G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi · AN 4.62
Tăng Chi Bộ · Bốn Thứ An Lạc Của Người Cư Sĩ

Kinh Không Nợ

Ānaṇya Sutta — AN 4.62 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Không Nợ

Đức Phật kể ra bốn thứ an lạc mà người cư sĩ tại gia có thể hưởng — và ba thứ đầu đều là chuyện tiền bạc. Kinh không né tránh chuyện ấy. Nhưng thứ tư mới là chỗ Ngài nhắm tới.

  • Bộ — Tăng Chi, AN 4.62, Chương Bốn Pháp
  • Người nghe — gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc)
  • Bốn lạcsở hữu, thọ dụng, không mắc nợ, không phạm tội

Kinh Không Nợ (Ānaṇyasutta, AN 4.62) là bài Phật dạy riêng cho gia chủ Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika) — vị cư sĩ hộ pháp bậc nhất. Đây là một trong những bài kinh căn bản nhất về đời sống người tại gia, rất hợp để dạy đoàn sinh Gia Đình Phật Tử ở lứa tuổi bắt đầu biết đến tiền bạc và trách nhiệm. Thế Tôn nêu bốn loại an lạc mà người tại gia thọ hưởng các dục có thể đạt được, "tùy thời gian, tùy thời cơ": Một, LẠC SỞ HỮU (atthisukha): vui vì mình có tài sản, nhưng kinh nhấn mạnh rất rõ điều kiện — tài sản ấy phải "thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp". Không phải có tiền là vui; phải là tiền làm ra chân chính bằng chính sức mình. Hai, LẠC THỌ DỤNG TÀI SẢN (bhogasukha): vui vì biết dùng tài sản ấy — và điểm quan trọng là kinh gắn liền "thọ hưởng" với "làm các việc phước đức". Tiêu dùng đi đôi với bố thí, cúng dường, giúp người. Ba, LẠC KHÔNG MẮC NỢ (ānaṇyasukha): vui vì "không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều". Một niềm vui rất giản dị mà người lớn nào cũng hiểu: ngủ ngon vì không thiếu ai điều gì. Bốn, LẠC KHÔNG PHẠM TỘI (anavajjasukha): vị Thánh đệ tử thành tựu thân hành, khẩu hành, ý hành không phạm tội. Đây là loại an lạc thuộc về đạo đức, không dính gì đến tiền bạc. Kết thúc, hai bài kệ đưa ra một so sánh dứt khoát: hai loại lạc trước gộp lại cũng "chỉ bằng một phần mười sáu" lạc không phạm tội. Nghĩa là của cải dù chân chính đến đâu cũng không sánh được với một tâm hồn trong sạch. Đây chính là điểm cần nhấn khi giảng cho đoàn sinh: Phật không chê tiền bạc làm ra đúng pháp, nhưng Ngài xếp hạnh không lỗi lầm lên trên tất cả.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Gia chủ Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc) đi đến Thế Tôn, đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Thế Tôn nói với ông (AN 4.62:1.1).
  • 2. Nêu bốn loại an lạc — Thế Tôn nêu bốn loại an lạc người tại gia thọ hưởng các dục có thể thâu hoạch được, tùy thời gian tùy thời cơ: lạc sở hữu (atthisukha), lạc thọ dụng tài sản (bhogasukha), lạc không mắc nợ (ānaṇyasukha), lạc không phạm tội (anavajjasukha) — AN 4.62:2.1–2.3.
  • 3. Giải thích lạc sở hữu — Tài sản của thiện nam tử thâu hoạch do nỗ lực tinh tấn, do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra, đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp; nhớ nghĩ như vậy vị ấy được lạc, được hỷ (AN 4.62:3.1–3.4).
  • 4. Giải thích lạc thọ dụng tài sản — Thiện nam tử thọ hưởng tài sản đúng pháp ấy VÀ làm các việc phước đức; nhớ nghĩ như vậy được lạc, được hỷ (AN 4.62:4.1–4.4).
  • 5. Giải thích lạc không mắc nợ — Thiện nam tử không mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều; nhớ nghĩ như vậy được lạc, được hỷ (AN 4.62:5.1–5.4).
  • 6. Giải thích lạc không phạm tội — Vị Thánh đệ tử (ariyasāvaka) thành tựu thân hành, khẩu hành, ý hành không phạm tội; nhớ nghĩ như vậy được lạc, được hỷ. Kết lại bốn loại lạc (AN 4.62:6.1–6.5).
  • 7. Bài kệ kết thúc — Hai bài kệ: hai lạc trước gộp lại cũng không bằng một phần mười sáu (soḷasī kalā) của lạc không phạm tội (AN 4.62:7.1–8.4).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.62.1 (an4.62:1.1)
Atha kho anāthapiṇḍiko gahapati yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinnaṁ kho anāthapiṇḍikaṁ gahapatiṁ bhagavā etadavoca:
Rồi gia chủ Anāthapiṇḍika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với gia chủ Anāthapiṇḍika đang ngồi một bên:
Then the householder Anāthapiṇḍika went up to the Buddha, bowed, and sat down to one side. The Buddha said to him:
AN 4.62.2 (an4.62:2.1–2.3)
“Cattārimāni, gahapati, sukhāni adhigamanīyāni gihinā kāmabhoginā kālena kālaṁ samayena samayaṁ upādāya. Katamāni cattāri? Atthisukhaṁ, bhogasukhaṁ, ānaṇyasukhaṁ, anavajjasukhaṁ.
– Có bốn loại an lạc này, này gia chủ, người tại gia thọ hưởng các dục thâu hoạch được, tùy thời gian, tùy thời cơ khởi lên cho vị ấy. Thế nào là bốn? Lạc sở hữu, lạc thọ dụng tài sản, lạc không mắc nợ, lạc không phạm tội.
“Householder, these four kinds of happiness can be earned by a layperson who enjoys sensual pleasures, depending on time and occasion. What four? The happiness of ownership, using wealth, debtlessness, and blamelessness.
AN 4.62.3 (an4.62:3.2–3.4)
Idha, gahapati, kulaputtassa bhogā honti uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā. So ‘bhogā me atthi uṭṭhānavīriyādhigatā bāhābalaparicitā sedāvakkhittā dhammikā dhammaladdhā’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, atthisukhaṁ.
Ở đây, này gia chủ, tài sản của người thiện nam thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay, do mồ hôi đổ ra đúng pháp, thâu hoạch đúng pháp. Vị ấy suy nghĩ: “Ta có tài sản, thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được do sức mạnh cánh tay... thâu hoạch đúng pháp.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này gia chủ, đây gọi là lạc sở hữu.
It’s when a gentleman owns legitimate wealth that he has earned by his own efforts and initiative, built up with his own hands, gathered by the sweat of the brow. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of ownership’.
AN 4.62.4 (an4.62:4.2–4.4)
Idha, gahapati, kulaputto uṭṭhānavīriyādhigatehi bhogehi bāhābalaparicitehi sedāvakkhittehi dhammikehi dhammaladdhehi paribhuñjati puññāni ca karoti. … Idaṁ vuccati, gahapati, bhogasukhaṁ.
Ở đây, này gia chủ, người thiện nam tử thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn, tích lũy được... thâu hoạch đúng pháp và làm các việc phước đức. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thọ hưởng những tài sản thâu hoạch được do nỗ lực tinh tấn... thâu hoạch đúng pháp và ta làm các phước đức.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này gia chủ, đây gọi là lạc thọ dụng tài sản.
It’s when a gentleman uses his legitimate wealth, and makes merit with it. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of using wealth’.
AN 4.62.5 (an4.62:5.2–5.4)
Idha, gahapati, kulaputto na kassaci kiñci dhāreti appaṁ vā bahuṁ vā. So ‘na kassaci kiñci dhāremi appaṁ vā bahuṁ vā’ti adhigacchati sukhaṁ, adhigacchati somanassaṁ. Idaṁ vuccati, gahapati, ānaṇyasukhaṁ.
Ở đây, này gia chủ, người thiện nam tử không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta không có mắc nợ ai một điều gì, ít hay nhiều.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này gia chủ, đây gọi là lạc không mắc nợ.
It’s when a gentleman owes no debt, large or small, to anyone. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of debtlessness’.
AN 4.62.6 (an4.62:6.2–6.4)
Idha, gahapati, ariyasāvako anavajjena kāyakammena samannāgato hoti, anavajjena vacīkammena samannāgato hoti, anavajjena manokammena samannāgato hoti. … Idaṁ vuccati, gahapati, anavajjasukhaṁ.
Ở đây, này gia chủ, vị Thánh đệ tử thành tựu thân hành không phạm tội, thành tựu khẩu hành không phạm tội, thành tựu ý hành không phạm tội. Vị ấy nghĩ rằng: “Ta thành tựu thân hành không phạm tội, khẩu hành không phạm tội, ý hành không phạm tội.” Nghĩ vậy, vị ấy được lạc, được hỷ. Này gia chủ, đây gọi là lạc không phạm tội.
It’s when a noble disciple has blameless conduct by way of body, speech, and mind. When he reflects on this, he’s filled with pleasure and happiness. This is called ‘the happiness of blamelessness’.
AN 4.62.7 (kệ, an4.62:7.1–7.4)
Ānaṇyasukhaṁ ñatvāna, / Atho atthisukhaṁ paraṁ; / Bhuñjaṁ bhogasukhaṁ macco, / Tato paññā vipassati.
Được lạc không mắc nợ,
Nhớ đến lạc sở hữu,
Người hưởng lạc tài sản,
Với tuệ, thấy như thị.
Knowing the happiness of debtlessness, / and the extra happiness of possession, / a mortal enjoying the happiness of using wealth, / then discerns clearly with wisdom.
AN 4.62.8 (kệ, an4.62:8.1–8.4)
Vipassamāno jānāti, / ubho bhoge sumedhaso; / Anavajjasukhassetaṁ, / kalaṁ nāgghati soḷasin”ti.
Do thấy, vị ấy biết,
Sáng suốt cả hai phần,
Lạc vậy chỉ bằng được,
Bằng một phần mười sáu,
Lạc không có phạm tội.
Discerning clearly, a clever person knows / both kinds of happiness: / the other kind is not worth a sixteenth part / of the happiness of blamelessness.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ānaṇya (ānaṇyasukha)không mắc nợ; lạc không mắc nợTừ ā + iṇa (nợ); ấn bản khác ghi aṇaṇa. Chính chữ này làm tên kinh.
atthisukhalạc sở hữu — niềm vui vì có tài sản đúng pháp
bhogasukhalạc thọ dụng tài sản — niềm vui vì tiêu dùng tài sản và làm phước
anavajjasukhalạc không phạm tội — niềm vui vì thân, khẩu, ý không lỗi lầmanavajja = không đáng chê trách, không lỗi
gahapatigia chủ, người cư sĩ tại gia
kāmabhogīngười thọ hưởng các dục (tức người tại gia)
kulaputtathiện nam tử, người con nhà lành
ariyasāvakavị Thánh đệ tử
uṭṭhānavīriyanỗ lực tinh tấn, sự siêng năng đứng dậy làm việc
dhammika, dhammaladdhađúng pháp; thâu hoạch đúng pháp (làm ăn chân chính)
puññaphước, công đức
somanassahỷ, sự hoan hỷ trong tâm
kāyakamma, vacīkamma, manokammathân hành, khẩu hành, ý hành (nghiệp thân, miệng, ý)
soḷasī kalāmột phần mười sáuThành ngữ Pali chỉ sự chênh lệch rất lớn: hai lạc kia không bằng một phần mười sáu lạc không phạm tội.
PattakammavaggaPhẩm Nghiệp Công Đức — phẩm thứ VII của Chương Bốn Pháp, nơi kinh này là bài thứ hai

Ba lạc đầu đều nói về tiền — và kinh nói thẳng. Lạc sở hữu: có tài sản do mồ hôi tay mình làm ra đúng pháp. Lạc thọ dụng: dùng tài sản ấy và làm phước với nó. Lạc không mắc nợ: không thiếu ai một đồng nào, nhiều hay ít. Đức Phật không chê ba thứ ấy.

Lạc không mắc nợ — chỗ rất đời. Kinh ghi rõ: không mắc nợ ai một ít hay nhiều. Đây là niềm vui ai từng mắc nợ đều hiểu ngay, không cần giải thích bằng giáo lý.

Lạc thứ tư mới là chỗ kinh nhắm. Lạc không phạm tội: thân, khẩu, ý không có lỗi. Và bài kệ kết nói rằng hai lạc trước gộp lại cũng không bằng một phần mười sáu lạc không phạm tội.

Chỗ chúng tôi phải đính chính. Bản tra cứu đầu ghi “ba lạc trước gộp lại”. Lượt soi độc lập tra nguyên văn an4.62:8.2 và chỉ ra chữ Pāli là ubho — nghĩa là hai, không phải ba. Chúng tôi đã sửa và ghi lại đây thay vì sửa thầm.

Vì sao thứ tự lại đặt như vậy. Ba lạc về tiền đứng trước, lạc không phạm tội đứng sau. Không phải vì tiền quan trọng hơn — mà vì đó là chỗ người nghe đang đứng. Kinh bắt đầu từ chỗ người ta đang có, rồi mới chỉ chỗ cao hơn.

  • “Đạo Phật coi tiền là xấu.” Kinh kể ba thứ an lạc về tiền và gọi chúng là lạc.
  • “Có tiền là đủ.” Bài kệ nói hai lạc kia không bằng một phần mười sáu lạc không phạm tội.
  • “Lạc sở hữu là có nhiều của.” Kinh nói rõ: tài sản do mồ hôi tay mình, thâu hoạch đúng pháp. Nguồn gốc mới là điều kiện.
  • Ngành Oanh. Lạc không mắc nợ: mượn đồ của bạn mà trả rồi thì trong lòng thế nào?
  • Ngành Thiếu. Bốn lạc, xếp thứ tự. Hỏi các em tự xếp trước, rồi so với kinh.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Lạc thọ dụng — dùng tài sản và làm phước với nó. Bàn về việc cúng dường và giúp đoàn.
  • Vì sao kinh xếp ba lạc về tiền trước?
  • Lạc không mắc nợ — em đã từng thấy chưa?
  • Vì sao lạc không phạm tội lại hơn hẳn?
  • Tài sản đúng pháp khác tài sản nhiều ở chỗ nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.