Đức Phật dạy gia chủ Anàthapindika — người cư sĩ giàu có và hộ pháp bậc nhất — năm lý do chân chánh để gầy dựng tài sản. Đạo Phật không chê tài sản; đạo Phật hỏi kiếm bằng cách nào và dùng vào việc gì.
Phần I · Xuất Xứ
- Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Năm Pháp, Phẩm Vua Muṇḍa, bài 41
- Nơi chốn — Sāvatthī, Jetavana, khu vườn ông Cấp Cô Độc
- Người nghe — gia chủ Anàthapindika (Cấp Cô Độc)
- Bài đi cặp — AN 8.54 về cách làm ra tài sản
✦
Phần II · Bài Kinh Nói Gì
Kinh này Đức Phật dạy cho gia chủ Anàthapindika — một cư sĩ giàu có và hộ pháp bậc nhất — về năm lý do chân chánh để gầy dựng tài sản. Điểm cốt lõi: đạo Phật không chê tài sản, mà hỏi tài sản ấy kiếm bằng cách nào và dùng vào việc gì.
Trước hết, Phật lặp đi lặp lại một câu định nghĩa về tài sản chân chánh: "được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp". Nghĩa là tài sản do chính mình siêng năng làm ra, đúng pháp luật và đạo lý, chứ không do gian dối hay bóc lột.
Năm lý do (năm cách dùng) tài sản là: (1) làm cho chính mình an lạc, rồi làm cho cha mẹ, vợ con, người phục vụ và người làm công đều an lạc; (2) làm cho bạn bè thân hữu an lạc; (3) phòng hộ, chận đứng các tai họa từ lửa, nước, vua, ăn trộm, kẻ thù, người thừa tự, giữ mình được an toàn; (4) làm năm hiến cúng: cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết (peta), cho vua, cho chư Thiên; (5) cúng dường tối thượng đến các Sa-môn, Bà-la-môn ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, tự điều phục — sự cúng dường ấy được quả dị thục, đưa đến cõi trời.
Phần kết rất quan trọng cho người cư sĩ: nếu tài sản đi đến hoại diệt, vị Thánh đệ tử nghĩ "ta đã gầy dựng và đã dùng đúng các lý do ấy" nên không hối hận; nếu tài sản tăng trưởng, cũng không hối hận. "Cả hai phương diện, vị ấy không có hối hận." Bài kệ cuối tóm lại: tài sản được thọ hưởng, gia nhân được nuôi dưỡng, tránh được tai họa, cúng dường bậc trì giới — mục đích mà người trí sống tại gia mong cầu, ta đã đạt, nên "được làm không hối hận", đời này được tán thán, đời sau hoan hỷ trên cảnh giới chư Thiên.
Với Huynh Trưởng và đoàn sinh, kinh này là bài học thực tế về Chánh mạng và Bố thí: làm ra của cải bằng mồ hôi chân chính, rồi chia sẻ theo thứ lớp — mình, gia đình, bạn hữu, phòng thân, thân tộc và người đã khuất, và cuối cùng là hộ trì Tam Bảo.
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- Duyên khởi — Như vầy tôi nghe: Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Gia chủ Anàthapindika đến đảnh lễ, ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với ông.
- Nêu đề: năm lý do để gầy dựng tài sản — "Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm?"
- Lý do thứ nhất: tự mình, cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công được an lạc — Tài sản kiếm hợp pháp do nỗ lực tinh tấn, tự làm mình an lạc, hoan hỷ; làm cho mẹ cha an lạc; làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công an lạc.
- Lý do thứ hai: bạn bè thân hữu được an lạc — Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc.
- Lý do thứ ba: chận đứng tai họa, giữ tài sản an toàn — Các tai họa từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an toàn.
- Lý do thứ tư: năm hiến cúng (pañcabali) — Hiến cúng cho bà con, cho khách, cho hương linh đã chết (peta), cho vua, cho chư Thiên.
- Lý do thứ năm: cúng dường tối thượng đến Sa-môn, Bà-la-môn — Đối với các Sa-môn, Bà-la-môn ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục tự mình, vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, được quả dị thục, đưa đến cõi trời.
- Kết luận: không hối hận cả khi tài sản hoại diệt lẫn khi tăng trưởng — Khi tài sản đi đến hoại diệt, vị ấy không có hối hận; khi tài sản đi đến tăng trưởng, vị ấy cũng không có hối hận. "Như vậy, cả hai phương diện, vị ấy không có hối hận."
- Bài kệ tổng kết — "Tài sản được thọ hưởng, / Gia nhân được nuôi dưỡng..." cho đến "Ðời này được tán thán, / Ðời sau được hoan hỉ, / Trên cảnh giới chư Thiên."
Phần III · Đoạn Trích
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
AN 5.41, TTC 1 (an5.41:1.1–1.2)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Như vầy tôi nghe: Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, khu vườn ông Anàthapindika. Rồi gia chủ Anàthapindika đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anàthapindika đang ngồi một bên:
At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta's Grove, Anāthapiṇḍika's monastery. Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
AN 5.41, TTC 2 (an5.41:1.3–1.8)
pañcime, gahapati, bhogānaṁ ādiyā. Katame pañca? Idha, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi attānaṁ sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati; mātāpitaro sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati; puttadāradāsakammakaraporise sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Ayaṁ paṭhamo bhogānaṁ ādiyo.
—Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản. Thế nào là năm? Ở đây, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp; tự làm mình an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho mẹ cha an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc; làm cho vợ con, người phục vụ, các người làm công được an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ nhất để gây dựng tài sản.
Householder, there are these five reasons to get rich. What five? Firstly, with his legitimate wealth—earned by his efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow—a noble disciple makes himself happy and pleased, keeping himself properly happy. He makes his mother and father happy … He makes his children, partners, bondservants, workers, and staff happy … This is the first reason to get rich.
AN 5.41, TTC 3 (an5.41:2.1–2.2)
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi mittāmacce sukheti pīṇeti sammā sukhaṁ pariharati. Ayaṁ dutiyo bhogānaṁ ādiyo.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Vị ấy làm cho bạn bè thân hữu an lạc, hoan hỷ và chơn chánh duy trì sự an lạc. Ðây là lý do thứ hai để gầy dựng tài sản.
Furthermore, with his legitimate wealth he makes his friends and colleagues happy … This is the second reason to get rich.
AN 5.41, TTC 4 (an5.41:3.1–3.4)
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako … yā tā honti āpadā—aggito vā udakato vā rājato vā corato vā appiyato vā dāyādato—tathārūpāsu āpadāsu bhogehi pariyodhāya vattati, sotthiṁ attānaṁ karoti. Ayaṁ tatiyo bhogānaṁ ādiyo.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mổ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp. Các tai họa từ lửa, từ nước, từ vua, từ ăn trộm, từ kẻ thù hay từ các người thừa tự được chận đứng, và vị ấy giữ tài sản được an toàn cho vị ấy. Ðây là lý do thứ ba để gầy dựng tài sản.
Furthermore, with his legitimate wealth he protects himself against losses from such things as fire, water, kings, bandits, or unloved heirs. He keeps himself safe. This is the third reason to get rich.
AN 5.41, TTC 5 (an5.41:4.1–4.3)
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako … pañcabaliṁ kattā hoti. Ñātibaliṁ, atithibaliṁ, pubbapetabaliṁ, rājabaliṁ, devatābaliṁ—ayaṁ catuttho bhogānaṁ ādiyo.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, có thể làm năm hiến cúng. Hiến cúng cho bà con, hiến cúng cho khách, hiến cúng cho hương linh đã chết (peta), hiến cúng cho vua, hiến cúng cho chư Thiên. Ðây là lý do thứ tư để gầy dựng tài sản.
Furthermore, with his legitimate wealth he makes five spirit-offerings: to relatives, guests, ancestors, king, and deities. This is the fourth reason to get rich.
AN 5.41, TTC 6 (an5.41:5.1–5.3)
Puna caparaṁ, gahapati, ariyasāvako … ye te samaṇabrāhmaṇā madappamādā paṭiviratā khantisoracce niviṭṭhā ekamattānaṁ damenti ekamattānaṁ samenti ekamattānaṁ parinibbāpenti, tathārūpesu samaṇabrāhmaṇesu uddhaggikaṁ dakkhiṇaṁ patiṭṭhāpeti sovaggikaṁ sukhavipākaṁ saggasaṁvattanikaṁ. Ayaṁ pañcamo bhogānaṁ ādiyo. Ime kho, gahapati, pañca bhogānaṁ ādiyā.
Lại nữa, này Gia chủ, vị Thánh đệ tử được tài sản nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp, đối với các Sa-môn, Bà-la-môn nào ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục, nhu hòa, nhiếp phục tự mình, an tịnh tự mình, làm lắng dịu tự mình, đối với những Sa-môn, Bà-la-môn như vậy vị ấy tổ chức sự cúng dường tối thượng, đưa đến cảnh giới chư Thiên, được quả dị thục, đưa đến cõi trời. Ðây là lý do thứ năm để gầy dựng tài sản. Này Gia chủ, có năm lý do này để gầy dựng tài sản.
Furthermore, with his legitimate wealth he establishes an uplifting religious donation for ascetics and brahmins—those who refrain from intoxication and negligence, are settled in patience and gentleness, and who tame, calm, and extinguish themselves—that's conducive to heaven, ripens in happiness, and leads to heaven. This is the fifth reason to get rich. These are the five reasons to get rich.
AN 5.41, TTC 7 (an5.41:6.1–6.6)
Tassa ce, gahapati, ariyasāvakassa ime pañca bhogānaṁ ādiye ādiyato bhogā parikkhayaṁ gacchanti … Itissa hoti avippaṭisāro. … bhogā abhivaḍḍhanti … Itissa hoti ubhayeneva avippaṭisāroti.
Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ tử gầy dựng tài sản với năm lý do này, khi tài sản đi đến hoại diệt, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do để gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến hoại diệt”, vị ấy không có hối hận. Này Gia chủ, đối với vị Thánh đệ gầy dựng tài sản với năm lý do này, nếu tài sản ấy đi đến tăng trưởng, vị ấy suy nghĩ như sau: “Các tài sản do những lý do gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng. Nay các tài sản ấy của ta đi đến tăng trưởng”. Như vậy, cả hai phương diện, vị ấy không có hối hận.
Now if the riches a noble disciple gets for these five reasons run out, he thinks: 'So, the riches I have obtained for these reasons are running out.' And so he has no regrets. But if the riches a noble disciple gets for these five reasons increase, he thinks: 'So, the riches I have obtained for these reasons are increasing.' And so he has no regrets in both cases.
AN 5.41, bài kệ cuối (an5.41:7.1–9.4)
Bhuttā bhogā bhatā bhaccā, vitiṇṇā āpadāsu me; Uddhaggā dakkhiṇā dinnā, atho pañcabalīkatā; Upaṭṭhitā sīlavanto, saññatā brahmacārayo. Yadatthaṁ bhogaṁ iccheyya, paṇḍito gharamāvasaṁ; So me attho anuppatto, kataṁ ananutāpiyaṁ. Etaṁ anussaraṁ macco, ariyadhamme ṭhito naro; Idheva naṁ pasaṁsanti, pecca sagge pamodatī”ti.
Tài sản được thọ hưởng, / Gia nhân được nuôi dưỡng, / Chính nhờ các tài sản, / Do ta tránh tai họa. / Là cúng dường tối thượng, / Làm năm loại hiến vật, / Dành cho bậc trì giới / Bậc tự điều, Phạm hạnh. / Mục đích gì bậc Trí, / Trú nhà, cầu tài sản, / Mục đích ấy ta đạt, / Ðược làm không hối hận. / Người nào nhớ nghĩ vậy, / An trú trên Thánh pháp, / Ðời này được tán thán, / Ðời sau được hoan hỉ, / Trên cảnh giới chư Thiên.
'I've enjoyed my wealth, supporting those who depend on me; I've overcome losses; I've given uplifting religious donations; and made the five spirit-offerings. I have looked after the ethical and disciplined spiritual practitioners. I've achieved the goal for which an astute layperson wishes to gain wealth. I don't regret what I've done.' A mortal man who recollects this stands firm in the teaching of the noble ones. They're praised in this life by the astute, and they depart to rejoice in heaven.
Phần IV · Thuật Ngữ & Giảng Giải
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
| ādiya | lý do (mục đích) để gầy dựng / thọ dụng tài sản | Tên kinh Ādiyasutta lấy từ chữ này; HT. Minh Châu dịch cả câu là "lý do để gầy dựng tài sản". |
| bhoga | tài sản, của cải, sự thọ hưởng | |
| gahapati | gia chủ, cư sĩ chủ gia đình | |
| ariyasāvaka | vị Thánh đệ tử | |
| uṭṭhānavīriyādhigata | được nhờ nỗ lực tinh tấn (đứng dậy mà làm) | |
| sedāvakkhitta | kiếm được do đổ mồ hôi ra | |
| dhammika, dhammaladdha | đúng pháp, thâu được một cách hợp pháp | |
| āpadā | tai họa, tai ương | |
| pañcabali | năm hiến cúng: bà con (ñāti), khách (atithi), hương linh đã chết (pubbapeta), vua (rāja), chư Thiên (devatā) | |
| peta | hương linh đã chết, ngạ quỷ / người quá vãng | |
| dakkhiṇā uddhaggikā | sự cúng dường tối thượng, đưa lên cao | |
| sovaggika, saggasaṁvattanika | đưa đến cõi trời, dẫn sanh thiên | |
| samaṇabrāhmaṇa | Sa-môn, Bà-la-môn — các vị tu hành | |
| khanti, soracca | nhẫn nhục và nhu hòa | |
| mada, pamāda | kiêu mạn (say đắm) và phóng dật | Kinh nói các vị đáng cúng dường là bậc "ly kiêu mạn, ly phóng dật". |
| avippaṭisāra | không hối hận | |
| ariyadhamma | Thánh pháp | |
Trước khi nói dùng tiền, kinh định nghĩa tiền sạch. Một câu được lặp lại ở cả năm lý do: tài sản "nhờ nỗ lực tinh tấn, thâu góp với sức mạnh bàn tay, kiếm được do đổ mồ hôi ra, thâu được một cách hợp pháp". Bốn vế: do tự mình, do sức mình, do mồ hôi mình, và đúng pháp.
Lý do thứ nhất bắt đầu từ chính mình — và điều đó không ích kỷ. Vị Thánh đệ tử làm cho tự mình an lạc, rồi cha mẹ, vợ con, người phục vụ, người làm công đều an lạc. Người làm công cũng nằm trong danh sách — đây là điều đáng chú ý ở thời ấy.
Lý do thứ hai: bạn bè thân hữu. Vòng tròn rộng thêm một bước, ra ngoài gia đình.
Lý do thứ ba nghe rất thực tế. Dùng tài sản để chận đứng tai họa — từ lửa, nước, vua, ăn trộm, kẻ thù, người thừa tự — giữ mình được an toàn. Kinh không bảo đem cho hết.
Lý do thứ tư là chỗ dễ bỏ sót. Năm hiến cúng (pañcabali): cho bà con, cho khách, cho hương linh đã khuất, cho vua (tức thuế), cho chư Thiên. Đây chính là gốc kinh điển của việc cúng giỗ và đãi khách trong nhà Phật tử Việt Nam.
Lý do thứ năm mới là cúng dường tối thượng. Cúng đến các Sa-môn, Bà-la-môn ly kiêu mạn, ly phóng dật, an trú nhẫn nhục nhu hòa, tự điều phục. Xin để ý: kinh nêu phẩm hạnh, không nêu danh vị.
Phần kết mới là chỗ hay nhất của bài kinh. Nếu tài sản đi đến hoại diệt, vị ấy nghĩ "các lý do để gầy dựng, ta đã gầy dựng chúng" — nên không hối hận. Nếu tài sản tăng trưởng, cũng không hối hận. Cả hai phương diện đều không hối hận.
Đó là một định nghĩa rất gọn về an tâm. Không phải giữ được của, mà là đã dùng của đúng chỗ — nên mất cũng không tiếc.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- "Đạo Phật dạy nghèo mới tu được." Kinh này dạy năm lý do để gầy dựng tài sản, cho một đại phú gia.
- "Phải đem cho hết mới đúng." Lý do thứ ba dạy giữ lại để phòng tai họa.
- "Cúng cho ai cũng như nhau." Kinh nêu rõ phẩm hạnh của người thọ nhận.
- "Lo cho mình trước là ích kỷ." Kinh xếp chính mình đứng đầu, rồi mới tới người khác.
Phần VI · Dùng Trong Sinh Hoạt Đoàn
- Ngành Oanh. Hỏi: tiền của cha mẹ dùng vào những việc gì? Đếm thử xem có đủ năm chỗ không.
- Ngành Thiếu. Cho các em xếp tiền tiêu vặt vào năm mục này.
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bàn về năm hiến cúng — trong đó có đóng thuế.
Phần VII · Câu Hỏi Thảo Luận
- Bốn dấu hiệu của tài sản chân chánh là gì?
- Năm lý do gầy dựng tài sản là gì?
- Vì sao mất của mà vẫn không hối hận?
- Năm hiến cúng gồm những ai?
✦
Nguồn
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.