G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 4.53
Tăng Chi Bộ · Bốn Hạng Vợ Chồng

Kinh Chung Sống

Paṭhamasaṁvāsa Sutta — AN 4.53 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộKinh Chung Sống

Tam Tạng ít khi nói thẳng về đời sống vợ chồng. Bài này chia bốn hạng, và tên gọi nghe rất nặng: quỷ sống với quỷ, quỷ sống với thiên nữ, thiên nam sống với quỷ, thiên nam sống với thiên nữ. Nhưng chỗ định nghĩa mới đáng đọc.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, bài 53
  • Duyên khởi — Thế Tôn đang đi đường, gặp nhiều gia chủ nam nữ cùng đi
  • Bốn hạngchavā (quỷ / xác chết) và devī / devo (thiên nữ / thiên nam)

Kinh này Đức Phật dạy cho một nhóm nam nữ gia chủ gặp Ngài trên đường đi giữa Madhurā và Verañjā. Nhân lúc Thế Tôn rời đường, ngồi dưới một gốc cây, các gia chủ đến đảnh lễ và ngồi xuống một bên; Ngài liền dạy về "bốn loại sống chung" (cattāro saṁvāsā) của vợ chồng. Bốn loại đó được đặt tên theo phẩm hạnh, không theo địa vị hay giàu nghèo: (1) đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ; (2) đê tiện nam sống chung với Thiên nữ; (3) Thiên nam sống chung với đê tiện nữ; (4) Thiên nam sống chung với Thiên nữ. Chữ Pāli "chava" nghĩa đen là tử thi, xác chết (Sujato dịch là "zombie"), còn "deva/devī" là chư thiên. Tiêu chuẩn phân biệt rất cụ thể và rất gần với Năm Giới mà đoàn sinh Gia Đình Phật Tử đang giữ: người "đê tiện" là người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống trong gia đình với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, lại còn nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Người "Thiên" thì ngược lại: từ bỏ năm điều ấy, có giới, thiện tánh, sống với tâm lìa cấu uế xan tham, không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Sau phần văn xuôi, Đức Phật kết lại bằng các câu kệ: hai vợ chồng cùng ác giới, xan tham, nhiếc mắng thì là hai kẻ đê tiện sống chung; chồng ác vợ hiền thì vợ là Thiên nữ sống với chồng đê tiện, và ngược lại. Còn khi cả hai đều có lòng tin, biết bố thí, sống chế ngự và chánh mạng thì họ nói lời thân ái với nhau, nhu cầu được đầy đủ, sống an ổn, kẻ thù phải thất vọng; ở đời này sống theo pháp, cùng giữ giới hạnh đồng đẳng, đời sau cả hai hoan hỷ trong Thiên giới. Ý nghĩa giáo dục: hạnh phúc gia đình được xây trên giới hạnh và tâm rộng rãi của cả hai người, chứ không phải trên tài sản; và mỗi người tự quyết định mình là "Thiên" hay "đê tiện" bằng chính hành vi của mình.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: trên đường giữa Madhurā và Verañjā — Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Madhurā và Veranjà; nhiều nam gia chủ và nữ gia chủ cũng đang đi trên con đường ấy. Thế Tôn rời đường, ngồi xuống dưới một gốc cây. Các gia chủ thấy vậy, đi đến, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với họ. (Pāli 1.1–1.5)
  • 2. Nêu bốn loại sống chung — "Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn?" — đê tiện nam với đê tiện nữ; đê tiện nam với Thiên nữ; Thiên nam với đê tiện nữ; Thiên nam với Thiên nữ. (Pāli 2.1–2.6)
  • 3. Giải thích loại thứ nhất: đê tiện nam sống chung với đê tiện nữ — Chồng sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn; người vợ cũng vậy. (Pāli 3.1–3.4)
  • 4. Giải thích loại thứ hai: đê tiện nam sống chung với Thiên nữ — Chồng như trên; còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. (Pāli 4.1–4.4)
  • 5. Giải thích loại thứ ba: Thiên nam sống chung với đê tiện nữ — Ngược lại loại thứ hai: chồng có giới, thiện tánh, không xan tham, không nhiếc mắng chưởi rủa; người vợ thì ác giới, tánh ác, xan tham, nhiếc mắng chưởi rủa. (Pāli 5.1–5.4)
  • 6. Giải thích loại thứ tư: Thiên nam sống chung với Thiên nữ — Cả chồng lẫn vợ đều từ bỏ năm điều ác, có giới, thiện tánh, sống với tâm lìa cấu uế xan tham, không nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Kết: "Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này." (Pāli 6.1–6.5)
  • 7. Phần kệ tụng kết thúc (6 bài kệ) — Bốn bài kệ lặp lại bốn trường hợp; hai bài kệ cuối tán thán cặp vợ chồng đồng giới hạnh: nói lời thân ái, nhu cầu đầy đủ, sống an ổn, kẻ thù thất ý, và sau khi sống theo pháp, cùng giữ cấm giới đồng đẳng, cả hai hoan hỷ trong Thiên giới. (Pāli 7.1–12.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 4.53, đoạn 1.1–1.2 (duyên khởi)
Ekaṁ samayaṁ bhagavā antarā ca madhuraṁ antarā ca verañjaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti. Sambahulāpi kho gahapatī ca gahapatāniyo ca antarā ca madhuraṁ antarā ca verañjaṁ addhānamaggappaṭipannā honti.
Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja. Và nhiều nam gia chủ và nữ gia chủ cũng đang đi trên con đường giữa Madhurà và Veranja.
At one time the Buddha was traveling along the road between Madhurā and Verañjā, as were several householders, both women and men.
AN 4.53, đoạn 2.1–2.6 (nêu bốn loại sống chung)
Cattārome, gahapatayo, saṁvāsā. Katame cattāro? Chavo chavāya saddhiṁ saṁvasati, chavo deviyā saddhiṁ saṁvasati, devo chavāya saddhiṁ saṁvasati, devo deviyā saddhiṁ saṁvasati.
Này các Gia chủ, có bốn loại sống chung này. Thế nào là bốn? Ðê tiện nam sống chung với đê tiện nữ. Ðê tiện nam sống chung với Thiên nữ. Thiên nam sống chung với đê tiện nữ. Thiên nam sống chung với Thiên nữ.
Householders, there are four ways of living together. What four? A male zombie living with a female zombie; a male zombie living with a goddess; a god living with a female zombie; a god living with a goddess.
AN 4.53, đoạn 3.2–3.3 (đê tiện nam với đê tiện nữ)
Idha, gahapatayo, sāmiko hoti pāṇātipātī adinnādāyī kāmesumicchācārī musāvādī surāmerayamajjapamādaṭṭhāyī dussīlo pāpadhammo maccheramalapariyuṭṭhitena cetasā agāraṁ ajjhāvasati akkosakaparibhāsako samaṇabrāhmaṇānaṁ; bhariyāpissa hoti pāṇātipātinī …
Ở đây, này các Gia chủ, người chồng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối, nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Còn người vợ cũng sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu, ác giới, tánh ác, sống ở gia đình với một tâm bị cấu uế xan tham chi phối.
It's when the husband kills living creatures, steals, commits sexual misconduct, lies, and consumes intoxicants of beer, wine, and liquor. He's unethical, of bad character, living at home with his heart full of the stain of stinginess, abusing and insulting ascetics and brahmins. And the wife is also … unethical, of bad character …
AN 4.53, đoạn 4.3–4.4 (đê tiện nam với Thiên nữ)
Bhariyā khvassa hoti pāṇātipātā paṭiviratā adinnādānā paṭiviratā kāmesumicchācārā paṭiviratā musāvādā paṭiviratā surāmerayamajjapamādaṭṭhānā paṭiviratā sīlavatī kalyāṇadhammā vigatamalamaccherena cetasā agāraṁ ajjhāvasati anakkosikaparibhāsikā samaṇabrāhmaṇānaṁ. Evaṁ kho, gahapatayo, chavo deviyā saddhiṁ saṁvasati.
Còn người vợ từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ đắm say rượu men rượu nấu, có giới, thiện tánh, sống ở gia đình không với tâm bị cấu uế xan tham chi phối, không có nhiếc mắng chưởi rủa các Sa-môn, Bà-la-môn. Như vậy, này các Gia chủ, là đê tiện nam sống chung với Thiên nữ.
But the wife doesn't kill living creatures, steal, commit sexual misconduct, lie, or consume beer, wine, and liquor intoxicants. She's ethical, of good character, living at home with heart rid of the stain of stinginess, not abusing and insulting ascetics and brahmins. That's how a male zombie lives with a goddess.
AN 4.53, kệ 7.1–7.4
Ubho ca honti dussīlā, kadariyā paribhāsakā; Te honti jānipatayo, chavā saṁvāsamāgatā.
Cả hai là ác giới, / Xan tham và nhiếc mắng, / Cặp vợ và chồng ấy, / Ðê tiện sống đê tiện.
When both are unethical, miserly and abusive, then wife and husband live together as zombies.
AN 4.53, kệ 8.1–8.6
Sāmiko hoti dussīlo, kadariyo paribhāsako; Bhariyā sīlavatī hoti, vadaññū vītamaccharā; Sāpi devī saṁvasati, chavena patinā saha.
Chồng là người ác giới, / Xan tham và nhiếc mắng, / Vợ là người có giới, / Bố thí, không xan tham, / Như vậy vợ Thiên nữ / Sống với chồng đê tiện.
When the husband is unethical, miserly and abusive, but the wife is ethical, bountiful, rid of stinginess, she's a goddess living with a zombie for a husband.
AN 4.53, kệ 10.1–11.4
Ubho saddhā vadaññū ca, saññatā dhammajīvino; Te honti jānipatayo, aññamaññaṁ piyaṁvadā. Atthāsaṁ pacurā honti, phāsukaṁ upajāyati; Amittā dummanā honti, ubhinnaṁ samasīlinaṁ.
Cả hai, tín, bố thí, / Sống chế ngự, chánh mạng. / Cả hai vợ chồng ấy, / Nói lời thân ái nhau, / Ðời sống nhiều hạnh phúc / Chờ đợi hai người ấy. / Kẻ thù không thích ý, / Cả hai giới hạnh lành.
When both are faithful and bountiful, disciplined, living righteously, then wife and husband say nice things to each other. Their needs are amply satisfied, so they live at ease. Their enemies are downhearted, when both are equal in ethics.
AN 4.53, kệ 12.1–12.4 (kệ kết)
Idha dhammaṁ caritvāna, samasīlabbatā ubho; Nandino devalokasmiṁ, modanti kāmakāmino'ti.
Ở đây sống theo pháp, / Giữ cấm giới đồng đẳng, / Cả hai giới hạnh lành, / Sống hoan hỷ Thiên giới, / Hân hoan được thỏa mãn, / Ðúng với điều cầu mong.
Having practiced the teaching here, both equal in precepts and observances, they delight in the heavenly realm, enjoying all the pleasures they desire.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saṁvāsasống chung, chung sống (đời sống vợ chồng)Tên kinh Paṭhamasaṁvāsa = "Sống Chung, phần thứ nhất"; có bài kế tiếp AN 4.54 (Dutiyasaṁvāsa).
chava (nam) / chavā (nữ)đê tiện; nghĩa đen là tử thi, xác chếtHT. Minh Châu dịch "đê tiện nam / đê tiện nữ"; Sujato dịch "zombie".
deva / devīThiên nam / Thiên nữ, chư thiênỞ đây chỉ người giữ giới, tâm rộng rãi — không phải sinh làm trời.
gahapatī ca gahapatāniyo cacác nam gia chủ và nữ gia chủ (cư sĩ tại gia)
sāmika / bhariyāngười chồng / người vợ
dussīla / sīlavā (sīlavatī)ác giới (không giữ giới) / có giới, người giữ giới
pāpadhamma / kalyāṇadhammatánh ác / thiện tánh
macchera, maccheramalaxan tham, keo kiệt; cấu uế xan tham
vadaññūrộng rãi, biết bố thí, đáp ứng lời xin
akkosaka-paribhāsakakẻ nhiếc mắng, chưởi rủa (đối với Sa-môn, Bà-la-môn)
pāṇātipāta, adinnādāna, kāmesumicchācāra, musāvāda, surāmerayamajjapamādaṭṭhānasát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, đắm say rượu men rượu nấu — tức Năm Giới
samasīla / samasīlabbatađồng đẳng về giới; cùng giữ giới hạnh và cấm giới như nhau
PuññābhisandavaggaPhẩm Nguồn Sanh Phước — phẩm chứa bài kinh này

Chữ dịch là “quỷ” cần hiểu cho đúng. Pāli là chava — nghĩa gốc là xác chết, cái đã hết sức sống. Không phải ma quỷ hại người. Kinh dùng chữ ấy để nói một đời sống đã cạn.

Và “quỷ” hay “thiên” được xác định bằng giới hạnh, không bằng tính tình. Đây là chỗ then chốt. Kinh nêu rõ: người sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh, nói dối, uống rượu men rượu nấu, ác giới, ác tánh, xan tham, nhiếc mắng Sa-môn Bà-la-mônngười ấy là “xác chết”. Không phải vì khó tính, mà vì đã bỏ giới.

Ngược lại cũng vậy. Người từ bỏ năm điều ấy, có giới, thiện tánh, không xan tham thì kinh gọi là “thiên”. Cùng một thước đo cho cả chồng lẫn vợ — kinh không đặt tiêu chuẩn khác nhau cho hai bên.

Chỗ đáng chú ý nhất là hai hạng ở giữa. Một người giữ giới, một người không — kinh không bảo bỏ nhau, cũng không bảo người giữ giới phải hạ xuống. Kinh chỉ gọi đúng tên tình cảnh ấy. Việc phải làm thì để người trong cuộc quyết.

Vì sao bài này hữu ích mà không sỗ sàng.không nói về tình cảm, không nói ai hợp ai không hợp. Nó chỉ hỏi một câu: hai người có cùng giữ những điều ấy không? Đó là câu hỏi trả lời được.

Và bài kinh có một lời hứa ở cuối. Cặp cùng giữ giới, cùng có lòng tin thì “cả hai thấy nhau trong đời này và cả đời sauđược an lạc. Nối thẳng với AN 6.16 — bài kể vợ chồng ông Nakulapitā.

Xin thưa một điều khi đem dạy. Đừng dùng bài này để phán xét gia đình người khác. Kinh đặt thước đo cho chính mình. Trong đoàn có em cha mẹ không giữ giới — nếu dạy vụng, các em sẽ đem chữ “quỷ” về nhà.

  • “Quỷ nghĩa là người dữ.” Chava nghĩa gốc là xác chết — một đời sống đã cạn.
  • “Vợ chồng khác hạng thì nên bỏ nhau.” Kinh không nói vậy — chỉ gọi tên tình cảnh.
  • “Tiêu chuẩn cho vợ khác cho chồng.” Kinh dùng cùng một thước đo cho cả hai.
  • Ngành Oanh. Không nên dạy bài này.
  • Ngành Thiếu. Chỉ lấy ý: người ta được đánh giá bằng việc mình giữ, không bằng lời mình nói. Đừng dùng chữ “quỷ”.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài hợp cho lớp huynh trưởng đã lập gia đình. Nhấn: thước đo là cho mình.
  • Chữ chava nghĩa gốc là gì?
  • Kinh đo bằng gì — tính tình hay giới hạnh?
  • Với hai hạng ở giữa, kinh khuyên làm gì?
  • Vì sao không nên dùng bài này để phán xét người khác?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.