G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 9.5
Bốn Sức Mạnh · Năm Nỗi Sợ

Kinh Những Sức Mạnh

Bala Sutta — AN 9.5 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Những Sức Mạnh

Bốn sức mạnh: TUỆ lực, TẤN lực, VÔ TỘI lực, NĂNG NHIẾP lựcthấy cho sáng, làm cho bền, sống cho sạch, và sống HOÀ NHIẾP với người. Ai đủ bốn thì VƯỢT QUA NĂM SỢ HÃI, trong đó có sợ về sinh sốngsợ xấu hổ giữa hội chúng.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Chín Pháp, kinh 5
  • Phẩm — Chánh Giác (Sambodhivagga)
  • Cùng phẩmKinh Chánh Giác (AN 9.1) đã có trên trang này
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, nhan đề Những Sức Mạnh

Kinh "Những Sức Mạnh" (Balasutta) là một bài kinh ngắn nhưng rất thiết thực, Đức Phật dạy về bốn sức mạnh mà người đệ tử cần nuôi dưỡng: tuệ lực (paññābala), tấn lực (vīriyabala), vô tội lực (anavajjabala) và năng nhiếp lực (saṅgāhabala). Tuệ lực là thấy rõ và thẩm sát bằng trí tuệ đâu là pháp thiện, đâu là pháp bất thiện; pháp nào có tội, pháp nào vô tội; pháp nào đen, pháp nào trắng; pháp nào nên thực hiện, pháp nào không nên; pháp nào xứng đáng bậc Thánh, pháp nào không. Tấn lực là dựa trên cái thấy ấy mà "khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm" để đoạn tận các pháp bất thiện và để chứng đắc các pháp thiện. Vô tội lực là thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp không lỗi lầm. Năng nhiếp lực là bốn nhiếp pháp (cattāri saṅgahavatthūni): bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự — trong đó tối thượng của bố thí là pháp thí; tối thượng của ái ngữ là thuyết pháp nhiều lần cho người thật lòng muốn nghe và lóng tai nghe; tối thượng của lợi hành là đưa người không lòng tin vào lòng tin, người không giới vào giới, người xan tham vào bố thí, người ác tuệ vào trí tuệ; tối thượng của đồng sự là sự đồng đẳng giữa các bậc Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán với nhau. Phần cuối kinh nêu lợi ích: Thánh đệ tử thành tựu bốn sức mạnh này vượt qua năm sợ hãi — sợ về sinh sống, sợ tiếng đồn xấu, sợ xấu hổ giữa hội chúng, sợ chết, sợ ác thú. Vị ấy thẩm sát rằng chính kẻ ác tuệ, kẻ biếng nhác, kẻ có ba nghiệp có tội, kẻ không năng nhiếp mới phải sợ; còn mình có đủ bốn lực nên không sợ. Với Huynh Trưởng GĐPT, kinh này là bản đồ rất gọn cho việc tu và việc dẫn dắt đoàn sinh: học hiểu cho sáng (tuệ), làm cho bền (tấn), sống cho sạch (vô tội), và sống hòa nhiếp với đoàn (nhiếp pháp).

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Nêu bốn sức mạnh — Đoạn 1.1–1.3: Thế Tôn nêu có bốn sức mạnh: tuệ lực, tấn lực, vô tội lực, năng nhiếp lực.
  • 2. Tuệ lực (paññābala) — Đoạn 1.4–1.6: định nghĩa tuệ lực là khéo quán sát, khéo thẩm sát với trí tuệ các cặp pháp thiện/bất thiện, có tội/vô tội, đen/trắng, nên thực hiện/không nên thực hiện, xứng đáng bậc Thánh/không xứng đáng.
  • 3. Tấn lực (vīriyabala) — Đoạn 2.1–2.4: khởi ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm để đoạn tận pháp bất thiện và để chứng được pháp thiện.
  • 4. Vô tội lực (anavajjabala) — Đoạn 3.1–3.3: Thánh đệ tử thành tựu thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp vô tội.
  • 5. Năng nhiếp lực (saṅgāhabala) và bốn nhiếp pháp — Đoạn 4.1–4.9: bốn nhiếp pháp — bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự — cùng cái tối thượng của mỗi nhiếp pháp; kết lại đó là bốn sức mạnh.
  • 6. Vượt qua năm sợ hãi — Đoạn 5.1–5.24: Thánh đệ tử thành tựu bốn lực vượt qua năm sợ hãi (sinh sống, tiếng đồn xấu, xấu hổ trong hội chúng, chết, ác thú), và lời tự thẩm sát của vị ấy.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 9.5:1.1–1.3
“Cattārimāni, bhikkhave, balāni. Katamāni cattāri? Paññābalaṁ, vīriyabalaṁ, anavajjabalaṁ, saṅgāhabalaṁ.
—Này các Tỷ-kheo, có bốn sức mạnh này. Thế nào là bốn? Tuệ lực, tấn lực, vô tội lực, năng nhiếp lực.
“Mendicants, there are these four powers. What four? The powers of wisdom, energy, blamelessness, and inclusiveness.
AN 9.5:1.5–1.6
Ye dhammā kusalā kusalasaṅkhātā ye dhammā akusalā akusalasaṅkhātā ye dhammā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā ye dhammā anavajjā anavajjasaṅkhātā ye dhammā kaṇhā kaṇhasaṅkhātā ye dhammā sukkā sukkasaṅkhātā ye dhammā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā ye dhammā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā ye dhammā nālamariyā nālamariyasaṅkhātā ye dhammā alamariyā alamariyasaṅkhātā, tyassa dhammā paññāya vodiṭṭhā honti vocaritā. Idaṁ vuccati, bhikkhave, paññābalaṁ.
Những pháp nào bất thiện được xem là bất thiện; những pháp nào thiện được xem là thiện; những pháp nào có tội được xem là có tội; những pháp nào vô tội được xem là vô tội, những pháp nào đen được xem là đen; những pháp nào trắng được xem là trắng; những pháp nào không nên thực hiện được xem là không nên thực hiện; những pháp nào nên thực hiện được xem là nên thực hiện; những pháp nào không xứng đáng bậc Thánh được xem là không xứng đáng bậc Thánh; những pháp nào xứng đáng bậc Thánh được xem là xứng đáng bậc Thánh. Những pháp ấy cần phải được khéo quán sát, khéo thẩm sát với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tuệ lực.
One has clearly seen and clearly contemplated with wisdom those qualities that are skillful and considered to be skillful; those that are unskillful … blameworthy … blameless … dark … bright … to be cultivated … not to be cultivated … not worthy of the noble ones … worthy of the noble ones and considered to be worthy of the noble ones. This is called the power of wisdom.
AN 9.5:2.2–2.4
Ye dhammā akusalā akusalasaṅkhātā ye dhammā sāvajjā sāvajjasaṅkhātā ye dhammā kaṇhā kaṇhasaṅkhātā ye dhammā asevitabbā asevitabbasaṅkhātā ye dhammā nālamariyā nālamariyasaṅkhātā, tesaṁ dhammānaṁ pahānāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Ye dhammā kusalā kusalasaṅkhātā ye dhammā anavajjā anavajjasaṅkhātā ye dhammā sukkā sukkasaṅkhātā ye dhammā sevitabbā sevitabbasaṅkhātā ye dhammā alamariyā alamariyasaṅkhātā, tesaṁ dhammānaṁ paṭilābhāya chandaṁ janeti vāyamati vīriyaṁ ārabhati cittaṁ paggaṇhāti padahati. Idaṁ vuccati, bhikkhave, vīriyabalaṁ.
Những pháp nào bất thiện được xem là bất thiện; những pháp nào có tội được xem là có tội; những pháp nào đen được xem là đen; những pháp nào không nên thực hiện được xem là không nên thực hiện; những pháp nào không xứng đáng bậc Thánh được xem là không xứng đáng bậc Thánh. Ðối với các pháp ấy, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm để đoạn tận. Những pháp nào thiện được xem là thiện; những pháp nào vô tội được xem là vô tội, những pháp nào trắng được xem là trắng; những pháp nào nên thực hiện được xem là nên thực hiện; những pháp nào xứng đáng bậc Thánh được xem là xứng đáng bậc Thánh. Ðối với các pháp ấy, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm để chứng được. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là tấn lực.
One generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives to give up those qualities that are unskillful and considered to be unskillful; those that are blameworthy … dark … not to be cultivated … not worthy of the noble ones and considered to be not worthy of the noble ones. One generates enthusiasm, tries, makes an effort, exerts the mind, and strives to gain those qualities that are skillful and considered to be skillful; those that are blameless … bright … to be cultivated … worthy of the noble ones and considered to be worthy of the noble ones. This is called the power of energy.
AN 9.5:3.2–3.3
Idha, bhikkhave, ariyasāvako anavajjena kāyakammena samannāgato hoti, anavajjena vacīkammena samannāgato hoti, anavajjena manokammena samannāgato hoti. Idaṁ vuccati, bhikkhave, anavajjabalaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử thành tựu thân nghiệp vô tội, thành tựu khẩu nghiệp vô tội, thành tựu ý nghiệp vô tội. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là vô tội lực.
It’s when a noble disciple has blameless conduct by way of body, speech, and mind. This is called the power of blamelessness.
AN 9.5:4.2–4.5
Cattārimāni, bhikkhave, saṅgahavatthūni—dānaṁ, peyyavajjaṁ, atthacariyā, samānattatā. Etadaggaṁ, bhikkhave, dānānaṁ yadidaṁ dhammadānaṁ. Etadaggaṁ, bhikkhave, peyyavajjānaṁ yadidaṁ atthikassa ohitasotassa punappunaṁ dhammaṁ deseti.
Này các Tỷ-kheo, có bốn Nhiếp pháp này: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự. Tối thượng trong các loại bố thí, này các Tỷ-kheo, là pháp thí. Tối thượng trong các loại ái ngữ, này các Tỷ-kheo là tiếp tục thuyết pháp cho những ai hy cầu và lóng tai nghe.
There are these four ways of being inclusive. Giving, kindly words, taking care, and equality. The best of gifts is the gift of the teaching. The best sort of kindly speech is to teach the Dhamma again and again to someone who is engaged and who actively listens.
AN 9.5:4.6–4.8
Etadaggaṁ, bhikkhave, atthacariyānaṁ yadidaṁ assaddhaṁ saddhāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti, dussīlaṁ sīlasampadāya … macchariṁ cāgasampadāya … duppaññaṁ paññāsampadāya samādapeti niveseti patiṭṭhāpeti. Etadaggaṁ, bhikkhave, samānattatānaṁ yadidaṁ sotāpanno sotāpannassa samānatto, sakadāgāmī sakadāgāmissa samānatto, anāgāmī anāgāmissa samānatto, arahā arahato samānatto. Idaṁ vuccati, bhikkhave, saṅgāhabalaṁ.
Tối thượng trong các lợi hành, này các Tỷ-kheo, là đối với người không có lòng tin, khích lệ, đặt vào, an trú vào đầy đủ lòng tin; đối với người không giữ giới, khích lệ, đặt vào, an trú vào đầy đủ giới; đối với người xan tham khích lệ, đặt vào an trú vào bố thí; đối với người ác tuệ, khích lệ, đặt vào, an trú vào đầy đủ trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, tối thượng trong đồng sự là đồng sự giữa bậc Dự Lưu với bậc Dự Lưu, bậc Nhất Lai với bậc Nhất Lai, bậc Bất Lai với bậc Bất Lai, bậc A-la-hán với bậc A-la-hán. Này các Tỷ-kheo, đây là sức mạnh năng nhiếp.
The best way of taking care is to encourage, settle, and ground the unfaithful in faith, the unethical in ethics, the stingy in generosity, and the ignorant in wisdom. The best kind of equality is the equality of a stream-enterer with another stream-enterer, a once-returner with another once-returner, a non-returner with another non-returner, and a perfected one with another perfected one. This is called the power of inclusiveness.
AN 9.5:5.1–5.3
Imehi kho, bhikkhave, catūhi balehi samannāgato ariyasāvako pañca bhayāni samatikkanto hoti. Katamāni pañca? Ājīvikabhayaṁ, asilokabhayaṁ, parisasārajjabhayaṁ, maraṇabhayaṁ, duggatibhayaṁ.
Thành tựu bốn sức mạnh ấy, này các Tỷ-kheo, Thánh đệ tử vượt qua năm sợ hãi. Thế nào là năm? Sợ hãi về sinh sống, sợ hãi về tiếng đồn xấu, sợ hãi về xấu hổ trong hội chúng, sợ hãi về chết, sợ hãi về ác thú.
A noble disciple who has these four powers has got past five fears. What five? Fear regarding livelihood, disrepute, feeling insecure in an assembly, death, and bad rebirth.
AN 9.5:5.5–5.12
‘nāhaṁ ājīvikabhayassa bhāyāmi. Kissāhaṁ ājīvikabhayassa bhāyissāmi? Atthi me cattāri balāni—paññābalaṁ, vīriyabalaṁ, anavajjabalaṁ, saṅgāhabalaṁ. Duppañño kho ājīvikabhayassa bhāyeyya. Kusīto ājīvikabhayassa bhāyeyya. Sāvajjakāyakammantavacīkammantamanokammanto ājīvikabhayassa bhāyeyya. Asaṅgāhako ājīvikabhayassa bhāyeyya.
“Ta không sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống. Vì sao? Ta có bốn lực này: tuệ lực, tinh tấn lực, vô tội lực, năng nhiếp lực. Kẻ ác tuệ có thể sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống. Kẻ biếng nhác có thể sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống. Kẻ có thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có tội có thể sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống. Kẻ không năng nhiếp có thể sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống.
‘I have no fear regarding livelihood. Why would I be afraid of that? I have these four powers: the powers of wisdom, energy, blamelessness, and inclusiveness. A witless person might fear for their livelihood. A lazy person might fear for their livelihood. Someone who does blameworthy things by way of body, speech, and mind might fear for their livelihood. Someone who does not include others might fear for their livelihood.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
balasức mạnh, lựcTên kinh Balasutta — HT. Thích Minh Châu dịch là "Những Sức Mạnh".
paññābalatuệ lực
vīriyabalatấn lực (tinh tấn lực)
anavajjabalavô tội lực (sức mạnh không lỗi lầm)
saṅgāhabalanăng nhiếp lực
saṅgahavatthunhiếp phápBốn nhiếp pháp: dāna, peyyavajja, atthacariyā, samānattatā.
dānabố thí
peyyavajjaái ngữ
atthacariyālợi hành
samānattatāđồng sự
dhammadānapháp thíKinh nói đây là tối thượng trong các loại bố thí.
ariyasāvakaThánh đệ tử
bhayasợ hãiNăm sợ hãi: ājīvikabhaya (sinh sống), asilokabhaya (tiếng đồn xấu), parisasārajjabhaya (xấu hổ trong hội chúng), maraṇabhaya (chết), duggatibhaya (ác thú).
sotāpanna / sakadāgāmī / anāgāmī / arahāDự Lưu / Nhất Lai / Bất Lai / A-la-hán
duppaññaác tuệ (kém trí tuệ)
kusītabiếng nhác

Xin thưa bài kinh này con thấy là một tấm bản đồ rất gọn cho cả việc tu lẫn việc dẫn dắt đoàn sinh. Bốn sức mạnh: TUỆ LỰC, TẤN LỰC, VÔ TỘI LỰC, NĂNG NHIẾP LỰC.

TUỆ LỰC — và xin để ý cách kinh định nghĩa, vì rất cụ thể. Không phải “hiểu nhiều”, mà là THẤY RÕ VÀ THẨM SÁT bằng trí tuệ NĂM CẶP: pháp nào BẤT THIỆN thì thấy là bất thiện, pháp nào THIỆN thì thấy là thiện; pháp nào CÓ TỘI, pháp nào VÔ TỘI; pháp nào ĐEN, pháp nào TRẮNG; pháp nào NÊN THỰC HIỆN, pháp nào KHÔNG NÊN; pháp nào XỨNG ĐÁNG BẬC THÁNH, pháp nào không.

Xin thưa: tuệ lực ở đây KHÔNG phải biết thêm điều mới. Là GỌI ĐÚNG TÊN điều mình đang thấy. “Bất thiện thì THẤY LÀ bất thiện” — nghe rất dễ, mà chính chỗ ấy người ta hay tự gạt mình.

TẤN LỰC — và xin để ý: tấn lực ĐỨNG SAU tuệ lực, dựa trên cái thấy ấy. “Khởi lên Ý MUỐN, CỐ GẮNG, TINH TẤN, SÁCH TÂM, TRÌ TÂM” để ĐOẠN TẬN các pháp bất thiện và để CHỨNG ĐẮC các pháp thiện.

Xin thưa thứ tự ấy rất khéo. Tinh tấn mà chưa thấy rõ thì là gắng sức mù. Phải THẤY ĐÚNG rồi mới biết gắng về hướng nào.

VÔ TỘI LỰC — “thành tựu THÂN NGHIỆP vô tội, KHẨU NGHIỆP vô tội, Ý NGHIỆP vô tội”.

Xin thưa vì sao gọi cái KHÔNG CÓ LỖI là một SỨC MẠNH. Vì người trong lòng không có chỗ khuất thì đứng đâu cũng thẳng lưng. Sức mạnh ấy KHÔNG do có thêm gì — mà do KHÔNG CÓ gì phải giấu.

NĂNG NHIẾP LỰC — sức mạnh GẮN KẾT LÒNG NGƯỜI, tức BỐN NHIẾP PHÁP: BỐ THÍ, ÁI NGỮ, LỢI HÀNH, ĐỒNG SỰ.

Và kinh nêu CÁI TỐI THƯỢNG của từng nhiếp pháp — phần này rất đáng học.

Tối thượng của BỐ THÍ là PHÁP THÍ.

Tối thượng của ÁI NGỮ là “tiếp tục THUYẾT PHÁP cho những ai HY CẦU muốn nghe và LÓNG TAI NGHE”.

Xin để ý hai điều kiện trong câu ấy: người nghe phải THẬT LÒNG MUỐN NGHELÓNG TAI NGHE. Nói pháp cho người chưa muốn nghe thì kinh KHÔNG kể là ái ngữ tối thượng.

Tối thượng của LỢI HÀNH là đưa người KHÔNG LÒNG TIN vào lòng tin, người KHÔNG GIỚI vào giới, người XAN THAM vào bố thí, người ÁC TUỆ vào trí tuệ.

Xin thưa: bốn việc ấy đúng là việc anh chị em Huynh Trưởng làm mỗi tuần. Và kinh xếp đó là LỢI HÀNH TỐI THƯỢNG — trên cả việc giúp tiền, giúp công.

Tối thượng của ĐỒNG SỰ là sự ĐỒNG ĐẲNG giữa các bậc Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai, A-la-hán VỚI NHAU.

Rồi phần cuối nêu LỢI ÍCH — và phần này con thấy rất người: Thánh đệ tử đủ bốn sức mạnh thì VƯỢT QUA NĂM SỢ HÃI.

Năm sợ hãi ấy là: sợ về SINH SỐNG, sợ TIẾNG ĐỒN XẤU, sợ XẤU HỔ GIỮA HỘI CHÚNG, sợ CHẾT, và sợ ÁC THÚ.

Xin để ý danh sách ấy rất đời. Ba nỗi sợ đầu KHÔNG phải chuyện kiếp sau: sợ không đủ sống, sợ mang tiếng, sợ ê mặt trước đám đông. Kinh kể chúng ngang hàng với sợ chết.

Và cách vị ấy tự thẩm sát cũng rất hay: “Ta KHÔNG sợ hãi sự sợ hãi về sinh sống. Vì sao? Ta có bốn lực này…” rồi kể ra ai mới phải sợ: “KẺ ÁC TUỆ có thể sợ hãi… KẺ BIẾNG NHÁC có thể sợ hãi… kẻ có ba nghiệp CÓ TỘI… kẻ KHÔNG NĂNG NHIẾP.”

Xin thưa: đó KHÔNG phải lời tự cao. Đó là một phép kiểm rất tỉnh táo: nỗi sợ ấy có CƠ SỞ ở tôi không? Nếu tôi thật sự có tuệ, có tinh tấn, có ba nghiệp sạch, và sống hoà nhiếp với người — thì cái tôi đang sợ dựa vào đâu?

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Con nghĩ bốn sức mạnh này gần như là một bảng mô tả công việc của người Huynh Trưởng: HỌC HIỂU CHO SÁNG (tuệ), LÀM CHO BỀN (tấn), SỐNG CHO SẠCH (vô tội), và SỐNG HOÀ NHIẾP VỚI ĐOÀN (năng nhiếp).

Và con xin nhấn vào NĂNG NHIẾP LỰC, vì ba lực đầu là chuyện riêng mình, còn lực thứ tư là chuyện MÌNH VỚI NGƯỜI. Kinh xếp nó ngang hàng với tuệ và tấn — nghĩa là biết gắn kết lòng người cũng là một SỨC MẠNH, không phải một tài lẻ.

  • “Tuệ lực là biết nhiều giáo lý.” Kinh định nghĩa là THẤY RÕ và THẨM SÁT năm cặp: bất thiện thấy là bất thiện, thiện thấy là thiện… — gọi đúng tên điều mình đang thấy.
  • “Cứ tinh tấn là đủ.” Tấn lực đứng SAU tuệ lực, dựa trên cái thấy ấy. Gắng sức mà chưa thấy rõ là gắng sức mù.
  • “Ái ngữ là nói lời ngọt ngào.” Tối thượng của ái ngữ là thuyết pháp cho người THẬT LÒNG MUỐN NGHE và LÓNG TAI NGHE — có điều kiện về người nghe.
  • “Năm sợ hãi đều là chuyện kiếp sau.” Ba nỗi đầu rất đời: sợ không đủ sống, sợ mang tiếng, sợ ê mặt giữa hội chúng.
  • Ngành Oanh. Học vô tội lực: không có gì phải giấu thì đi đâu cũng nhẹ lòng.
  • Ngành Thiếu. Học năm sợ hãi, rồi hỏi: em sợ nhất điều nào? Nỗi sợ ấy dựa vào đâu?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Soi lợi hành tối thượng — đưa người vào lòng tin, vào giới, vào bố thí, vào trí tuệ: đó chính là việc mình làm mỗi tuần.
  • Bốn sức mạnh là gì?
  • Tuệ lực được định nghĩa thế nào?
  • Tối thượng của bốn nhiếp pháp là gì?
  • Năm sợ hãi được vượt qua là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.