G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Bậc Kiên Bài 6 · Chánh Niệm
Bài 6 · Bậc Kiên

Chánh Niệm

Hai bài, hai cách hiểu — và chúng không khớp nhau

Trang NhàBậc KiênBài 6 — Chánh Niệm
Bài đáng chú ý nhất của khoá — vì hai tác giả không đồng ý với nhau
  • Bản ViệtChánh Niệm, Thầy Thích Nhất Hạnh (trích Quyền Lực Đích Thực): chánh niệm là khả năng có mặt một trăm phần trăm, là năng lượng ôm ấp và chuyển hoá khổ đau.
  • Bản AnhMindfulness, Thanissaro Bhikkhu: chánh niệm là khả năng giữ điều đã biết trong tâm — người gác cổng và cây roi thúc — còn cái “thấy sao biết vậy, để yên không can thiệp” là một tâm sở khác: xả.

Hai bên không đồng ý, và trang nhà sẽ không làm cho êm đi. Chẳng được gì khi giả vờ rằng hai vị thầy nói cùng một điều trong khi thật ra không phải. Cái mà người Huynh Trưởng nhận được ở đây quý hơn một định nghĩa gọn gàng: anh chị sẽ thấy hai vị thầy có tu chứng đọc cùng một chữ theo hai cách, và anh chị buộc phải suy nghĩ. Hãy đọc cả hai, rồi đọc phần đối chiếu ở dưới.

Chánh Niệm

Thầy Thích Nhất Hạnh

Chánh Niệm là nền tảng cho những hành động phản ảnh quyền lực đích thực. Chánh niệm là sự đầu tư căn bản, là chìa khóa giúp ta nhìn vào đời sống nghề nghiệp.

Chánh niệm là năng lượng của sự tập trung tâm ý (định lực), là khả năng có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta, là phép lạ giúp ta thực sự sống trọn vẹn từng giây phút và cũng là yếu tố căn bản để chữa lành, chuyển hóa và tạo an hòa trong gia đình, nơi làm việc và trong xã hội.

Hoa trái của sự tu tập chánh niệm là nhận biết rằng an lạc có sẵn trong ta và chung quanh ta, ngay bây giờ và ở đây.

Chánh niệm là một trong năm nguồn năng lượng tâm linh, đồng thời cũng là nền tảng cho những hành động phản ảnh quyền lực đích thực.

Nếu không biết tạo nên một môi trường chánh niệm trong gia đình hay ở nơi làm việc, ta sẽ chỉ đầu độc thêm cho cuộc sống của mình và gia đình mình mà thôi. Nhiều nhà doanh nghiệp đã nhận ra sự thật đó. Không có chánh niệm, ta khó cảm thấy thỏa mãn hoàn toàn với quyền lực kinh tế hay chính trị.

Chánh niệm giúp ta trở về tự thân và nhìn sâu vào hoàn cảnh của mình. Chúng ta làm việc, nhưng chúng ta cũng đem tới chỗ làm những khó khăn, những niềm đau nỗi khổ riêng tư. Chánh niệm giúp ta ôm ấp và hiểu rõ đau khổ. Chánh niệm là căn bản chuyển hóa và chữa trị.

Vậy thì làm sao để có chánh niệm? Đây là một thực tập rất đơn giản nhưng cũng đầy thử thách. Thực tập chánh niệm đòi hỏi khi làm bất cứ việc gì cũng làm hết lòng, đầu tư một trăm phần trăm tâm ý vào cả những việc đơn giản nhất như nhặt một cây bút, mở một cuốn sách hay thắp một nén hương. Khi còn là một chú tiểu, tôi phải thắp hương trong chính điện nhiều lần trong ngày. Tôi đã được dạy là phải cầm cây hương lên bằng hai tay, tay trái đặt lên tay phải. Cây hương rất nhẹ, tại sao lại phải dùng cả hai tay? Lý do là tôi phải chú tâm một trăm phần trăm vào sự việc đơn giản là cầm nén hương trong tay. Khi quẹt một cây diêm và châm cây hương vào ngọn lửa, tôi cũng phải để tâm một trăm phần trăm. Đó là thực tập chánh niệm.

Khi uống trà, hành động rót trà vào chén cũng là một hành động thiền tập nếu ta rót trà trong chánh niệm. Đừng nghĩ tới quá khứ. Đừng nghĩ tới tương lai. Đừng lo phải làm gì ngày mai. Hãy chỉ chú tâm vào việc rót trà. Hãy đầu tư một trăm phần trăm vào giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Ai cũng biết rót trà, ai cũng biết uống trà, nhưng mấy ai biết rót trà trong chánh niệm và uống trà trong chánh niệm? Lý do là vì chúng ta luôn có xu hướng quên lãng hiện tại, vì chúng ta bị tập khí lôi cuốn. Tập khí là một thói quen, năng lượng của nó rất mạnh mà chúng ta phải thực tập để chuyển hóa. Càng chế ngự được tập khí thì chúng ta càng có khả năng sống trọn vẹn mỗi ngày.

Trong công việc, ta có thể cảm thấy có trách nhiệm với những ai đó, hay chỉ với riêng mình. Ý thức trách nhiệm là tốt. Ta cũng muốn thành công trong công việc, nhưng vì thiếu chánh niệm cho nên ta để cho ước muốn thành công cuốn hút. Ước muốn ấy sẽ trở thành một tập khí, thúc đẩy ta, làm ta không còn khả năng uống trà trong giây phút hiện tại, ngay cả khi nước trà đã vào miệng mà ta cũng không ý thức. Ta đang uống những dự án, những lo âu, những khó khăn của mình.

Theo lời Bụt dạy, sự sống chỉ có mặt trong hiện tại, ngay bây giờ và ở đây. Bụt nói: “Quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến. Ta chỉ thực sự sống trong giây phút hiện tại.” Nếu đánh mất hiện tại thì sẽ đánh mất sự sống. Quá rõ ràng. Chánh niệm là một nguồn năng lượng và thực tập chánh niệm sẽ giúp ta trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với sự sống. Phép thực tập này đòi hỏi thời gian và sự nâng đỡ. Thiếu thời gian thực tập và không có môi trường thuận lợi thì khó mà thành công. Có khi đồng nghiệp của ta cũng muốn cùng ta thực tập nếu họ được truyền cảm hứng.

Bạn có thể có một ngôi nhà rất đẹp và một khu vườn đầy hoa. Bạn biết là trong vườn của mình có hoa, nhưng bạn lại không có thì giờ để thưởng thức. Bởi vì tâm trí bạn đang bị ám ảnh bởi những thắc mắc cần giải đáp, những vấn đề cần giải quyết. Bạn muốn bạn là “số một.” Thỉnh thoảng chắc bạn cũng đã thoáng giác ngộ rằng bạn có một vườn hoa rất đẹp và phải dành chút thì giờ để thưởng thức. Đó là do thiện chí. Rồi bạn ra vườn đi dạo, ngắm những nụ hoa đẹp, nhìn thảm cỏ xanh. Nhưng chỉ sau vài bước bạn đã bỏ cuộc, vì bạn đang có quá nhiều bận tâm về công việc. Như một nhà độc tài, mối bận tâm đó không cho bạn cơ hội tiếp xúc và thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống bây giờ và ở đây.

Khi còn là một chú tiểu mới mười sáu tuổi, Thầy tôi đã dạy tôi cách đóng cửa với sự chú tâm một trăm phần trăm. Một hôm Thầy sai tôi đi làm một việc. Tôi hăng hái, hấp tấp, đi nhanh ra và khép cửa vội vàng. Thầy kêu tôi lại: “Này con, con lại đây.” Tôi trở lại, đứng vòng tay chờ. Thầy tôi nói: “Con đi ra lại và khép cửa cho đàng hoàng coi.” Đó là bài học đầu tiên của tôi về thực tập chánh niệm. Khi đó tôi đi ra trong chánh niệm, ý thức từng bước đi, nắm lấy cánh cửa trong chánh niệm, và mở cửa trong chánh niệm. Kể từ đó Thầy tôi không còn phải dạy tôi cách đóng cửa lần thứ hai.

Khi nắm tay một em bé, ta hãy để tâm một trăm phần trăm vào bàn tay em. Khi ôm người thương trong vòng tay cũng thế. Hãy quên hết tất cả. Hãy thực sự có mặt, thực sự tỉnh thức trong khi nắm tay, trong khi ôm. Điều này trái ngược hẳn với cách sống và làm việc của ta trước đây. Chúng ta từng có thói quen làm nhiều việc cùng một lúc. Vừa trả lời e-mail vừa nói điện thoại. Trong khi đang họp về một dự án này, ta viết xuống những ghi chú cho một dự án khác. Kỹ thuật hiện đại hứa hẹn sẽ giúp ta làm được nhiều việc cùng một lúc. Bây giờ, chỉ với một máy nhỏ chúng ta có thể gửi e-mail, nghe nhạc, điện thoại, và chụp hình. Năng lượng bị phân tán như thế thì còn gì là năng lượng?

Thay vì luôn làm nhiều việc cùng một lúc, ta phải tập thói quen chỉ làm mỗi lần một việc. Chánh niệm cần phải được luyện tập. Ta rất thông minh và hiểu ngay như vậy, nhưng như thế không có nghĩa là ta có thể làm được ngay. Ta phải thực tập và tự rèn luyện mỗi ngày.

Trước hết, phải thực tập chánh niệm để thấy được bản thân, sau đó ta chú ý tới gia đình của mình vì gia đình là tổ ấm. Không thể chỉ quan tâm đến nghề nghiệp mà sao lãng gia đình được. Có thể gia đình ta đang có đau khổ, sợ hãi hay lo lắng. Chánh niệm giúp nhận diện niềm đau nỗi khổ và chuyển hóa chúng. Bạn có thể nói với chồng mình rằng: “Em biết rằng anh đang đau khổ. Em đang có mặt cho anh đây. Chúng ta hãy cùng nhau ôm ấp niềm đau nỗi khổ đó và chuyển hóa chúng.” Bạn cũng nói như vậy với vợ của bạn: “Anh biết rằng em đang đau khổ. Anh đang có mặt cho em đây. Chúng ta hãy cùng nhau ôm ấp niềm đau nỗi khổ đó và chuyển hóa chúng.” Chánh niệm là khả năng có mặt một trăm phần trăm. Khi thương, món quà quý nhất mà ta hiến tặng người ta thương là sự có mặt đích thực của ta. Ta không thể mua khả năng hiến tặng niềm vui và chuyển hóa khổ đau.

Sau đó chánh niệm sẽ giúp ta hiểu rõ tình hình tại nơi làm việc. Dù ở địa vị nào, một giám đốc có hàng trăm nhân viên hay một công nhân làm việc một mình, với chánh niệm, ta đều có thể quán chiếu và nhận biết ưu điểm hay khó khăn cũng như đau khổ trong công ty. Ta sẽ nhận diện được những niềm đau nỗi khổ, những lo sợ của đồng nghiệp hay nhân viên và nói: “Tôi đang có mặt cho anh, cho chị đây. Tôi biết rằng anh, chị đang đau khổ. Chúng ta sẽ cùng nhau ôm ấp và chuyển hóa niềm đau nỗi khổ đó. Chúng ta sẽ tìm mọi cách để giải quyết khổ đau của chúng ta.” Sự thực tập này chẳng khác gì thực tập cho bản thân hay cho gia đình mình. Năng lượng của chánh niệm và khả năng nhìn sâu sẽ giúp ta tìm ra tuệ giác để chuyển hóa tình trạng và chữa lành.

Chánh niệm là khả năng có mặt một trăm phần trăm. Năng lượng của chánh niệm giúp ta nhận biết những gì đang có mặt chung quanh ta. “Những gì” đó có thể là chính ta, có thể là người thương của ta. Nếu không có khả năng trở về với giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, thì không thể nào nhận diện được chính mình, nhận diện được hạnh phúc cũng như khổ đau của mình. Không có khả năng có mặt đích thực thì không thể nhìn rõ những người khác và sẽ khiến họ có cảm giác bị bỏ quên, bị hiểu lầm hay ghét bỏ. Rồi họ sẽ đau khổ và từ đó làm bạn đau khổ. Nếu không có chánh niệm thì không thể giúp mình hay giúp người, không thể thành công trong công việc. Nếu không có chánh niệm thì bất cứ quyền lực nào trong tay cũng chỉ là tạm bợ và không đem lại thỏa mãn rốt ráo.

Chánh niệm rất cụ thể. Khi chú ý tới hơi thở là ta đã có chánh niệm rồi. Thở vào, ta chú ý tới hơi thở vào từ đầu cho tới cuối và nhủ thầm “vào”. Thở ra, ta chú ý tới hơi thở ra từ đầu cho tới cuối và nhủ thầm “ra”. Với hành động đơn giản ấy, thân tâm ta hợp nhất và ta sẽ thực sự có mặt. Chánh niệm cũng có thể có mặt trong một bước chân. Những lúc bạn bước đi, hãy đầu tư một trăm phần trăm vào mỗi bước chân và nhớ kết hợp bước chân với hơi thở một cách tự nhiên. Để ý xem ta bước mấy bước trong mỗi hơi thở vào, mấy bước trong mỗi hơi thở ra. Để giúp thêm, ta có thể nói thầm “vào”, “ra” khi bước. Ví dụ như khi thở vào bước ba bước, thì nói thầm “vào, vào, vào”. Khi thở ra bước bốn bước thì nói thầm “ra, ra, ra, ra”. Nếu thực tập trong nhà thì có thể đi chậm lại, cứ mỗi hơi thở vào bước một bước, mỗi hơi thở ra bước một bước. Còn thực tập ở ngoài trời thì tùy theo hơi thở của bạn dài hay ngắn, trong mỗi hơi thở bạn có thể bước hai, ba, hay bốn bước. Không nên cố ép hay thay đổi nhịp thở vì làm như vậy bạn sẽ thấy mệt. Chỉ hoàn toàn chú tâm vào bước chân và hơi thở. Thực tập này rất đơn giản nhưng hiệu quả vô cùng. Nhờ bước chân chánh niệm, hơi thở chánh niệm mà ta có thể trở về với tự thân, thực sự có mặt và tỉnh thức.

Phải hiểu chánh niệm trên bình diện vật lý. Thực tập trở về với cơ thể, trước hết, ta phải chế tác chánh niệm bằng hơi thở ý thức và bước chân ý thức, rồi sau đó nhận diện rằng cơ thể ta đang có đây và ta dịu dàng ôm ấp lấy cơ thể mình bằng chánh niệm. “Cơ thể ta ơi, ta biết ngươi có đó và ta sẽ săn sóc cho ngươi.” Cơ thể ta trở thành đối tượng thương yêu của ta.

Nếu không biết cách chăm sóc, không biết cách buông thư cơ thể, không để cho cơ thể có cơ hội nghỉ ngơi tức là ta đã không thương yêu cơ thể mình. Ta biết rằng cơ thể ta có khả năng tự chữa lành vết thương. Khi đứt tay ta biết rằng chỉ cần làm sạch vết thương và cơ thể ta sẽ tự lo liệu. Ta có thể hoảng sợ nếu quên đi rằng cơ thể ta có khả năng tự điều trị. Chỉ cần có cơ hội nghỉ ngơi là cơ thể có thể tự chữa lành mà chẳng cần thuốc men gì nhiều.

Khi một con vật bị thương nặng, nó biết phải làm gì. Nó tìm một chỗ vắng, nằm thật yên, nghỉ ngơi hoàn toàn trong vài ngày, không ăn uống gì hết. Nó rất khôn ngoan. Chỉ khi nào vết thương lành hẳn nó mới ra săn mồi. Có lúc, ta cũng có tuệ giác đó, nhưng chúng ta đã đánh mất khả năng biết nghỉ ngơi. Mới bắt đầu cảm thấy khó chịu ta đã hoảng hốt chạy đến bác sĩ xin đủ mọi thứ thuốc, chỉ vì ta không biết rằng, để cho cơ thể nghỉ ngơi là phương pháp điều trị hay nhất.

Có nhiều người than phiền rằng họ không có thì giờ đi nghỉ hè. Số khác có thể sắp xếp được để đi nghỉ hè, tuy nhiên lại không biết cách nghỉ ngơi. Chương trình nghỉ hè đầy ắp và sau kỳ nghỉ họ lại càng mệt mỏi hơn.

Chúng ta phải học cách buông thư toàn thân. Trong tư thế nằm, ta chú ý và buông thư từng phần của cơ thể, bắt đầu từ trên đầu và đi dần xuống dưới lòng bàn chân. “Thở vào, tôi ý thức toàn thân tôi. Thở ra, tôi buông thư toàn thân tôi. Thở vào tôi ý thức hai mắt tôi. Thở ra tôi mỉm cười với hai mắt tôi.” Cứ tiếp tục như thế với từng phần của cơ thể. Thay vì tia X-quang, ta “soi” cơ thể ta bằng tia Chánh Niệm. Soi đến một phần nào hay bộ phận nào của cơ thể đang bị đau yếu thì ta dừng lại lâu hơn, sử dụng năng lượng của chánh niệm để ôm ấp và mỉm cười với phần cơ thể hay bộ phận đó, làm như thế cơ thể sẽ bình phục mau hơn. Ta tự thực tập như thế mỗi ngày hay với những người trong gia đình, khi đã quen thuộc rồi, ta có thể hướng dẫn một buổi thực tập thiền buông thư cho bạn bè hay cả gia đình. Ta cũng có thể khuyến khích những người khác trong gia đình hướng dẫn buông thư toàn thân như vậy cho mọi người. Trẻ em rất có khả năng hướng dẫn người khác trong phép thực tập này.

Khi đã có khả năng ôm ấp cơ thể và giải tỏa căng thẳng, giúp cơ thể phục hồi, ta có thể trở về với tự thân, với những cảm thọ và những tâm hành của ta (chi tiết của phép thực tập này được trình bày tại Phụ lục A). Mỗi chúng ta đều có kinh nghiệm về những cảm thọ dễ chịu hay cảm thọ khó chịu. Một trong những công năng của thực tập chánh niệm là chăm sóc cảm thọ khổ đau. Thường thường ta không muốn đối diện khổ đau bởi vì ta không biết cách chăm sóc khổ đau. Ta cũng thường nghĩ rằng nếu tâm đủ mạnh thì ta sẽ không còn cảm thấy đau khổ, rồi ta tìm cách che lấp khổ đau. Thay vì “thay chốt” và mời lên những hạt giống tích cực từ vùng tàng thức, ta lại trốn chạy những cảm thọ khó chịu bằng những hành động tiêu thụ thiếu chánh niệm. Ta bật ti vi lên, hoặc mở một cuốn sách, hay nhấc điện thoại, hay làm một việc gì đó để che lấp niềm đau nỗi khổ, sợ hãi, tuyệt vọng đang trấn ngự. Nhưng khi tiêu thụ những sản phẩm để tạm thời che lấp khổ đau thì ta cũng đồng thời đưa vào thân và tâm những yếu tố độc hại như tham dục, sợ hãi, lo lắng và làm cho tình thế càng thêm tồi tệ.

Cách hay nhất là ta phải trở về với tự thân. Hãy sử dụng năng lượng của chánh niệm để nhận diện và ôm ấp niềm đau nỗi khổ trong ta, như một bà mẹ ôm ấp đứa con mình. Chánh niệm là mẹ, đau khổ, buồn phiền, tuyệt vọng là con. Giữa mẹ và con không có tranh chấp. Năng lượng của chánh niệm sẽ nhận diện, ôm ấp và thoa dịu niềm đau. Khi nghe con khóc, người mẹ lập tức buông tất cả công việc xuống, chạy đến ôm em bé vào lòng. Mẹ có thể không biết lý do đã làm cho bé khóc, nhưng chỉ cần ẵm bé trong vòng tay với tất cả sự dịu dàng, thương yêu cũng đủ làm cho bé nín khóc. Cũng thế, ta có thể không biết rõ lý do đã làm cho ta đau khổ, buồn phiền, tuyệt vọng, nhưng nếu ta biết ôm ấp những khổ đau đó bằng năng lượng chánh niệm thì tức khắc ta cảm thấy tâm mình lắng yên, êm dịu lại vì năng lượng của chánh niệm đã hòa nhập vào năng lượng của khổ đau.

Hãy tưởng tượng một đóa hoa trong nắng sớm. Hoa chưa nở nhưng tia nắng đang ôm ấp hoa, năng lượng mặt trời đang thấm dần vào hoa. Mặt trời không chỉ chiếu quanh đóa hoa. Tia nắng mặt trời thấm vào hoa một cách tự nhiên và một giờ sau hoa sẽ bừng nở. Chánh niệm là mặt trời ôm ấp đóa hoa cảm thọ.

Nếu cứ để mặc, không chăm sóc nỗi sợ hãi, hờn giận, và tuyệt vọng thì những cảm xúc tiêu cực đó sẽ biến thành sức mạnh tàn phá. Nếu biết chế tác chánh niệm thì chánh niệm sẽ nhận diện và ôm ấp những cảm thọ khổ đau ấy. Thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm không những nuôi dưỡng, tưới mát thân tâm mà còn giúp nhận diện và ôm ấp khổ đau. Thay vì sử dụng năng lượng để đè nén khổ đau, ta hãy sử dụng năng lượng đó để bảo toàn cơ thể. Ôm ấp khổ đau sẽ nuôi lớn chúng ta.

Nếu được cùng người thương ngồi trong chánh niệm (ngồi thiền), đi trong chánh niệm (đi thiền) thì sức mạnh của chánh niệm càng tăng gấp bội nhờ sự đóng góp của năng lượng thực tập từ người thương. “Mời anh/mời em đến đây cùng ngồi thiền với tôi, thiền hành với tôi. Tôi cần có anh/có em bên cạnh.” Nghe vậy, người thương sẽ đến, sẽ cùng ngồi, cùng đi với ta. Phối hợp năng lượng, ta sẽ dư sức ôm ấp khổ đau.

Càng có đông bạn hữu thực tập chung, năng lượng càng thêm mạnh. Năng lượng tập thể giúp cho sự thực tập ôm ấp niềm đau nỗi khổ dễ dàng hơn nhiều. Cho nên trong một cộng đồng mà mọi người cùng thực tập với nhau thì càng vui, hiệu quả lớn gấp bội, và năng lượng ngày càng thêm thâm hậu. Được năng lượng tập thể ấy bao bọc, ta sẽ thấy khỏe khoắn thêm ra và hiệu quả chữa trị đến rất nhanh.

Năng lượng chánh niệm giúp ta ý thức những gì đang xảy ra. Thở vào và biết rằng đang thở vào, đó là chánh niệm về hơi thở. Uống trà và biết rằng đang uống trà, đó là chánh niệm khi uống trà. Khi đi và biết rằng đang đi, thưởng thức từng bước chân, đó là chánh niệm khi đi. Những thực tập ấy chế tác năng lượng chánh niệm, giúp cho ta thật sự tỉnh thức, thật sự có mặt để tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, để được nuôi dưỡng và chữa lành.

(trích Quyền Lực Đích Thực – Thích Nhất Hạnh)

Mindfulness

By Thanissaro Bhikkhu

When the Buddha lists the factors for awakening, he says that there are some that are appropriate when the mind is sluggish. Those factors are analysis of qualities, rapture, and persistence: the qualities that energize the mind. Then there are qualities appropriate when the mind is overly excited, overly energetic: calm, equanimity, and concentration. Those calm the mind down. You need both sets of qualities in the practice. It’s simply a matter of finding balance, and of having a sense of time and place.

There’s one quality, though, that’s appropriate everywhere, all the time. That’s mindfulness. So it’s especially important, as we practice, that we understand what mindfulness is.

Sometimes you hear that mindfulness is simply an open, accepting, awareness of things—just noting what’s happening and allowing it to happen, without interfering. But that’s actually equanimity.

The Buddha himself defines mindfulness as the ability to remember for a long time what’s been done and said. It’s the ability to keep things in mind.

And what do you keep in mind? To begin with, you keep in mind the need to develop the skillful factors of the path and to abandon the unskillful ones. This applies to all the factors. Once you know what’s right view, what’s wrong view, right resolve, wrong resolve, all the way down to right concentration and wrong concentration, you keep in mind your intention to develop the right side and to abandon the wrong.

The Buddha compares mindfulness to a gatekeeper for a frontier fortress. In a frontier fortress you have to be very wary because there are spies and other people from the outlying countries. They want to sneak in and do damage to your fortress. So you have to be very careful who comes in and who doesn’t. And mindfulness, the Buddha says, is like a wise gatekeeper who recognizes who should be let in and who should not be let in, and he lets in only those who should be let in. So you have to keep this distinction in mind: Which qualities in the mind are skillful and which ones are not? Which ones should be developed and which ones abandoned?

There’s another passage where the Buddha says that mindfulness is like a goad. Most of us have gotten away from animal husbandry and farming, and so we don’t even know what a goad is. It’s a long stick with a sharp point. You use it to poke your animals when they’re going the wrong direction, or if they’re standing still when they should be going. The implication here is that the ability to remember what’s skillful and what’s not, and to be able to give yourself a little push or a poke in the right direction: That’s what mindfulness does for you.

And sometimes it’s more than just a little poke. There’s another passage where the Buddha says that when you see that something unskillful has arisen in your mind, then you act as if your hair were on fire. You do everything you can, as quickly as you can, to put it out. You’re relentless and mindful in being focused on putting out the fire, and nothing else.

So all of these passages show that mindfulness is not just a broad, open, accepting, state of mind. It serves a particular purpose, and it can be narrowly focused: keeping in mind what you know about what’s skillful and what’s not, and reminding yourself that you really do want to focus on pursuing the skillful path and avoiding the unskillful one at all costs.

This is why mindfulness and discernment usually go together. In fact, in Thai they have a term, sati-pañña, mindfulness-discernment, which is their word for intelligence. It’s the intelligence of a really practical person, one who knows the distinction between what’s skillful and what’s not, and is wise enough to know that you have to keep that in mind so that you can act on it all the time.

In the Buddha’s portrayal of how all the different factors of the path work together, right mindfulness, right view—which is the discernment factor—and right effort all go together. You have right view about what’s right and what’s wrong, what’s skillful and what’s not. You keep that in mind, you keep in mind your desire to do the right thing, and you motivate yourself to act on that desire. That’s right mindfulness. As the Pali phrase describing right effort says, you generate the desire to prevent unskillful qualities that haven’t arisen from arising, and abandon them if they have arisen. At the same time, you generate the desire to give rise to skillful qualities and then, once they’re there, you encourage them, develop them.

So you’re not just sitting here watching things coming and going, arising and passing away, and saying, “Well, that’s that.” You realize that your mind is the factor that shapes your life and that its decisions will have a huge impact. You keep that in mind. And when the mind begins to wander off, you use the goad of mindfulness to bring it right back. Sometimes all you have to do is simply remind it and it’ll come back. Other times, it’s a bit more resistant. That’s when you give it a sharp poke.

This is where you can use other meditation techniques as well. But mindfulness helps there, too. It has to keep in mind all the various techniques that you’ve heard about, and that you’ve actually put into practice and found that they work. You’ve got to keep all that in mind.

Because we do have this tendency to forget. Sometimes the forgetting is just a simple dropping of what we were trying to remember, and other times it’s willful forgetfulness, when part of the mind has decided it’s not interested in the path at all. It wants to go off and get a little pleasure on the side: fantasizing about this beautiful person, that lovely sound, those nice flavors, whatever you’re fantasizing about. When you’re in that state of mind, you willfully forget the fact that you’re sitting here meditating or that you’re trying to follow a path of practice. That’s when mindfulness has to be especially sharp in reminding you.

So try to be very clear about what mindfulness does. We’re not here just to watch things arise and pass away, trying to be equanimous. There are times when equanimity is going to be needed, but not the type of equanimity that simply lets things take over, regardless of whether they’re good or bad. There are times when equanimity is skillful, and times when it’s not. You want to keep in mind the Buddha’s teachings, you want to keep in mind the Buddha’s example, you want to keep in mind whatever other teachings you’ve heard that are skillful, along with your own discoveries concerning your own mind about what’s skillful and what’s not, and what works and what doesn’t work.

This is why mindfulness is useful at all times, everywhere, regardless of whether the mind is sluggish or over-energized. You can’t let yourself forget these things. Otherwise, it’s like having a water buffalo when you have no goad, no control over the buffalo at all. If you’re trying to plow the field, the buffalo will just go anywhere it wants, and then stop whenever it wants. The field never gets plowed, and you never get done with your work.

So remember that little voice inside that remembers: that remembers to be heedful, that remembers to be on top of things, and remembers the importance of your actions. Your actions really do shape your life; they really do shape your meditation. The decisions you’re making from moment to moment to moment are important. Keep that point in mind and you’ll find that it really helps you keep on track, and keeps you at work. And if the work seems tiresome, remember that it’s not all just work. You can have elements of calm, concentration, and rapture, all the good parts of the path as well, as the carrot to nourish you. But the mindfulness is the stick. You need both the carrot and the stick in order to get your field plowed so that it will provide the food you need for your true well-being.

Thầy Thích Nhất Hạnh Thanissaro Bhikkhu
Chánh niệm LÀ… khả năng có mặt một trăm phần trăm với những gì đang xảy ra khả năng giữ trong tâm điều mình đã biết là thiện xảo và không thiện xảo
Nó quay về hướng nào? hiện tại — “quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến” điều đã học trước kia, đem áp dụng vào bây giờ — “remember what’s been done and said”
Hình ảnh của nó bà mẹ ôm đứa con đang khóc; tia nắng làm hoa bừng nở người gác cổng thành biên; cây roi thúc con trâu
Đối với một cảm thọ khổ đau nhận diện, ôm ấp, để nó được chuyển hoá — “giữa mẹ và con không có tranh chấp” nếu là bất thiện thì hành động “như tóc đang cháy” — dập cho tắt
Chỗ nghịch nhau rõ nhất Thanissaro nói thẳng rằng cái “thấy sao biết vậy, để yên không can thiệp” không phải chánh niệm mà là xả, và chánh niệm dạy theo lối ấy sẽ mất phận sự của nó. Lời phê ấy có trúng vào bài của bản Việt hay không — đó chính là câu hỏi để anh chị thảo luận.
Điều trang nhà kiểm được và không kiểm được

Kiểm được. Chữ Pāli sati quả có nghĩa “nhớ”: định nghĩa Niệm Căn trong kinh tả một người “nhớ và nhớ lại điều đã làm, đã nói từ lâu”; còn ví dụ thành trì — người gác cổng dụ cho niệm — nằm trong Tăng Chi Bộ, chương Bảy Pháp (số hiệu 7.63 hay 7.67 tuỳ bản). Vậy cách đọc của Thanissaro có chỗ dựa rõ trong văn bản.

Cũng đúng. Chính Kinh Niệm Xứ dạy “thở vào dài, vị ấy biết ‘tôi thở vào dài’” — biết điều đang xảy ra ngay khi nó xảy ra. Chỗ nhấn của Thầy Nhất Hạnh cũng có nền.

Điều trang nhà sẽ không làm là tuyên bố bên nào thắng. Hai vị thầy với mấy chục năm hành trì đọc một chữ theo hai cách; một trang nhà không phải là thẩm quyền phân xử việc ấy. Cái chúng tôi làm được là đưa cả hai ra, chỉ rõ mỗi bên đứng ở đâu trong kinh điển, và để anh chị đem câu hỏi ấy hỏi vị thầy của mình.

Một ghi chú thực tế cho người Huynh Trưởng. Để ý rằng hai vị không nói về cùng một khoảnh khắc tu tập. Thầy Nhất Hạnh phần lớn đang tả việc phải làm với một trái tim đang bị thương — của mình, của người bạn đời, của một em trong đoàn. Thanissaro phần lớn đang tả việc phải làm với một cái tâm đang chạy rong trên toạ cụ. Hiểu như vậy thì phần lớn chỗ căng thẳng dịu đi — tuy không hết, và phần còn lại thì đáng ngồi với nó.

Hai bài lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Kiên (BK06 CHÁNH NIỆMBK06 MINDFULNESS), giữ nguyên từng chữ, kể cả dòng xuất xứ “trích Quyền Lực Đích Thực – Thích Nhất Hạnh” ở cuối bản Việt. Đây là hai bài của hai tác giả, không phải bản dịch của nhau. Bảng đối chiếu, ô “kiểm được / không kiểm được” và ghi chú cuối trang là của trang nhà; các số hiệu kinh đã ghi kèm mức chắc chắn. Bảy giác chi mà bản Anh mở đầu được trình bày ở Tương Ưng Bộ. Có chỗ nào sai xin báo cho chúng tôi.