Một người cư sĩ thưa rất thẳng: chúng con còn vợ con, còn tiền bạc, còn hưởng thụ — xin Ngài dạy pháp vừa tầm với hạng người như vậy. Và Đức Phật không bảo ông ấy bỏ nhà đi tu. Ngài dạy bốn điều rất đời.
Phần I · Xuất Xứ
- Bộ — Tăng Chi, AN 8.54, Chương Tám Pháp
- Nơi nói — thị trấn Kakkarapatta, xứ Koliya
- Người hỏi — cư sĩ Dīghajāṇu (“đầu gối dài”), Đức Phật gọi ông là Byagghapajja (“chân cọp”)
- Cấu trúc — bốn pháp cho đời này, rồi bốn pháp cho đời sau
✦
Phần II · Bài Kinh Nói Gì
Đây là bài kinh Đức Phật dạy riêng cho người cư sĩ tại gia, nên rất gần gũi với đời sống Huynh Trưởng và đoàn sinh Gia Đình Phật Tử. Một cư sĩ tên Dīghajāṇu, người bộ tộc Koliya, thẳng thắn thưa với Đức Phật rằng mình vẫn còn sống đời gia đình, còn vợ con, còn tiền bạc, còn hưởng thụ; ông xin một lời dạy vừa tầm với hạng người như vậy — làm sao sống cho có hạnh phúc ngay đời này mà đời sau cũng an lạc.
Đức Phật không bảo ông bỏ nhà đi tu. Ngài dạy bốn pháp đem lại hạnh phúc hiện tại: (1) đầy đủ sự tháo vát (uṭṭhānasampadā) — giỏi nghề nghiệp chân chính của mình, siêng năng, biết cách làm và biết tổ chức công việc; (2) đầy đủ phòng hộ (ārakkhasampadā) — giữ gìn tài sản do mồ hôi tay mình làm ra đúng pháp, không để mất vì vua quan, trộm cướp, lửa, nước hay kẻ thừa tự không khả ái; (3) làm bạn với thiện (kalyāṇamittatā) — gần gũi những người đầy đủ lòng tin, giới đức, bố thí, trí tuệ và học tập theo họ; (4) sống thăng bằng điều hòa (samajīvitā) — biết tiền vào tiền ra, không quá phung phí cũng không quá bỏn xẻn, ví như người cầm cân biết cân nặng xuống hay bổng lên.
Kế đó Ngài dạy bốn cửa xuất làm hao tài (đam mê đàn bà, rượu chè, cờ bạc, và bạn ác) và bốn cửa vào làm tài sản hưng khởi (ngược lại), qua ví dụ hồ nước lớn có bốn cửa vào bốn cửa ra.
Sau cùng là bốn pháp đem lại hạnh phúc tương lai: đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. Bài kệ kết thúc gọi chung tám pháp này là con đường "đưa đến lạc hai đời".
Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn
- 1. Duyên khởi: Dīghajānu thưa hỏi — Thế Tôn trú tại thị trấn Kakkarapatta xứ Koliya. Koliya tử Dīghajānu đến đảnh lễ, tự nhận là người gia chủ thọ hưởng dục vọng, và thỉnh Phật thuyết pháp đem đến hạnh phúc an lạc hiện tại và tương lai (đoạn 1).
- 2. Bốn pháp đưa đến hạnh phúc hiện tại — nêu danh mục — Đầy đủ sự tháo vát, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa (đoạn 2).
- 3. Đầy đủ sự tháo vát (uṭṭhānasampadā) — Thiện nam tử làm nghề nông, buôn bán, nuôi bò, bắn cung, làm việc cho vua, hay bất cứ nghề gì — thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư phương tiện, đủ sức tự làm và điều khiển công việc (đoạn 2.4–2.8).
- 4. Đầy đủ phòng hộ (ārakkhasampadā) — Giữ gìn tài sản thâu hoạch đúng pháp do tháo vát tinh tấn, sức mạnh bàn tay, mồ hôi đổ ra; phòng hộ khỏi vua, trộm cướp, lửa, nước, và người thừa tự không khả ái (đoạn 3).
- 5. Làm bạn với thiện (kalyāṇamittatā) — Làm quen, nói chuyện, thảo luận với những người đầy đủ lòng tin, giới đức, bố thí, trí tuệ, và học tập theo họ (đoạn 4).
- 6. Sống thăng bằng điều hòa (samajīvitā) — Biết tài sản nhập và xuất, sinh sống điều hòa, không quá phung phí không quá bỏn xẻn; ví dụ người cầm cân; hai lỗi cực đoan: 'ăn tài sản như ăn trái cây sung' và 'sẽ chết như người chết đói' (đoạn 5).
- 7. Bốn cửa xuất làm hao tài và bốn cửa vào làm hưng tài — Bốn cửa xuất: đam mê đàn bà, rượu chè, cờ bạc, và bạn bè/thân hữu/giao du kẻ ác. Bốn cửa vào: ngược lại. Ví dụ hồ nước lớn có bốn cửa vào và bốn cửa ra (đoạn 6–7). Kết: bốn pháp này đưa đến hạnh phúc hiện tại (đoạn 8).
- 8. Bốn pháp đưa đến hạnh phúc tương lai — Đầy đủ lòng tin (tin sự giác ngộ của Như Lai), đầy đủ giới đức (từ bỏ sát sanh… cho đến từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu), đầy đủ bố thí (tâm không bị xan tham chi phối, bàn tay mở rộng), đầy đủ trí tuệ (trí tuệ về sanh diệt, thánh thể nhập, chơn chánh chấm dứt khổ đau) — đoạn 9–14.
- 9. Bài kệ kết thúc — Bốn bài kệ tóm tắt tám pháp của bậc tín chủ tại gia, do 'bậc chân thật tuyên bố', đưa đến lạc hai đời (đoạn 15–18).
Phần III · Đoạn Trích
Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.
AN 8.54 §1.3–1.4
“mayaṁ, bhante, gihī kāmabhogino puttasambādhasayanaṁ ajjhāvasāma, kāsikacandanaṁ paccanubhoma, mālāgandhavilepanaṁ dhārayāma, jātarūparajataṁ sādayāma. Tesaṁ no, bhante, bhagavā amhākaṁ tathā dhammaṁ desetu ye amhākaṁ assu dhammā diṭṭhadhammahitāya diṭṭhadhammasukhāya, samparāyahitāya samparāyasukhāyā”ti.
—Bạch Thế Tôn, chúng con là những người gia chủ thọ hưởng những dục vọng, sống hệ phược với vợ con, dùng các hương chiên-đàn ở Kàsi đeo, và dùng các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, thọ lãnh vàng và bạc; bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp cho những người như chúng con, thuyết như thế nào để những pháp ấy đem đến cho chúng con hạnh phúc an lạc ngay trong hiện tại, và hạnh phúc an lạc trong tương lai.
“Sir, we are laypeople who enjoy sensual pleasures and living at home with our children. We use sandalwood imported from Kāsi, we wear garlands, fragrance, and makeup, and we accept gold and currency. May the Buddha please teach us the Dhamma in a way that leads to our welfare and happiness in this life and lives to come.”
AN 8.54 §2.3
Uṭṭhānasampadā, ārakkhasampadā, kalyāṇamittatā, samajīvitā.
Ðầy đủ sự tháo vát, đầy đủ phòng hộ, làm bạn với thiện, sống thăng bằng điều hòa.
Accomplishment in initiative, protection, good friendship, and balanced finances.
AN 8.54 §2.5–2.8
Idha, byagghapajja, kulaputto yena kammaṭṭhānena jīvikaṁ kappeti—yadi kasiyā, yadi vaṇijjāya, yadi gorakkhena, yadi issattena, yadi rājaporisena, yadi sippaññatarena—tattha dakkho hoti analaso, tatrupāyāya vīmaṁsāya samannāgato, alaṁ kātuṁ alaṁ saṁvidhātuṁ. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, uṭṭhānasampadā.
Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử làm nghề gì để sống, hoặc nghề nông, hoặc đi buôn, hoặc nuôi bò, hoặc làm người bắn cung, hoặc làm việc cho vua, hoặc bất cứ nghề gì, trong các nghề ấy, người ấy thiện xảo, không biết mệt, biết suy tư hiểu phương tiện vừa đủ để tự làm và điều khiển người khác làm; này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự tháo vát.
It's when a gentleman earns a living by means such as farming, trade, raising cattle, archery, government service, or one of the professions. He understands how to go about these things in order to complete and organize the work. This is called accomplishment in initiative.
AN 8.54 §3.2–3.5
Idha, byagghapajja, kulaputtassa bhogā honti uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā, sedāvakkhittā, dhammikā dhammaladdhā. Te ārakkhena guttiyā sampādeti: ‘kinti me ime bhoge neva rājāno hareyyuṁ, na corā hareyyuṁ, na aggi ḍaheyya, na udakaṁ vaheyya, na appiyā dāyādā hareyyun’ti. Ayaṁ vuccati, byagghapajja, ārakkhasampadā.
Ở đây, này Byagghapajja, những tài sản của thiện nam tử do tháo vát tinh tấn thâu hoạch được, do sức mạnh bàn tay cất chứa được, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch được đúng pháp, vị ấy giữ gìn chúng, phòng hộ và bảo vệ: “Làm thế nào các tài sản này của ta không bị vua mang đi, không bị trộm cướp mang đi, không bị lửa đốt, không bị nước cuốn trôi, không bị các người con thừa tự không khả ái cướp đoạt”. Này Byagghapajja, đây gọi là đầy đủ sự phòng hộ.
It's when a gentleman owns legitimate wealth that he has earned by his own efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. He ensures it is guarded and protected, thinking: ‘How can I prevent my wealth from being taken by rulers or bandits, consumed by fire, swept away by flood, or taken by unloved heirs?’ This is called accomplishment in protection.
AN 8.54 §4.2–4.3
Idha, byagghapajja, kulaputto yasmiṁ gāme vā nigame vā paṭivasati, tattha ye te honti—gahapatī vā gahapatiputtā vā daharā vā vuddhasīlino, vuddhā vā vuddhasīlino, saddhāsampannā, sīlasampannā, cāgasampannā, paññāsampannā—tehi saddhiṁ santiṭṭhati sallapati sākacchaṁ samāpajjati … Ayaṁ vuccati, byagghapajja, kalyāṇamittatā.
Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống tại làng hay tại thị trấn. Tại đấy có gia chủ hay con người gia chủ, những trẻ được nuôi lớn trong giới đức, hay những người lớn tuổi được lớn lên trong giới đức, đầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ, vị ấy làm quen, nói chuyện, thảo luận. Với những người đầy đủ lòng tin, vị ấy học tập với đầy đủ lòng tin. Với những người đầy đủ giới đức, vị ấy học tập với đầy đủ giới đức. Với những người đầy đủ bố thí, vị ấy học tập với đầy đủ bố thí. Với những người đầy đủ trí tuệ, vị ấy học tập với đầy đủ trí tuệ. Này Byagghapajja, đây gọi là làm bạn với thiện.
It's when a gentleman resides in a town or village. And in that place there are householders or their children who may be young or old, but are mature in conduct, accomplished in faith, ethics, generosity, and wisdom. He associates with them, converses and engages in discussion. And he emulates the same kind of accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom. This is called accomplishment in good friendship.
AN 8.54 §5.2–5.6
Idha, byagghapajja, kulaputto āyañca bhogānaṁ viditvā, vayañca bhogānaṁ viditvā, samaṁ jīvikaṁ kappeti nāccogāḷhaṁ nātihīnaṁ … Sacāyaṁ, byagghapajja, kulaputto appāyo samāno uḷāraṁ jīvikaṁ kappeti, tassa bhavanti vattāro: ‘udumbarakhādīvāyaṁ kulaputto bhoge khādatī’ti. Sace panāyaṁ, byagghapajja, kulaputto mahāyo samāno kasiraṁ jīvikaṁ kappeti, tassa bhavanti vattāro: ‘ajeṭṭhamaraṇaṁvāyaṁ kulaputto marissatī’ti.
Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sau khi biết tài sản nhập, và sau khi biết tài sản xuất, sinh sống một cách điều hòa, không quá phung phí, không quá bỏn xẻn. … Này Byagghapajja, nếu thiện nam tử này tiền nhập vào ít, nhưng sống nếp sống rộng rãi, hoang phí, thời người ta nói về người ấy như sau: “Người thiện nam tử này ăn tài sản của vị ấy như ăn trái cây sung”. Này Byagghapajja, nếu người thiện nam tử này có tiền nhập lớn, nhưng sống nếp sống cơ cực, thời người ta sẽ nói về vị ấy như sau: “Người thiện nam tử này sẽ chết như người chết đói”.
It's when a gentleman, knowing his income and expenditure, balances his finances, being neither too extravagant nor too frugal. … If a gentleman has little income but an opulent life, there'll be some who say: ‘This gentleman eats their wealth like a fig-eater!’ If a gentleman has a large income but a spartan life, there'll be some who say: ‘This gentleman is starving themselves to death!’
AN 8.54 §6.1–6.6
Evaṁ samuppannānaṁ, byagghapajja, bhogānaṁ cattāri apāyamukhāni honti—itthidhutto, surādhutto, akkhadhutto, pāpamitto pāpasahāyo pāpasampavaṅko. Seyyathāpi, byagghapajja, mahato taḷākassa cattāri ceva āyamukhāni, cattāri ca apāyamukhāni. Tassa puriso yāni ceva āyamukhāni tāni pidaheyya, yāni ca apāyamukhāni tāni vivareyya; devo ca na sammā dhāraṁ anuppaveccheyya. Evañhi tassa, byagghapajja, mahato taḷākassa parihāniyeva pāṭikaṅkhā, no vuddhi.
Như vậy, này Byagghapajja, có bốn cửa xuất để tiêu phí tài sản thâu nhập: “Ðam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc; bạn bè kẻ ác, thân hữu kẻ ác, giao du kẻ ác”. Ví như, này Byagghapajja, một hồ nước lớn, có bốn cửa nước chảy vào, có bốn cửa nước chảy ra, có người đóng lại các cửa nước chảy vào, mở ra các cửa nước chảy ra, trời lại không mưa đúng lúc, như vậy, này Byagghapajja, chờ đợi là hồ nước ấy bị giảm thiểu, không có tăng trưởng.
There are four drains on wealth that has been gathered in this way. Womanizing, drinking, gambling, and having bad friends, companions, and associates. Suppose there was a large reservoir with four inlets and four drains. And someone was to open up the drains and close off the inlets, and the heavens don't provide enough rain. You'd expect that large reservoir to dwindle, not expand.
AN 8.54 §9.3–13.2
Saddhāsampadā, sīlasampadā, cāgasampadā, paññāsampadā. … Idha, byagghapajja, kulaputto vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati muttacāgo payatapāṇi vossaggarato yācayogo dānasaṁvibhāgarato. … Idha, byagghapajja, kulaputto paññavā hoti, udayatthagāminiyā paññāya samannāgato ariyāya nibbedhikāya sammā dukkhakkhayagāminiyā.
Ðầy đủ lòng tin, đầy đủ giới đức, đầy đủ bố thí, đầy đủ trí tuệ. … Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử sống ở gia đình, với tâm không bị cấu uế, xan tham chi phối, bố thí rộng rãi, với bàn tay mở rộng, vui thích từ bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, vui thích chia xẻ vật bố thí. … Ở đây, này Byagghapajja, thiện nam tử có trí tuệ, thành tựu trí tuệ về sanh diệt, với thánh thể nhập (quyết trạch), chơn chánh chấm dứt khổ đau.
Accomplishment in faith, ethics, generosity, and wisdom. … It's when a gentleman lives at home with heart rid of the stain of stinginess, freely generous, open-handed, loving to let go, committed to charity, loving to give and to share. … It's when a gentleman is wise. He has the wisdom of arising and passing away which is noble, penetrative, and leads to the complete ending of suffering.
AN 8.54 §15.1–18.4 (kệ)
Uṭṭhātā kammadheyyesu, appamatto vidhānavā; Samaṁ kappeti jīvikaṁ, sambhataṁ anurakkhati. Saddho sīlena sampanno, vadaññū vītamaccharo; Niccaṁ maggaṁ visodheti, sotthānaṁ samparāyikaṁ. Iccete aṭṭha dhammā ca, saddhassa gharamesino; Akkhātā saccanāmena, ubhayattha sukhāvahā. Diṭṭhadhammahitatthāya, samparāyasukhāya ca; Evametaṁ gahaṭṭhānaṁ, cāgo puññaṁ pavaḍḍhatī”ti.
Tháo vát trong công việc / Không phóng dật, nhanh nhẹn / Sống đời sống thăng bằng / Giữ tài sản thâu được / Có tin, đầy đủ giới / Bố thí, không xan tham / Rửa sạch đường thượng đạo / An toàn trong tương lai / Ðây chính là tám pháp / Bậc tín chủ tìm cầu / Bậc chân thật tuyên bố / Ðưa đến lạc hai đời / Hạnh phúc cho hiện tại / Và an lạc tương lai / Ðây trú xứ gia chủ / Bố thí, tăng công đức.
They're enterprising in the workplace, diligent in managing things, they balance their finances, and preserve their wealth. Faithful, accomplished in ethics, bountiful, rid of stinginess, they always purify the path to well-being in lives to come. And so these eight qualities of a faithful householder of discernment are declared by the one who is truly named to lead to happiness in both spheres, welfare and benefit in this life, and happiness in lives to come. This is how, for a householder, merit grows by generosity.
Phần IV · Thuật Ngữ & Giảng Giải
| Chữ Pāli | Nghĩa | Ghi chú |
| uṭṭhānasampadā | đầy đủ sự tháo vát | Siêng năng, thiện xảo trong nghề nghiệp chân chính; biết làm và biết tổ chức công việc. |
| ārakkhasampadā | đầy đủ phòng hộ | Giữ gìn tài sản thâu hoạch đúng pháp. |
| kalyāṇamittatā | làm bạn với thiện | Thân cận thiện hữu đầy đủ tín, giới, thí, tuệ. |
| samajīvitā | sống thăng bằng điều hòa | Biết thu chi, không phung phí cũng không bỏn xẻn. |
| saddhāsampadā | đầy đủ lòng tin | Tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. |
| sīlasampadā | đầy đủ giới đức | Năm giới: từ bỏ sát sanh… cho đến từ bỏ rượu men rượu nấu. |
| cāgasampadā | đầy đủ bố thí | Tâm lìa cấu uế xan tham, bàn tay mở rộng. |
| paññāsampadā | đầy đủ trí tuệ | Trí tuệ về sanh diệt, thánh thể nhập, đưa đến chấm dứt khổ đau. |
| apāyamukha | cửa xuất (hao tài) | Bốn cửa làm tiêu phí tài sản. |
| āyamukha | cửa vào (hưng tài) | |
| kulaputta | thiện nam tử / người con nhà lành | |
| diṭṭhadhamma – samparāya | hiện tại – tương lai (đời sau) | |
| Byagghapajja | “chân cọp” | Tên gọi dòng họ mà Thế Tôn dùng để gọi Dīghajānu; Dīghajānu nghĩa là “đầu gối dài”. |
| itthidhutta, surādhutta, akkhadhutta, pāpamitta | đam mê đàn bà, đam mê rượu chè, đam mê cờ bạc, bạn ác | |
Câu hỏi mở đầu rất đáng học. Ông ấy không giả vờ mình đã buông bỏ. Ông kể thật: còn vợ con, còn dùng hương chiên-đàn, còn nhận vàng bạc. Rồi mới xin pháp. Sự thành thật ấy là điều kiện để nhận được câu trả lời đúng tầm.
Bốn pháp cho đời này — không có pháp nào là nghi lễ. Tháo vát (giỏi nghề, siêng, biết tổ chức công việc), phòng hộ (giữ của làm ra đúng pháp), bạn lành, sống điều hòa. Bốn điều ấy một người không theo đạo Phật cũng làm được — và Đức Phật gọi đó là pháp.
Chỗ sắc nhất: “sống thăng bằng điều hòa”. Kinh nêu hai lỗi ở hai đầu. Người tiêu quá tay thì “ăn tài sản như ăn trái cây sung” — rung cây cho rụng cả chùm, ăn vài trái rồi bỏ. Người keo quá thì “sẽ chết như người chết đói”. Kinh chê cả hai, không chỉ chê tiêu hoang.
Ví dụ hồ nước có bốn cửa. Bốn cửa làm hao: đam mê đàn bà, rượu chè, cờ bạc, bạn ác. Bốn cửa làm đầy: ngược lại. Hồ đầy hay cạn không do trời — do cửa nào mở, cửa nào đóng.
Bốn pháp cho đời sau. Lòng tin, giới đức, bố thí, trí tuệ. Chú ý: bốn pháp đời này nói về của cải và công việc; bốn pháp đời sau nói về tâm. Kinh không bảo bỏ cái trước để lấy cái sau — nó dạy cả tám.
Vì sao bài này quan trọng cho Gia Đình Phật Tử. Phần lớn kinh điển nói với người xuất gia. Bài này nói thẳng với người có gia đình, có nghề, có tiền — tức là với hầu hết quý anh chị và phụ huynh trong đoàn.
Phần V · Chỗ Thường Hiểu Lầm
- “Đạo Phật chê việc làm ăn.” Pháp thứ nhất là giỏi nghề và siêng năng. Kinh gọi đó là pháp.
- “Càng tiết kiệm càng tốt.” Kinh chê cả hai đầu — keo quá thì chết như người chết đói.
- “Phải bỏ đời sống gia đình mới tu được.” Người hỏi vẫn ở nhà, và được dạy tám pháp đủ cho hai đời.
Phần VI · Dùng Trong Sinh Hoạt Đoàn
- Ngành Oanh. Ví dụ hồ nước bốn cửa. Vẽ lên bảng: cửa nào cho nước vào, cửa nào cho nước ra.
- Ngành Thiếu. Hai lỗi hai đầu: ăn như ăn trái sung và chết như người chết đói. Hỏi các em nghiêng về đầu nào.
- Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài này hợp để nói với phụ huynh. Bốn pháp đời này là chuyện họ đang sống mỗi ngày.
Phần VII · Câu Hỏi Thảo Luận
- Vì sao Đức Phật không bảo ông ấy đi tu?
- Ăn tài sản như ăn trái cây sung — em hiểu ví dụ ấy thế nào?
- Bốn pháp đời này và bốn pháp đời sau — có mâu thuẫn nhau không?
- Trong bốn cửa làm hao tài, cửa nào khó đóng nhất?
✦
Nguồn
Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.