G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tăng Chi Bộ · AN 1.1–10
Mười Bài Cực Ngắn Mở Đầu Cả Bộ Kinh

Phẩm Sắc

Rūpādivagga — AN 1.1–10 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTăng Chi BộPhẩm Sắc

Đây là phẩm đầu tiên của Tăng Chi Bộ Kinh: mười bài kinh ngắn tới mức cả mười cộng lại chưa đầy một trang. Và điều đáng để ý là Đức Phật mở đầu cả một bộ kinh đồ sộ không bằng một giáo lý cao siêu — mà bằng điều chiếm ngự tâm người ta nhiều nhất.

  • Bộ — Tăng Chi Bộ, Chương Một Pháp, kinh 1–10; mười bài mở đầu của cả bộ
  • PhẩmRūpādivagga, phẩm thứ nhất; tên phẩm lấy theo chữ đầu (rūpa = sắc)
  • Chính kinh văn xác nhận — dòng khép phẩm ghi “Rūpādivaggo paṭhamo” (Phẩm Sắc là phẩm thứ nhất)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu, đề mục “I. Phẩm Sắc — 1.1–10. Nữ Sắc v.v…”

Mười bài kinh này được xếp thành hai vế cân nhau tuyệt đối, năm bài một vế. Năm bài đầu (AN 1.1–5): Đức Phật dạy rằng Ngài không thấy một sắc nào khác, một tiếng nào khác, một hương, một vị, một xúc nào khác xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc, tiếng, hương, vị, xúc của người đàn bà. Năm bài sau (AN 1.6–10): nguyên văn ấy được lặp lại, chỉ đổi chỗ hai bên — không có sắc, tiếng, hương, vị, xúc nào xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc, tiếng, hương, vị, xúc của người đàn ông. Chỉ có thế. Không một lời trách móc, không một lời phán xét. Bài kinh chỉ ghi nhận một sự thật về cái tâm chưa được tu tập: nó bị chiếm chỗ. Chữ Pāli ở đây là cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati — nghĩa đen là “đứng đó sau khi đã vét sạch tâm”, tức chiếm trọn chỗ, không chừa chỗ cho việc gì khác. Điều quan trọng nhất mà người đọc cần thấy là tính đối xứng. Bài kinh không nói người đàn bà là mối nguy cho người đàn ông; nó nói cả hai bên đều như nhau trước cùng một sức hút. Và nó đếm đủ năm giác quan — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân — chứ không chỉ nói tới cái nhìn. Đó chính là năm ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc) sẽ được nói kỹ trong Tương Ưng Sáu Xứ. Vì sao lại đặt mười bài này ở ngay đầu bộ kinh? Vì Tăng Chi Bộ là bộ kinh xếp pháp theo con số, mà chương đầu là “một pháp” — mỗi bài chỉ nêu một điều. Và điều được nêu trước hết, trước cả tín, tấn, niệm, định, tuệ, là điều mà người tu phải nhìn thẳng đầu tiên: sức mạnh của dục ái trên một cái tâm chưa có nơi nương tựa. Phẩm kế tiếp (Phẩm Đoạn Triền Cái) mới nói tới thuốc chữa.

Bố cục phẩm kinhMười bài, hai vế cân nhau

  • AN 1.1–5 · vế thứ nhất — sắc, tiếng, hương, vị, xúc của người nữ chiếm ngự tâm người nam; mỗi giác quan một bài
  • AN 1.6–10 · vế thứ hainguyên văn ấy, đổi chỗ hai bên: sắc, tiếng, hương, vị, xúc của người nam chiếm ngự tâm người nữ
  • Lối chép tắt — kinh văn Pāli gộp các bài 3–5 và 7–10 bằng dấu lược, vì mỗi bài chỉ đổi một chữ; bản Việt cũng chép tắt như vậy
  • Dòng khép phẩmRūpādivaggo paṭhamo: hết phẩm thứ nhất

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

AN 1.1:1.1–1.6 (duyên khởi)
Evaṁ me sutaṁ— ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ. Bhagavā etadavoca:
Tôi nghe như vầy. Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, rừng Jetavana, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo: —Này các Tỷ-kheo! —Thưa vâng, bạch Thế Tôn! Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied. The Buddha said this:
AN 1.1:2.1–2.2 (bài 1 · sắc)
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekarūpampi samanupassāmi yaṁ evaṁ purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati yathayidaṁ, bhikkhave, itthirūpaṁ. Itthirūpaṁ, bhikkhave, purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī”ti.
—Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
“Mendicants, I do not see a single sight that occupies a man’s mind like the sight of a woman. The sight of a woman occupies a man’s mind.”
AN 1.2:1.1 (bài 2 · tiếng)
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekasaddampi samanupassāmi yaṁ evaṁ purisassa cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati yathayidaṁ, bhikkhave, itthisaddo.
Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà.
“Mendicants, I do not see a single sound that occupies a man’s mind like the sound of a woman.
AN 1.3–1.5 (bài 3, 4, 5 · hương, vị, xúc)
…ekagandhampi… itthigandho. …ekarasampi… itthiraso. …ekaphoṭṭhabbampi… itthiphoṭṭhabbo.
Ta không thấy một hương… một vị… một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương… vị… xúc người đàn bà.
…a single smell… a single taste… a single touch that occupies a man’s mind like the smell… taste… touch of a woman.
AN 1.6:1.1–1.2 (bài 6 · đổi chỗ hai bên)
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekarūpampi samanupassāmi yaṁ evaṁ itthiyā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati yathayidaṁ, bhikkhave, purisarūpaṁ. Purisarūpaṁ, bhikkhave, itthiyā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī”ti.
Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
“Mendicants, I do not see a single sight that occupies a woman’s mind like the sight of a man. The sight of a man occupies a woman’s mind.”
AN 1.10:1.1–1.2 (bài 10 · xúc, bài chót)
“Nāhaṁ, bhikkhave, aññaṁ ekaphoṭṭhabbampi samanupassāmi yaṁ evaṁ itthiyā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati yathayidaṁ, bhikkhave, purisaphoṭṭhabbo. Purisaphoṭṭhabbo, bhikkhave, itthiyā cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatī”ti.
Ta không thấy một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như xúc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
“Mendicants, I do not see a single touch that occupies a woman’s mind like the touch of a man. The touch of a man occupies a woman’s mind.”
AN 1.10:1.4 (dòng khép phẩm)
Rūpādivaggo paṭhamo.
Phẩm Sắc, phẩm thứ nhất.
The Chapter on Sights, Etc., the first.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
rūpasắc — cái được thấy bằng mắttên phẩm lấy từ chữ này: rūpādi = “sắc v.v…”
saddathanh, tiếng — cái được nghe
gandhahương — cái được ngửi
rasavị — cái được nếm
phoṭṭhabbaxúc — cái được thân chạm tớinăm chữ trên chính là năm ngoại xứ
cittaṁ pariyādāya tiṭṭhatixâm chiếm và ngự trị tâmnghĩa đen: “vét sạch tâm rồi đứng đó”; Sujato dịch “occupies the mind”
samanupassāmiTa thấy, Ta quán thấynāhaṁ… samanupassāmi = “Ta không thấy…”
itthi / purisangười nữ / người namhai chữ này đổi chỗ cho nhau ở nửa sau của phẩm
kāmarāgadục tham, lòng ham muốn theo năm dụcchữ này không có trong phẩm, nhưng là điều phẩm đang nói tới
ekakamột, thuộc về số mộtEkakanipāta = Chương Một Pháp, chương chứa phẩm này

Xin thưa trước một điều về chỗ đứng của phẩm này. Tăng Chi Bộ là một bộ kinh rất lớn, và mười bài cực ngắn này là mười bài mở đầu. Cả mười cộng lại chưa đầy một trang giấy.

Và Đức Phật không mở đầu bằng một giáo lý cao siêu. Ngài mở đầu bằng điều đang thật sự chiếm chỗ trong tâm người ta.

Xin để ý chữ Pāli, vì nó mạnh hơn bản dịch. Cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati — nghĩa đen là “vét sạch cái tâm rồi ĐỨNG ĐÓ”. Không chừa chỗ cho việc gì khác. HT. Thích Minh Châu dịch là “xâm chiếm và ngự trị” — rất sát.

Nhưng điều quan trọng nhất của phẩm này là TÍNH ĐỐI XỨNG. Xin đọc kỹ chỗ ấy.

Năm bài đầu nói một chiều. Năm bài sau nói chiều ngược lại — từng chữ một. Không thêm, không bớt, chỉ đổi chỗ hai chữ itthipurisa.

Nghĩa là bài kinh KHÔNG nói bên nào là mối nguy cho bên nào. Nó nói cả hai bên đều đứng trước cùng một sức hút. Đây là chỗ người đọc vội rất hay hiểu lệch.

Xin để ý điều thứ hai: phẩm này đếm ĐỦ NĂM GIÁC QUAN. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thânchứ không phải chỉ có cái nhìn.

Và đó là điều rất thật trong đời sống. Một giọng nói, một mùi hương quen, một bữa ăn, một cái chạm taybài kinh gọi tên từng thứ một, không gộp lại.

Xin thưa thêm cho anh chị em học sâu. Năm chữ rūpa · sadda · gandha · rasa · phoṭṭhabba chính là NĂM NGOẠI XỨđề tài lớn của Tương Ưng Sáu Xứ. Phẩm mở đầu này đã đặt sẵn nền cho cả một thiên kinh về sau.

Và xin thưa lời cuối, là chỗ đáng an ủi. Phẩm này chỉ NÊU BỆNH, chưa cho thuốc. Thuốc nằm ở phẩm ngay kế tiếpPhẩm Đoạn Triền Cái, nơi Đức Phật nói cái gì nuôi lớn và cái gì dứt bỏ từng triền cái một.

  • “Đức Phật đang cảnh giác người nam về người nữ.” Không — năm bài nói chiều này, năm bài nói chiều kia, từng chữ một. Ai chỉ trích năm bài đầu là mới đọc một nửa phẩm kinh.
  • “Bài kinh nói về nhan sắc.” Phẩm này đếm đủ năm giác quansắc, thanh, hương, vị, xúc, mỗi thứ một bài riêng.
  • “Vậy sắc thanh hương vị xúc là xấu.” Kinh không nói thế. Kinh nói cái tâm chưa tu tập thì bị chiếm trọn chỗ. Chỗ được nêu là cái tâm, không phải cái sắc hay cái tiếng.
  • “Bài ngắn là bài phụ.” Mười bài này mở đầu CẢ Tăng Chi Bộchỗ trang trọng nhất của một bộ kinh hàng ngàn bài.
  • Ngành Oanh. Học thuộc năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Rồi hỏi các em: thứ nào kéo em mạnh nhất?bánh kẹo, bài hát, hay trò chơi?
  • Ngành Thiếu. Cho các em tự tìm ra tính đối xứng: đọc bài 1–5, rồi đọc bài 6–10, đếm xem đổi mấy chữ. Các em tự thấy sẽ nhớ lâu hơn mình giảng.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về chữ “chiếm ngự tâm”: ngày nay điều gì vét sạch tâm mình rồi đứng đó? Bài kinh viết cách đây hai ngàn năm trăm năm, nhưng câu hỏi ấy vẫn nguyên.
  • Vì sao phẩm này có đúng mười bài, và vì sao lại chia năm với năm?
  • Chữ cittaṁ pariyādāya tiṭṭhati nghĩa đen là gì?
  • Phẩm kinh gọi tên những giác quan nào?
  • Kinh chê cái sắc cái tiếng, hay nói về cái tâm chưa tu tập?
  • Vì sao phẩm này được đặt ở đầu cả bộ kinh?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên từng bài một (mười bài, không sai chỗ nào); số bài và cách chia năm–năm đã đếm lại từ kinh văn, và thứ tự phẩm lấy theo chính dòng khép phẩm Rūpādivaggo paṭhamo. Muốn đọc trọn phẩm kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.