chỉ khác một điều: người này bố thí, người kia không. Vậy khác nhau chỗ nào?

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Phẩm Sumanā
  • Người hỏicông chúa Sumanā, con vua Pasenadi, đi cùng năm trăm cỗ xe
  • Cách hỏi — đặt hai trường hợp giống hệt nhau, chỉ khác một điểm
  • Câu trả lời — khác nhau trên năm phương diện, xét qua nhiều cảnh giới

Kinh này ghi lại cuộc vấn đáp giữa công chúa Sumanā và Đức Phật tại rừng Kỳ-đà, vườn ông Cấp Cô Độc. Công chúa nêu một câu hỏi rất thực tế: giả sử có hai người đệ tử của Thế Tôn hoàn toàn ngang nhau về ba mặt căn bản — đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ — chỉ khác một điều: "một có bố thí, một không bố thí". Sau khi chết cả hai đều sanh lên cõi lành Thiên giới. Vậy giữa hai vị ấy có gì khác nhau? Đức Phật trả lời: "Có sự sai biệt, này Sumanà." Người có bố thí, khi làm vị Thiên, vượt qua người không bố thí trên năm phương diện: thiên thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên danh xưng, thiên tăng thượng. Công chúa hỏi tiếp ba lần nữa, theo bốn chặng của một đời sống tu học. Khi cả hai trở lại làm người: vẫn có sai biệt, cũng trên năm phương diện tương ứng (nhân thọ mạng, nhân sắc, nhân lạc, nhân danh xưng, nhân tăng thượng). Khi cả hai xuất gia: vẫn có sai biệt — vị từng bố thí thường hay được thỉnh mời cúng dường y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; và được các vị đồng Phạm hạnh đối xử với nhiều thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khả ái. Nhưng đến câu hỏi thứ tư — nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán — Đức Phật dạy: "Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát." Đây là điểm then chốt: phước bố thí trang nghiêm cho đời sống ở mọi cảnh giới, nhưng giải thoát thì không có hạng bậc cao thấp. Kết thúc, công chúa tán thán, và Thế Tôn nói kệ ví người đủ giới, có lòng tin, biết bố thí như mặt trăng không uế sáng chói giữa quần sao, và như mây mưa sấm sét tràn đầy thung lũng và đất bằng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana, khu vườn ông Cấp Cô Độc. Sumanà con gái vua cùng năm trăm thiếu nữ trên năm trăm cỗ xe đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên (an5.31:1.1–1.2 / TTC 1).
  • 2. Câu hỏi thứ nhất — khi làm chư Thiên — Hai đệ tử đồng đẳng về tín, giới, tuệ; một có bố thí, một không. Cả hai sanh Thiên giới. Thế Tôn đáp: có sai biệt, người có bố thí vượt qua trên năm phương diện — thiên thọ mạng, thiên sắc, thiên lạc, thiên danh xưng, thiên tăng thượng (an5.31:2.1–3.4 / TTC 2–3).
  • 3. Câu hỏi thứ hai — khi trở lại làm người — Nếu từ Thiên giới mạng chung trở lại làm người, vẫn có sai biệt trên năm phương diện: nhân thọ mạng, nhân sắc, nhân lạc, nhân danh xưng, nhân tăng thượng (an5.31:4.1–4.5 / TTC 4–5).
  • 4. Câu hỏi thứ ba — khi cả hai xuất gia — Nếu cả hai xuất gia, vẫn có sai biệt: vị có bố thí thường hay được yêu cầu nhận y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh; và được các vị đồng Phạm hạnh đối xử với nhiều thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp khả ái, nhiều giúp đỡ khả ái (an5.31:5.1–5.6 / TTC 6–7).
  • 5. Câu hỏi thứ tư — khi cả hai chứng A-la-hán — Thế Tôn dạy: ở đây Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát (an5.31:6.1–6.2 / TTC 8–9).
  • 6. Lời tán thán của công chúa và lời ấn khả của Thế Tôn — Công chúa tán thán 'Thật vi diệu thay... vừa đủ để bố thí, vừa đủ để làm các công đức', vì công đức giúp ích cho chư Thiên, cho loài Người, cho người xuất gia. Thế Tôn xác nhận: 'Sự việc là như vậy, này Sumanà' (an5.31:7.1–7.6 / TTC 10).
  • 7. Bài kệ kết — Ví dụ mặt trăng không uế giữa quần sao, và mây mưa sấm sét tràn đầy thung lũng, đất bằng; người đủ giới, có lòng tin, đầy tri kiến, đệ tử bậc Chánh Giác vượt xan tham trên năm phương diện: thọ mạng, danh xưng, dung sắc, an lạc, tài sản sung mãn, chết hưởng hỷ lạc thiên (an5.31:8.1–13.5 / TTC 11).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 5.31 : 1.1 (TTC 1)
Ekaṁ samayaṁ …pe… anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho sumanā rājakumārī pañcahi rathasatehi pañcahi rājakumārisatehi parivutā yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi.
Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại khu vườn của Anàthapindika. Rồi Sumanà, con gái vua, với năm trăm thiếu nữ hộ tống trên năm trăm cỗ xe, đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. Then Princess Sumanā, escorted by five hundred chariots and five hundred royal maidens, went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
AN 5.31 : 2.1–2.4 (TTC 2)
“Idhassu, bhante, bhagavato dve sāvakā samasaddhā samasīlā samapaññā—eko dāyako, eko adāyako. Te kāyassa bhedā paraṁ maraṇā sugatiṁ saggaṁ lokaṁ upapajjeyyuṁ. Devabhūtānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti?
—Ở đây, bạch Thế Tôn, có hai đệ tử của Thế Tôn đồng đẳng về tín, đồng đẳng về giới, đồng đẳng về tuệ, một có bố thí, một không bố thí. Sau khi thân hoại mạng chung, cả hai được sanh lên cõi lành Thiên giới. Giữa hai vị thiên ấy, có sự đặc thù gì, có sự sai khác gì?
"Sir, suppose there were two disciples equal in faith, ethics, and wisdom. One is a giver, one is not. When their body breaks up, after death, they're reborn in a good place, a heavenly realm. When they have become gods, would there be any distinction or difference between them?"
AN 5.31 : 3.1–3.4 (TTC 3)
“Siyā, sumane”ti bhagavā avoca: “yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ devabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—dibbena āyunā, dibbena vaṇṇena, dibbena sukhena, dibbena yasena, dibbena ādhipateyyena.”
—Có sự sai biệt, này Sumanà. […] Người có bố thí, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không có bố thí trên năm phương diện. Về thiên thọ mạng, về thiên sắc, về thiên lạc, về thiên danh xưng, về thiên tăng thượng. Người có bố thí, này Sumanà, khi được làm vị Thiên, vượt qua vị Thiên không bố thí trên năm phương diện này.
"There would be, Sumanā," said the Buddha. "As a god, the one who was a giver surpasses the other in five respects: heavenly lifespan, beauty, happiness, glory, and sovereignty."
AN 5.31 : 4.3–4.4 (TTC 5)
“yo so, sumane, dāyako so amuṁ adāyakaṁ manussabhūto samāno pañcahi ṭhānehi adhigaṇhāti—mānusakena āyunā, mānusakena vaṇṇena, mānusakena sukhena, mānusakena yasena, mānusakena ādhipateyyena.”
Người có bố thí, khi được làm người, vượt qua vị làm người không bố thí trên năm phương diện: Về nhân thọ mạng, về nhân sắc, về nhân lạc, về nhân danh xưng, về nhân tăng thượng.
"As a human being, the one who was a giver surpasses the other in five respects: human lifespan, beauty, happiness, glory, and sovereignty."
AN 5.31 : 5.3–5.4 (TTC 7)
“yācitova bahulaṁ cīvaraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ piṇḍapātaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ senāsanaṁ paribhuñjati appaṁ ayācito, yācitova bahulaṁ gilānapaccayabhesajjaparikkhāraṁ paribhuñjati appaṁ ayācito.”
Người có bố thí, khi được xuất gia, vượt qua vị xuất gia không có bố thí trên năm phương diện: Thường hay được yêu cầu nhận y, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận đồ ăn khất thực, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận sàng tọa, ít khi không được yêu cầu; thường hay được yêu cầu nhận dược phẩm trị bệnh, ít khi không được yêu cầu.
"They usually use only what they've been invited to accept—robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick—rarely using them without invitation."
AN 5.31 : 6.1–6.2 (TTC 8–9)
“Sace pana te, bhante, ubho arahattaṁ pāpuṇanti, arahattappattānaṁ pana nesaṁ, bhante, siyā viseso, siyā nānākaraṇan”ti? “Ettha kho panesāhaṁ, sumane, na kiñci nānākaraṇaṁ vadāmi, yadidaṁ vimuttiyā vimuttin”ti.
—Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai đều chứng quả A-la-hán. Với hai vị chứng đạt A-la-hán ấy, bạch Thế Tôn có sự đặc thù nào, có sự sai khác nào? —Ở đây, này Sumanà, Ta nói không có sự sai khác nào, tức là so sánh giải thoát với giải thoát.
"But sir, if they both attain perfection, as perfected ones would there still be any distinction or difference between them?" "In that case, I say there is no difference between the freedom of one and the freedom of the other."
AN 5.31 : 7.1–7.3 (TTC 10)
“Acchariyaṁ, bhante, abbhutaṁ, bhante. Yāvañcidaṁ, bhante, alameva dānāni dātuṁ alaṁ puññāni kātuṁ; yatra hi nāma devabhūtassāpi upakārāni puññāni, manussabhūtassāpi upakārāni puññāni, pabbajitassāpi upakārāni puññānī”ti.
—Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Xa cho đến như vậy là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để làm cho các công đức. Vì rằng chúng là những giúp đỡ, những công đức cho chư Thiên, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho loài Người, chúng là những giúp đỡ, những công đức cho các người xuất gia.
"It's incredible, sir, it's amazing! This is quite enough to justify giving gifts and making merit. For merit is helpful for those who have become gods, human beings, and renunciates."
AN 5.31 : 9.1–10.4 (TTC 11, bài kệ)
“Yathāpi cando vimalo, gacchaṁ ākāsadhātuyā; Sabbe tārāgaṇe loke, ābhāya atirocati. Tatheva sīlasampanno, saddho purisapuggalo; Sabbe maccharino loke, cāgena atirocati.”
Như mặt trăng không uế, / Ði giữa hư không giới, / Với ánh sáng bừng chói, / Giữa quần sao ở đời. / Cũng vậy, người đủ giới, / Hạng người có lòng tin, / Với bố thí, bừng chói, / Giữa xan tham ở đời.
"The moon so immaculate, journeying across the dimension of space; outshines with its radiance all the world's stars. So too, a faithful individual, perfect in ethics, outshines with their generosity all the world's stingy people."
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dāna / dāyakabố thí / người có bố thí (người thí chủ)adāyaka = người không bố thí
saddhā (samasaddhā)lòng tin, tín; samasaddhā = đồng đẳng về tín
sīla (samasīla)giới; đồng đẳng về giới
paññā (samapaññā)tuệ; đồng đẳng về tuệ
āyuthọ mạngdibbena āyunā = thiên thọ mạng; mānusakena āyunā = nhân thọ mạng
vaṇṇasắc, dung sắc
sukhalạc, an lạc
yasadanh xưng, danh tiếng
ādhipateyyatăng thượng, quyền lực làm chủ (HT. Minh Châu dịch: tăng thượng)
puññacông đức, phước
macchariya / maccharīxan tham, keo kiệt
cāgathí xả, buông xả bố thí
vimuttigiải thoátvimuttiyā vimuttiṁ = so sánh giải thoát với giải thoát — chỗ không còn sai khác
arahattaquả A-la-hán
pabbajita / agārasmā anagāriyaṁ pabbajatingười xuất gia / xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
sabrahmacārīvị đồng Phạm hạnh
cīvara, piṇḍapāta, senāsana, gilānapaccayabhesajjaparikkhāray, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh (bốn vật dụng)
sugati saggaṁ lokaṁcõi lành, Thiên giới

Câu hỏi được đặt như một phép thử.giữ nguyên mọi thứ khác — lòng tin, giới, tuệ — và chỉ đổi một điều. Đây là cách hỏi rất chặt, không cho phép trả lời chung chung.

Năm phương diện, và Đức Phật nói rất cụ thể. Người có bố thí, khi sanh làm chư Thiên hay làm người, đều vượt hơn về thọ mạng, dung sắc, an lạc, danh xưng và uy lực. Không phải hơn về đạo hạnh — mà hơn về hoàn cảnh.

Rồi đến chỗ hay nhất, và ít ai để ý. Bà hỏi tiếp: nếu cả hai xuất gia thì sao? Đức Phật đáp: người có bố thí vẫn hơn — về bốn vật dụng: y áo, đồ ăn, sàng toạ, thuốc men được cúng nhiều hơn, và các vị đồng phạm hạnh xử sự dễ chịu hơn.

Câu hỏi cuối mới là đích. Và nếu cả hai chứng A-La-Hán thì sao? Đức Phật đáp: “Ta nói rằng ở đây không có gì sai khác.” Đến chỗ giải thoát thì mọi khác biệt tan hết.

Cấu trúc bài kinh chính là bài học. Bố thí có ích thật — kinh không hạ thấp. Nhưng cái nó mang lại là thọ mạng, dung sắc, danh xưng... toàn những thứ còn nằm trong vòng sanh tử. Tới chỗ ra khỏi vòng ấy thì nó không còn tạo khác biệt nào.

Đoạn kết rất đẹp. Nghe xong, công chúa Sumanā xin quy y và nói: từ nay con sẽ bố thíkhông phải để được thọ mạng dung sắc, mà vì bà đã hiểu chỗ nó đứng.

  • “Bố thí nhiều thì tu mau đắc đạo.” Kinh nói ngược: tới A-La-Hán thì không có gì sai khác.
  • “Vậy bố thí vô ích.” Kinh kể rõ năm điều hơn, và cả khi xuất gia vẫn hơn.
  • “Người bố thí là người tốt hơn.” Kinh nói hơn về hoàn cảnh, không nói hơn về đức.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy ý: cho đi thì mình được nhiều bạn quý.
  • Ngành Thiếu. Cách công chúa hỏi: giữ mọi thứ giống nhau, chỉ đổi một điều. Đây là cách hỏi cho ra lẽ.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Câu “không có gì sai khác” rất đáng bàn khi đoàn làm việc phước thiện — làm phước để làm gì.
  • Vì sao cách hỏi của công chúa lại chặt?
  • Năm điều hơn ấy thuộc loại gì?
  • Vì sao tới A-La-Hán thì không có gì sai khác?
  • Vậy ta bố thí để làm gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 5 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.