G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tiểu Bộ · Ud 5.5
Phật Tự Thuyết · Biển Lớn Và Chánh Pháp

Tám Điều Kỳ Diệu Của Biển

Uposatha Sutta — Ud 5.5 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTiểu BộTám Điều Kỳ Diệu Của Biển

Đêm trai giới, Đức Phật ngồi im lặng suốt ba canh vì trong hội chúng có một người không thanh tịnh. Tới khi người ấy bị đưa ra ngoài, Ngài mới nói — và Ngài nói về biển lớn.

  • Bộ — Tiểu Bộ, Kinh Phật Tự Thuyết (Udāna) 5.5
  • Bối cảnh — đêm trai giới (uposatha), lúc chúng Tăng tụng giới bổn
  • Cấu trúctám điều kỳ diệu của biển, mỗi điều ứng với một điều kỳ diệu của Pháp và Luật

Kinh mở đầu vào một ngày trai giới (uposatha) tại lâu đài mẹ Migāra ở Sāvatthī. Tôn giả Ānanda ba lần — canh đầu, canh giữa, canh cuối khi trời hửng sáng — đứng dậy, đắp y một bên vai, chắp tay thỉnh Thế Tôn tụng giới bổn Pātimokkha cho chúng Tỳ-kheo. Hai lần đầu Thế Tôn im lặng; lần thứ ba Ngài chỉ nói: "Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh." Tôn giả Mahāmoggallāna dùng tâm quán tâm toàn thể chúng Tăng, thấy một người ác giới, nội tâm hủ bại, không phải Sa-môn mà tự nhận là Sa-môn, đang ngồi giữa chúng. Ngài ba lần bảo người ấy đứng dậy đi ra; người ấy im lặng, nên Ngài phải nắm tay dắt ra ngoài cửa và cài then. Thế Tôn dạy: "Thật vi diệu thay, này Moggallāna" — kẻ ngu si ấy đợi đến khi bị nắm tay mới chịu đi. Rồi Thế Tôn tuyên bố từ nay Ngài không làm lễ Uposatha và không tụng Pātimokkha nữa; chính chư Tỳ-kheo phải tự làm, vì không có trường hợp Như Lai tụng giới bổn giữa hội chúng không thanh tịnh. Tiếp đó là phần cốt lõi thường được trích tụng: Thế Tôn nêu tám pháp kỳ diệu chưa từng có của biển lớn mà các A-tu-la thấy rồi thích thú, và đối chiếu với tám pháp kỳ diệu của Pháp và Luật này khiến chư Tỳ-kheo hoan hỷ: (1) biển xuôi dần, không có vực thẳm đột ngột — cũng vậy, trong Pháp và Luật này có học tập tuần tự, không có chứng ngộ chánh trí đột ngột; (2) biển không vượt qua bờ — đệ tử dù mất mạng cũng không vượt học giới; (3) biển không dung chứa xác chết — chúng Tăng lập tức trục xuất người ác giới; (4) các sông lớn về biển đều bỏ tên họ cũ — bốn giai cấp xuất gia đều được gọi là Sa-môn Thích tử; (5) biển không đầy không vơi — Niết-bàn giới không đầy không vơi dù nhiều vị nhập Vô dư Niết-bàn; (6) biển chỉ một vị mặn — Pháp và Luật chỉ một vị giải thoát; (7) biển nhiều châu báu — Pháp và Luật có Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành; (8) biển là chỗ ở của các loài lớn — Pháp và Luật là chỗ ở của bậc Dự lưu cho đến A-la-hán. Kinh kết bằng lời cảm hứng (udāna) của Thế Tôn về mưa: cái gì che kín thì bị mưa thấm ướt, cái gì mở ra thì không; vậy hãy mở ra cái bị che kín —.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: ngày trai giới tại lâu đài mẹ Migāra — Ud 5.5:1.1–1.3 — Thế Tôn trú Sāvatthī, Đông Viên, lâu đài mẹ Migāra; nhằm ngày Uposatha, Ngài ngồi giữa chúng Tỳ-kheo.
  • 2. Ba lần Tôn giả Ānanda thỉnh tụng Pātimokkha — Thế Tôn im lặng — Ud 5.5:2.1–4.4 — canh đầu, canh giữa, canh cuối; hai lần Thế Tôn im lặng, lần thứ ba Ngài đáp: hội chúng không thanh tịnh.
  • 3. Tôn giả Mahāmoggallāna phát hiện và trục xuất người bất tịnh — Ud 5.5:5.1–7.6 — dùng tâm biết tâm, thấy người ác giới ngồi giữa chúng; ba lần bảo đi, người ấy im lặng; nắm tay dắt ra, cài then; Thế Tôn khen là việc hy hữu.
  • 4. Thế Tôn tuyên bố không còn tụng Pātimokkha — Ud 5.5:8.1–8.4 — từ nay chư Tỳ-kheo tự làm lễ Uposatha và tụng giới bổn; không có trường hợp Như Lai tụng giới giữa hội chúng không thanh tịnh.
  • 5. Tám pháp kỳ diệu chưa từng có của biển lớn — Ud 5.5:9.1–17.4 — (1) xuôi dần không vực thẳm đột ngột; (2) đứng yên không vượt bờ; (3) không dung chứa xác chết; (4) các sông lớn bỏ tên họ cũ; (5) không đầy không vơi; (6) một vị mặn; (7) nhiều châu báu; (8) chỗ ở của các loài lớn.
  • 6. Tám pháp kỳ diệu chưa từng có trong Pháp và Luật này — Ud 5.5:18.1–26.5 — đối chiếu từng pháp một: học tập tuần tự; không vượt học giới dù mất mạng; trục xuất người ác giới; bốn giai cấp thành Sa-môn Thích tử; Niết-bàn giới không đầy không vơi; một vị giải thoát; các châu báu là 37 phẩm trợ đạo (Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành); chỗ ở của bốn đôi tám bậc từ Dự lưu đến A-la-hán.
  • 7. Lời cảm hứng (udāna) kết thúc: mưa và cái che kín — Ud 5.5:27.1–28.4 — Thế Tôn nói lên bài kệ: cái được che kín thì mưa thấm ướt, cái mở ra thì không; vậy hãy mở ra cái bị che kín.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: Kinh Phật Tự Thuyết chưa có bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu mà chúng tôi tiếp cận được. Vì vậy cả 8 đoạn tiếng Việt dưới đây là do chúng tôi dịch sát nghĩa từ Pālikhông phải bản dịch của Hoà thượng. Xin quý anh chị đọc kèm phần Pāli và tiếng Anh, và chỉ giúp chúng tôi chỗ nào dịch chưa sát.
Ud 5.5:4.4
“Aparisuddhā, ānanda, parisā”ti.
“Này Ānanda, hội chúng không thanh tịnh.”
“Ānanda, the assembly is not pure.”
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:7.5–7.6
“Acchariyaṁ, moggallāna, abbhutaṁ, moggallāna. Yāva bāhāgahaṇāpi nāma so moghapuriso āgamessatī”ti.
“Thật vi diệu thay, này Moggallāna! Thật hy hữu thay, này Moggallāna! Kẻ ngu si ấy đợi cho đến khi bị nắm tay (mới chịu đi ra).”
“It’s incredible, Moggallāna, it’s amazing, how that futile man waited to be taken by the arm!”
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:8.2–8.4
“Na dānāhaṁ, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ karissāmi, pātimokkhaṁ uddisissāmi. Tumheva dāni, bhikkhave, ito paraṁ uposathaṁ kareyyātha, pātimokkhaṁ uddiseyyātha. Aṭṭhānametaṁ, bhikkhave, anavakāso yaṁ tathāgato aparisuddhāya parisāya uposathaṁ kareyya, pātimokkhaṁ uddiseyya.
“Này các Tỳ-kheo, từ nay trở đi Ta sẽ không làm lễ Uposatha, không tụng đọc giới bổn Pātimokkha nữa. Từ nay chính các ông hãy làm lễ Uposatha, hãy tụng đọc giới bổn Pātimokkha. Này các Tỳ-kheo, không có trường hợp này, không có cơ hội này, là Như Lai làm lễ Uposatha, tụng đọc giới bổn giữa một hội chúng không thanh tịnh.”
“From this day forth, monks, I will not perform the sabbath or recite the monastic code. Now you should perform the sabbath and recite the monastic code. It’s impossible, monks, it can’t happen that a Realized One could recite the monastic code in an impure assembly.
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:9.1–9.2
Aṭṭhime, bhikkhave, mahāsamudde acchariyā abbhutā dhammā, ye disvā disvā asurā mahāsamudde abhiramanti. Katame aṭṭha?
“Này các Tỳ-kheo, biển lớn có tám pháp vi diệu chưa từng có này; do thấy chúng, các A-tu-la thích thú nơi biển lớn. Thế nào là tám?”
Seeing these eight incredible and amazing things the titans love the ocean. What eight?
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:19.1–19.2
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo anupubbaninno anupubbapoṇo anupubbapabbhāro, na āyatakeneva papāto; evamevaṁ kho, bhikkhave, imasmiṁ dhammavinaye anupubbasikkhā anupubbakiriyā anupubbapaṭipadā, na āyatakeneva aññāpaṭivedho.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, biển lớn xuôi dần, nghiêng dần, hướng dần xuống sâu, không có vực thẳm đột ngột; cũng vậy, trong Pháp và Luật này có học tập tuần tự, hành trì tuần tự, đạo lộ tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí một cách đột ngột.”
The ocean gradually slants, slopes, and inclines, with no abrupt precipice. In the same way in this teaching and training the penetration to enlightenment comes from gradual training, progress, and practice, not abruptly.
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:22.2
evamevaṁ kho, bhikkhave, cattāro vaṇṇā—khattiyā, brāhmaṇā, vessā, suddā te tathāgatappavedite dhammavinaye agārasmā anagāriyaṁ pabbajitvā jahanti purimāni nāmagottāni, ‘samaṇā sakyaputtiyā’tveva saṅkhaṁ gacchanti.
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bốn giai cấp — Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà — sau khi từ bỏ gia đình, sống không gia đình trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, họ từ bỏ tên và họ cũ, và chỉ được gọi là ‘Sa-môn Thích tử’.”
In the same way, when they go forth from the lay life to homelessness, all four classes—aristocrats, brahmins, peasants, and menials—lose their former names and clans and are simply reckoned as ‘ascetics who follow the Sakyan’.
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:24.1–24.2
Seyyathāpi, bhikkhave, mahāsamuddo ekaraso loṇaraso; evamevaṁ kho, bhikkhave, ayaṁ dhammavinayo ekaraso vimuttiraso.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, biển lớn chỉ có một vị là vị mặn; cũng vậy, Pháp và Luật này chỉ có một vị là vị giải thoát.”
The ocean has just one taste, the taste of salt. In the same way, this teaching and training has one taste, the taste of freedom.
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Ud 5.5:28.1–28.4 (bài kệ cảm hứng kết thúc)
“Channamativassati, vivaṭaṁ nātivassati; Tasmā channaṁ vivaretha, evaṁ taṁ nātivassatī”ti.
“Cái gì được che đậy, cái ấy bị mưa thấm ướt; cái gì được mở ra, cái ấy không bị mưa thấm. Vậy hãy mở ra cái được che đậy, như vậy nó sẽ không bị mưa thấm ướt.”
“The rain saturates things that are covered up; it doesn’t saturate things that are open. Therefore you should open up a covered thing, so the rain will not saturate it.”
Lưu ý: câu tiếng Việt này do chúng tôi dịch từ Pāli, không phải bản dịch của Hoà thượng Thích Minh Châu.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
uposathangày trai giới; ngày bố-tát, ngày chúng Tăng hội họp tụng giới bổnTên bài kinh: Uposathasutta
pātimokkhagiới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa, bản giới luật được tụng trong lễ Uposatha
acchariya abbhuta dhammapháp vi diệu, chưa từng có (kỳ diệu và hy hữu)
mahāsamuddabiển lớn, đại dương
dhammavinayaPháp và Luật — cách Đức Phật gọi giáo pháp của Ngài
anupubbasikkhā / anupubbakiriyā / anupubbapaṭipadāhọc tập tuần tự / hành trì tuần tự / đạo lộ tuần tự
aññāpaṭivedhasự thể nhập chánh trí (chứng ngộ cứu cánh trí)
sikkhāpadahọc giới, điều học
kuṇapatử thi, xác chết
ukkhipatitrục xuất, cử tội (đuổi ra khỏi chúng)
samaṇā sakyaputtiyāSa-môn Thích tử — người xuất gia con của dòng họ Thích-ca
anupādisesā nibbānadhātuNiết-bàn giới không còn dư y (Vô dư y Niết-bàn)
ekaraso vimuttirasomột vị, là vị giải thoát
ratanachâu báu — ở đây chỉ 37 phẩm trợ đạo
cattāro satipaṭṭhānā / sammappadhānā / iddhipādāBốn niệm xứ / Bốn chánh cần / Bốn như ý túc
pañcindriyāni, pañca balāni, satta bojjhaṅgā, ariyo aṭṭhaṅgiko maggoNăm căn, Năm lực, Bảy giác chi, Thánh đạo tám ngành
sotāpanna, sakadāgāmī, anāgāmī, arahāDự lưu, Nhất lai, Bất lai, A-la-hán
udānalời cảm hứng ngữ Phật tự thuyết, thường là kệ, nói ra không do ai thỉnh cầu
moghapurisakẻ ngu si, người rỗng không (lời Phật quở)

Chỗ mở đầu đáng chú ý. Ngài im lặng suốt ba canh. Ngài Mục-Kiền-Liên dò tâm cả hội chúng, tìm ra người ấy, và phải nắm tay lôi ra ngoài. Sau đó Ngài nói: “Ta sẽ không còn tụng giới bổn nữa” — từ nay chúng Tăng tự tụng. Một người làm đổi cả một nếp sinh hoạt.

Tám điều kỳ diệu — đọc theo cặp mới thấy hay. Biển xuôi dần, không dốc đứng — trong Pháp cũng vậy, không có sự thể nhập chánh trí đột ngột, phải tuần tự. Biển không vượt bờ — người tu không vượt qua học giới, dù có phải mất mạng.

Điều thứ ba là chỗ nghiêm khắc nhất. Biển không dung chứa xác chết — sóng đánh dạt ngay vào bờ. Cũng vậy, chúng Tăng không sống chung với người phá giới, mà tẩn xuất ngay. Đây chính là điều vừa xảy ra ở đầu bài kinh — ví dụ và sự việc khớp nhau.

Điều thứ tư — chỗ đẹp nhất. Mọi con sông lớn đổ vào biển thì bỏ tên cũ, chỉ còn gọi là biển. Cũng vậy, bốn giai cấp xuất gia thì bỏ tên dòng họ, chỉ còn gọi là Sa-môn Thích tử. Nối thẳng với Kinh Khởi Thế Nhân Bổn.

Điều thứ tám: “biển chỉ có một vị: vị mặn”. Pháp và Luật cũng chỉ có một vị — vị giải thoát. Đây là câu được trích nhiều nhất của bài kinh.

Chỗ chúng tôi phải đính chính. Bản tra cứu đầu, ở phần tóm tắt, có thêm câu giải nghĩa bài kệ là “hãy phát lộ lỗi lầm, đừng che giấu”. Lượt soi độc lập chỉ ra: câu ấy là của Chú giải, không có trong kinh văn — bài kệ chỉ nói về mưa và cái che kín. Chúng tôi đã bỏ, và ghi lại đây thay vì sửa thầm.

  • “Đức Phật im lặng vì giận.” Kinh không nói vậy. Ngài chỉ không tụng giới bổn giữa hội chúng chưa thanh tịnh.
  • “Tẩn xuất là trừng phạt.” Ví dụ là biển đánh dạt xác chết — một việc tự nhiên của biển, không phải hình phạt.
  • “Trong Pháp có thể chứng đột ngột.” Điều thứ nhất nói rõ: xuôi dần, không dốc đứng.
  • Ngành Oanh. Điều thứ tám: biển chỉ có một vị mặn. Cho các em nếm thử nước muối.
  • Ngành Thiếu. Điều thứ tư: sông vào biển thì mất tên. Hỏi: vào đoàn rồi, mình bỏ lại cái gì?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Điều thứ nhất: xuôi dần, không dốc đứng. Bàn về việc nóng vội trong tu tập và trong dạy dỗ.
  • Vì sao Đức Phật im lặng suốt ba canh?
  • Sông vào biển thì mất tên — điều đó nói gì về đoàn thể?
  • Vì sao trong Pháp không có chứng ngộ đột ngột?
  • Một vị: vị giải thoát — em hiểu thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.