- Bản Việt — Ngũ Giới, HT Thích Thanh Từ: giảng từng giới một, kèm hậu quả khi phạm và những chỗ người ta hay thắc mắc.
- Bản Anh — The Five Precepts, Thanissaro Bhikkhu: công thức Pāli, bài kinh Năm Món Bố Thí Không Ai Chê Được (AN 8.39), và lập luận rằng giới là thuốc chữa cho một cái tâm bị thương.
Vì sao người Huynh Trưởng cần cả hai. Bản Việt trả lời cho em nào hỏi “phạm rồi thì sao?”. Bản Anh trả lời cho em nào hỏi “giữ chi cho mệt — mấy điều này có phải luật lệ trường Chủ Nhật không?”. Anh chị sẽ gặp cả hai loại câu hỏi ấy. Nên đọc cả hai bài.
Ngũ Giới
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Mở Đề
Nhân loại hiện đang sống trong hồi hộp lo âu, trong hãi hùng kinh sợ, cho đến cảnh máu sông biển lệ đều bởi mọi người không biết giữ “ngũ giới mà ra”. Ngày nào nhân loại thức tỉnh, biết áp dụng “ngũ giới vào đời sống thực tế, ngày ấy thế gian đau khổ này sẽ trở thành thiên đường hiện tại.
Chẳng những thế, ngũ giới còn công dụng làm cơ bản người đến chỗ giải thoát an lạc. Người đã phát tâm quy y Tam Bảo là đã bước chân len nấc thang giải thoát, nhưng nếu không giữ giới mà chỉ bước nấc thang đầu rồi dừng lại, không thể tiến đến giải thoát thật sự được. Vì thế, sau khi quy y mỗi người cần phát nguyện giữ giới để mạnh tiến trên đường giải thoát.
Định Nghĩa
Ngũ giới là năm điều răn cấm do đức Phật chế ra. Năm điều này y cứ trên tâm từ bi, trên phương diện dứt trừ tội lỗi mà thành lập. Đức Phật không bắt buộc chúng ta phải giữ, nhưng để cho tâm từ bi tăng trưởng, cho tội lỗi tiêu trừ, mỗi chúng ta phải phát nguyện giữ gìn. Bởi vì giáo lý của Phật là những phương thuốc cứu khổ chúng sinh, chúng sinh muốn thoát khổ phải y theo đó tu hành và tuân theo lời răn cấm của Ngài. Như ông lương y chế những phương thuốc hay trị lành mọi căn bệnh của bệnh nhân, nhưng trước khi uống thuốc, bệnh nhân phải triệt để theo lời ông dạy và phải vâng giữ những lời ông bảo phải kiêng. Bệnh nhân biết kiêng cữ đúng pháp thì thuốc mới hiệu nghiệm. Cũng thế, chúng sinh biết vâng giữ giới luật thì tu theo đạo Phật mới thật sự giải thoát.
Tất nhiên, giới luật Phật không bắt buộc chúng ta giữ hết. Tùy khả năng, hoàn cảnh, mỗi người giữ được bao nhiêu, tốt bấy nhiêu. Bởi vì giới là những cái cửa của ngôi nhà công đức, nếu chúng ta đóng được một cửa thì đỡ một phần giữ gìn trộm cướp, đóng hai cửa thì đỡ hai phần, đóng trọn vẹn thì chúng ta hoàn toàn an ổn, mặc tình vui chơi an nghỉ. Thế nên, “năm giới” rất cần thiết và hệ trọng đối với người đời.
Năm Giới
Năm giới là: Không giết hại, không trộm cướp, không tà dục, không nói dối và không uống rượu.
1. Không Giết Hại
Nghĩa là không được giết hại sinh mạng, từ loài người cho đến các loài vật. Bởi vì mạng sống có một giá trị tuyệt đối, đối với loài người cũng như với muôn vật. Cho nên giết sinh mạng kia để tô bồi sinh mạng này là điều không hợp lý đạo.
Chúng ta ai cũng coi sinh mạng mình là điều đáng tôn trọng tuyệt đối. Nếu có ai muốn mưu hại là mình chống trả triệt để, để bảo tồn sinh mạng. Mình đã biết quý trọng sinh mạng mình, tại sao lại ưng chà đạp trên sinh mạng người? Suy rộng ra các loài vật cũng biết quý trọng mạng chúng. Như khi một con bò hay một con heo sắp bị đập đầu, thọc quyết, ta thấy sự phản kháng của nó mãnh liệt, sự đau thương cùng cực, bằng những tiếng kêu gào, những cái giãy giụa thoát chết! Chiếu theo lẽ công bằng đều ta không muốn ai làm cho ta, thì ta đâu nỡ gieo cho kẻ khác hay loài khác. Vì lẽ để tôn trọng sinh mạng của mọi loài, để hợp lý công bình, đức Phật cấm giết hại người và các loài vật.
Lại nữa, lòng từ bi của đức Phật xem mọi loài như con, nên Ngài không đồng ý cho đệ tử Ngài sát hại sinh vật bất cứ trong trường hợp nào. Bởi vì đang tâm giết hại sinh mạng là lòng độc ác đã cực thịnh, tâm từ bi bị bóp chẹt. Nhẫn tâm vô cớ giết một con vật, tính bạo ác không kém giết hại một người. Ta hãy nghe: “Một quần chúng ung dung cắt xẻo thân hình một nạn nhân cô thế vốn tỏ ra một tính tàn khốc, đốn mạt. Nhưng đối với một triết học gia, sự tàn khốc rất đồng tình với lòng hiểm ác của kẻ đi săn hợp nhau lại hằng mấy chục người để được cái hứng thú nhìn đoàn chó săn của mình phanh thây một con vật khốn nạn” (Tâm lý quần chúng). Chính Khổng Tử đã bảo: “Văn kỳ thinh bất nhẫn thực kỳ nhục, kiến kỳ sinh bất nhẫn kiến kỳ tử”. Nghĩa là: Nghe tiếng kêu la của một con vật không nỡ ăn thịt nó, thấy nó sống không đành thấy nó chết. Như vậy, người có tâm từ bi hay lòng nhân đều không nỡ sát hại người hay vật.
Khi nghe tiếng kêu thống thiết của một người, một con vật thì ta biết họ đang oán hận tràn trề. Họ vì cô thế, vì yếu sức nên bị ta giết hại. Trong khi ấy, họ ôm mối căm hận, chờ gặp dịp báo thù. Cứ thế, mỗi ngày ta đều gieo căm hận cho người và vật, tích lũy lâu ngày khối oan gia ấy to hơn sức ta, chừng ấy ta sẽ bị nó sát phạt lại. Tổ Sư Diên Văn đã than:
Thiên bá niên lai uyển lý canh,
Oán thâm như hải hận nan bình;
Dục tri thế thượng đao binh kiếp?
Thã thính đồ môn bán dạ thinh!
Dịch:
Hằng ngày giữa bát canh ăn
Oán sâu bể thẳm hận bằng non cao;
Muốn thấy binh lửa thế nào?
Hãy nghe quan thịt tiếng gào đêm thâu!
Càng tạo nghiệp sát càng lao mình vào vòng đau khổ. Phật dạy: “Thường sinh tâm sát hại càng tăng trưởng nghiệp khổ, mãi xoay vần trong sinh tử, không có ngày ra khỏi” (Kinh Lăng Già). Để giải thoát nghiệp khổ, để đem thế giới lại cảnh thanh bình, đức Phật cấm Phật tử giết hại.
Chẳng những không giết hại, mà Phật còn dạy Phật tử phải cứu mạng phóng sinh nữa. Ai có lâm cảnh tù đày mà được phóng thích, mới thông cảm thấm thía cái cảnh của người hay vật được cứu mạng phóng sinh. Nỗi vui mừng của một người tử tội được ân xá, ngang với nỗi vui mừng của một con vật sắp bị cắt cổ, nhổ lông mà được phóng sinh. Như vậy, tại sao chúng ta không ban vui cho người, cho vật, mà cứ gieo khổ chuốc hờn? Nhân đã gieo thì quả nhất định phải gặt. Người Phật tử lúc nào cũng gieo nhân tốt để gặp quả tốt, cho nên không giết hại mà lại phóng sinh.
Vẫn biết, giết hại là tạo nhân khổ, phóng sinh là gieo nhân vui, nhưng người tại gia còn ăn mặn, còn làm công kia việc nọ thì khó tránh khỏi phạm giới. Ở đây không buộc chúng ta giữ triệt để như thế, chỉ cần giữ phần quan trọng là không giết người và các con vật lớn như: trâu, bò… còn những vật nhỏ như tôm, cá, tránh dần dần được bao nhiêu tốt bấy nhiêu.
Giữ được giới sát sinh, tâm ta sẽ an ổn được đôi phần, vì khỏi lo người thù oán về phương diện giết hại. Thế là chúng ta đã giải thoát một phần oan gia nghiệp báo. Suy rộng, trong xã hội này, nếu mỗi người đều không dám giết hại thì còn phải lo gì sự tang tóc bất ngờ, còn phải sợ gì mạng mình không bảo đảm. Nếu nhân loại đồng giữ giới không giết hại thì đó là một đảm bảo thực tế cho nền hòa bình thế giới vậy.
2. Không Trộm Cướp
Là không lấy tài sản của người, khi người không bằng lòng cho. Những thứ quý như: ngọc, ngà, vàng, bạc, ruộng vườn, nhà cửa… cho đến những vật hèn mọn như: trái ớt, cọng rau… thuộc quyền sở hữu của người, người không cho đều không được lấy, ỷ mạnh, bè đảng giựt ngang của người là ăn cướp. Dùng mưu mẹo rình rập lén lấy là ăn trộm. Ăn trộm nhiều hình thức: đo gian, đong thiếu, lừa bịp, dụ dỗ… kể không xiết. Nhưng có thể tóm lại một câu: bất cứ hình thức nào, do lòng tham gạt người lấy của đều là ăn trộm.
Chúng ta không muốn ai lấy của mình, tại sao lại chăm chăm muốn đoạt của người? Như thế trái với lẽ công bằng. Quyền sở hữu cá nhân của ta, ta biết tôn trọng thì ta nỡ nào chà đạp trên quyền sở hữu của người. Với tâm bình đẳng của đức Phật, Ngài không cam thấy đệ tử làm những việc trái lẽ và bất công, nên Ngài cấm không cho trộm cướp.
Một khi vô ý làm mất một vật hay một số tiền, chúng ta dàu dàu buồn khổ, huống nữa lấy trộm của người để người phải khóc than nguyền rủa sao đành? Ai cũng biết: “Tiền tài là huyết mạch con người”. Như vậy kẻ cố cướp đoạt của người tức là cố sát hại sinh mạng người vậy. Người làm trái lẽ công bình cố nhiên luật pháp không bao giờ dung họ. Giả sử hiện tại họ khôn khéo tránh khỏi pháp luật thì vị lai nghiệp khổ không bao giờ tha đâu. Phật dạy: Người tham luyến sắc tài không chịu rời bỏ, cũng như đứa bé luyến một chút mật dính trên lưỡi dao, thè lưỡi liếm, phải bị cái họa đứt lưỡi (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Chính thế vì tham tiền của đã lắm người tự gieo mình trong khám đường, dưới địa ngục. Đây ta hãy đọc bài kệ cảnh tỉnh của Ngài Thái Tông Hoàng Đế:
Tạc xích xuyên tường ý bất hưu,
Thiên ban bách kế khổ vinh cầu;
Kim sinh cầu đắc tha nhân vật,
Bất giác chung thiên thọ mã ngưu.
Dịch:
Khoét vách đào tường chí những đâu,
Ngàn mưu trăm kế luống tham cầu;
Của người dầu có đời này được,
Đời khác luôn luôn kiếp ngựa trâu.
Trộm cướp là một hiểm họa cho người, cho mình, nên Phật tử luôn luôn phải tránh. Tự mình không trộm cướp là đã giải thoát được ngục tù về tội trộm cướp. Nếu một ngày nào trong xã hội không ai có tâm gian tham trộm cướp thì nhà không đóng cửa, của khỏi giữ gìn, thật còn gì sung sướng hơn! Người ta khổ bởi không có của nhưng kẻ có của nhiều cũng khổ, vì lo sợ giữ gìn. Người không trộm cướp tức là đã âm thầm ban cho mọi người sự an ổn rồi. Hàng Nho tử còn có câu: “Nhân phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”. Huống chúng ta là Thích tử, lại đi trộm cướp hay sao?
3. Không Tà Dục
Là không phạm đến trinh tiết của người, ngoài vợ chồng chính thức. Người Phật tử tại gia được phép có đôi bạn, nhưng phải chính thức rõ ràng. Tất cả sự lang chạ thầm lén không hợp pháp đều phạm giới tà dục. Mỗi người ai cũng muốn gia đình đầm ấm. Con em mình thanh bạch, thì sao đành phá hại gia cang hay làm nhục nhã tông môn người.
Còn gì đau khổ hơn, sống chung một gia đình mà chồng, hoặc vợ có dạ riêng tư tà vạy! Hạnh phúc đâu còn khi chồng vợ không tin nhau? Vì bảo vệ hạnh phúc gia đình mình, danh giá cho chính mình và tông môn mình, người Phật tử không phạm đến hạnh phúc và danh giá của kẻ khác.
Những bọn Sở khanh bao giờ cũng bị xã hội khinh miệt. Họ đến đâu hay gần ai, người ta đều nhờm chán như con chuột ghẻ. Họ để tâm dòm ngó vợ con người ta, chính vợ con họ cũng lăm le vạch sang rào nhà kẻ khác rồi. Khi họ phá hoại hạnh phúc gia đình người, thì chính hạnh phúc gia đình họ đã tan vỡ trước. Phật dạy: “Người ôm lòng ác dục cũng như kẻ cầm đuốc đi ngược gió, quyết bị nạn cháy tay” (Kinh Tứ Thập Nhị Chương). Thật vậy, người có tâm xấu xa đắm mê sắc dục không sớm thì chầy quyết bị hại; nếu không tan nhà mất nước thì cũng gởi sinh mạng trên mũi súng ngọn gươm. Xưa nay biết bao gương đã chứng minh những kẻ mê sắc dục phải tan nhà mất mạng.
Người giữ giới tà dục thanh tịnh thì phẩm giá được nâng cao, gia đình đầm ấm, gần ai, người ta đều mến chuộng, tin yêu. Kẻ ấy tâm hồn hằng an tịnh, vì không bị sắc dục lôi cuốn xao động.
4. Không Nói Dối
Không nói những lời sai sự thật, khác với ý nghĩ. Thấy thế này nói ra thế khác làm sai lạc sự thật cốt lừa bịp người, hoặc ý nghĩ một đường nói ra một ngã cốt che đậy sự quấy rối của mình: hoặc vì tâm ác độc nói lời ly gián làm cho ân nghĩa chia lìa, gây cho đôi bên sinh oán thù hờn giận, dùng những lời văn bóng bẩy, những câu nói ngọt ngào để xui người làm quấy, để dụ dỗ người bước vào đường tà; cho đến dùng lời thô bỉ mạ nhục, trù rủa người, những hình thức đó đều thuộc về nói dối cả. Đạo Phật là đạo như thật, người tu theo đạo Phật phải tôn trọng sự thật, nên không được nói dối. Nói dối chẳng những làm sai lạc sự thật, mà còn làm mất lòng tin nhau, gây vô lượng đau khổ.
Lời nói là để phô bày tâm tư và để diễn tả lại những điều tai nghe, mắt thấy của mình cho người khác biết. Nếu lời nói không đúng sự thật thì còn ai dám tin. Mọi người đều không tin thì kẻ ấy có mặt trong xã hội này cũng coi bằng thừa. “Nhân vô tín bất lập” đó là lời dạy của Khổng Tử. Một người nói dối, mười người nói dối cho đến cả xã hội đều nói dối thì nhân loại phải thế nào? Tôi tin anh, tôi mới dám nói chuyện với anh. Tôi tin anh, tôi mới dám nhận lời hứa, lời mời của anh. Tôi tin anh, tôi mới chung vốn làm ăn với anh. Tôi tin anh, tôi mới đem việc kín gia đình ngoài xã hội nói với anh. Nếu tôi không tin anh thì tôi và anh không gần nhau được. Trong một gia đình, một xã hội mà không ai tin ai thì làm sao sống chung. Giả sử gắng gượng sống chung nhưng ôm ấp bao sự nghi ngờ dè dặt thì còn gì là hạnh phúc, là thân mật.
Lời nói tuy không phải là lưỡi kiếm, nhưng nó còn bén hơn lưỡi kiếm. Chỉ một câu nói thôi có thể rụng năm mươi cái đầu. Chỉ một câu nói thôi có thể tan nhà mất nước. Phật dạy: “Phù sĩ xử thế phủ tại khẩu trung, sở dĩ trảm thân do kỳ ác ngôn”. Nghĩa là: Phàm kẻ ở đời, lưỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ chém mình do lời nói ác”. Đã đành nói xuyên tạc, nói ly gián là để hại người, nhưng trước khi hại người nó đã hại mình.
Có một số người tưởng nói dối để lừa bịp, qua mặt người là khôn, là hơn người. Nghĩ thế là lầm to! Mỗi khi nói dối người, chính mình đã tỏ ra khiếp nhược. Bởi vì đối diện với người không đủ can đảm nói thẳng, nói thật, nên nói quanh co dối trá. Ai không thấy đứa bé khi làm hư hỏng điều gì, trước mặt cha mẹ, nó đổ thừa người này người nọ, hoặc kiếm lời nói dối để che đậy. Nếu không sợ đòn và mắng thì bao giờ nó nói dối? Như vậy, càng nói dối càng dìm mình xuống hố nhục nhã.
Lời nói rất hệ trọng, chúng ta phải cẩn thận đừng nói cẩu thả mà gieo họa cho người, cho mình. Phải “Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói” (Cách ngôn Pháp); hoặc quý trọng giữ gìn lời nói như vàng “Vàng sa xuống giếng khôn tìm, người sa lời nói như chim sổ lồng” (Ca dao Việt Nam).
Người không nói dối là biết tự trọng không để mất giá trị, lại không làm tổn hại người và mình. Mỗi cá nhân không nói dối thì chính họ được an ổn thanh cao. Toàn thể nhân loại đều không nói dối thì xã hội này an lạc hạnh phúc biết bao. Do tin nhau mới mến nhau, mà toàn nhân loại không nói dối thì còn ai không đáng yêu.
Nói dối là một tai nạn lớn lao cho mình và xã hội. Tuy nhiên, cũng có trường hợp nên nói dối, đó là khi nào vì lòng từ bi mà phải nói dối để cứu người hay vật. Nói dối phạm tội là do lòng tham, sân làm động cơ thúc đẩy; ngược lại, nếu lòng từ bi làm động cơ thúc đẩy nói dối là không phạm.
Tóm lại, người tu theo đạo Phật là cầu cho mình, cho người được an lạc, và đem tình thương ban cho nhân loại, nên Phật cấm nói dối, mà phải nói lời chân thật.
5. Không Uống Rượu
Tất cả thứ rượu có chất men làm say người đều không được uống. Chính mình không uống, cũng không được mời rủ người uống. Người tu theo đạo Phật cầu giác ngộ. Rượu là thứ làm cuồng mê người, phản bội với trí giác nên không được uống. Bằng chứng, khi bình thường ta đủ lý trí phán đoán lẽ phải quấy, tốt xấu; nhưng khi uống vô một cốc rượu thì cả người nóng rực, tâm mình xao xuyến mất bình tĩnh. Nên nói: “Rượu vào lời ra”.
Người tu quan niệm rượu độc còn hơn thuốc độc. Bởi vì một chén thuốc độc ta uống vào chết ngay, nhưng chỉ chết một thân này, còn uống rượu vào mất giống trí tuệ, phải chết đi sống lại vô số kiếp. Thật tế hơn, người uống rượu nhiều dễ bị say sưa thường nhiễm gió, trúng phong sinh nhiều bệnh nguy hiểm. Chẳng những rượu hại cho họ ở hiện tại mà thôi, lại còn lây đến con cháu. Làm tâm tính đần độn ở sau này nữa. Lại những khi quá chén dễ sinh cãi vã đánh đập làm rối loạn xóm làng, gây đau khổ cho bạn bè, quyến thuộc. Như câu chuyện ngụ ngôn này:
“Một hôm anh nông phu kia ra đồng cày ruộng, bỗng hiện sừng sững trước mặt một vị thần khổng lồ. Ông nói: “Ngươi đã đến số chết, ta đến đây giết ngươi”. Anh nông phu kinh hoàng lạy lục van xin tha mạng. Ông thần bảo: “Nếu muốn ta tha, ngươi phải làm một trong hai việc này: Trưa nay về nhà, ngươi giết chết cha ngươi hoặc uống hết lít rượu để trên bàn”. “Dạ vâng! Trưa nay con xin uống hết rượu”. Ông thần nhìn anh với vẻ lườm lườm chờ đợi, rồi biến mất. Trưa về, vì sắp đến ngày giỗ ông bà, cha anh mua lít rượu để trên bàn đợi mai đãi khách. Anh thấy vội vàng lại chụp lấy, ọc một hơi cạn cốc. Cha anh tức giận, đứa con sinh chứng lạ thường, xốc lại miệng chửi tay đánh túi bụi. Ma men đã thấm, anh không phân biệt phải trái, chụp được cây gậy, đập ông một cây chết tốt! Bà mẹ nóng lòng chạy đến nắm đầu la! Anh trở gậy đập một cây chết luôn! Hàng xóm hay được bắt anh giam. Mấy giờ sau anh tỉnh cơn say, anh hết sức hối hận…”
Người không uống rượu, tâm hồn điềm tĩnh, trí tuệ linh mẫn, gặp việc phán đoán kỹ càng, tu hành chứng đắc định, huệ.
Mặc dù Phật cấm uống rượu, nhưng có trường hợp Ngài cho, là khi nào bệnh nặng cần phải uống thuốc rượu mới lành bệnh thì được uống, nhưng phải thưa cho Tăng biết trước, sau mới uống. Để dễ tu hành và tránh tội lỗi, Phật tử quyết định không uống rượu.
Công Dụng Năm Giới
Con người có đủ khả năng tiến hóa, mà cũng đủ điều kiện thoái hóa. Người giữ năm giới thanh tịnh là biết cải tạo bản thân mình từ phàm tục đê hèn lên Hiền Thánh thanh cao. Trái lại, kẻ buông lung không giữ năm giới, là từ địa vị con người lần xuống hố ác thú. Vì tính sát hại, cướp giựt, dâm bôn, điêu ngoa, nóng nảy là thú tính, nếu để chúng tăng trưởng tự do trong người, thì người chỉ còn là hình thức con người, chứ tâm hồn đã trở thành lang, sói. Ngược lại, hạn chế được những thú tính ấy, mới là một con người trọn vẹn. Mỗi cá nhân tốt chung sống trong một gia đình thì gia đình trở thành tốt. Nhiều cá nhân tốt chung sống hòa hợp thành một xã hội thì xã hội tốt. Năm giới có công dụng cải tạo con người tốt nên nó là nền tảng xây dựng gia đình và xã hội tốt vậy.
Quyết Nghi
Có người nghĩ: loài ruồi, muỗi, rắn, rít, cọp, sói là thứ độc mang vi trùng, ngậm nọc độc giết người, nếu Phật cấm giết hại nó, một ngày kia chúng sinh sản khắp mặt đất thì con người phải tiêu diệt?
– Chúng ta phải biết chủ tâm của Phật là cấm giết hại “con người”. Nhưng trên mặt tâm lý muốn khỏi quả lớn – giết người – cần phải dứt trừ những nhân nhỏ - giết các con vật. Những đứa bé khi lên ba, lên năm ra sân gặp chuồn chuồn, bươm bướm chụp, đập, ngắt cánh, bóp đầu. Nếu cha mẹ nó thấy mà không rầy la, đến 12, 13 tuổi chúng sắm ná, giàn thun bắn chim, đến 20, 25 tuổi chúng đâm họng heo, đập đầu bò, vẫn không bị ngăn cấm; tay đã quen giết hại, nên khi giận ai chúng dám đập đầu, đâm họng như thường. Ngược lại, đứa bé bắt chuồn chuồn bị cha mẹ cấm, từ bé đến lớn không dám cắt cổ một con gà, thì khi giận người nó dám đâm chém chăng? Bởi luật pháp cấm quả mà không dứt nhân nên trong xã hội vẫn xảy ra những vụ giết nhau không ngớt. Do đó người Phật tử quyết định không được giết người. Để tránh quả to ấy, dứt lần những nhân gần là không giết các con vật lớn. Còn các con vật nhỏ chỉ tránh không nên giết vô cớ và ác tâm.
Hoặc có người nói: “Trong lúc trẻ tuổi còn phải bay nhảy với đời không thể giữ trọn năm giới, nên tôi chưa tu theo đạo Phật được?”
– Phật đâu bắt buộc tu theo Phật giữ hết năm giới, tùy sức mình hoàn cảnh mình, giữ được bao nhiêu cũng tốt, có giữ còn hơn không. Như vậy, đâu phải giữ đủ năm giới mới tu theo Phật được. Xét kỹ ra, trong đời tu ai tệ gì gắng giữ cũng được vài giới thì có ai mà không tu theo đạo Phật được.
Kết Luận
Tóm lại, giới luật Phật chế ra là để ngừa quấy, dứt lỗi, nếu người tu theo đạo Phật mà không giữ giới thì bất thành vấn đề tu. Kẻ trộm cướp, giết hại, lang chạ, điêu ngoa… còn không xứng là một người tầm thường thay, huống chi là kẻ học đạo từ bi, giác ngộ? Trong năm giới mà chúng ta giữ không được trọn vẹn cả năm, còn tự thấy hổ thẹn chưa đáng là một Phật tử thay, phương chi không giữ giới nào thì còn gì là đạo đức? Do đó, người Phật tử phải cố gắng giữ giới cho xứng đáng với danh nghĩa của mình, để đem hạnh phúc cho mình và chúng sanh.
Không riêng gì Phật tử mới giữ “năm giới”, mà toàn thể nhân loại đều phải giữ cả. Bởi vì đã tự nhận mình là con người thì phải hạn chế thú tính nâng cao phẩm giá người. Buông lung phạm “năm giới” là mở cửa cho bầy lợn lòng mặc tình ngao du phá phách; giữ năm giới là làm chuồng câu thúc chúng lại, nâng phẩm giá con người lên cao. Do đó những ai đã có tâm cải tạo con người, xây dựng xã hội, cần khuyên mọi người giữ “năm giới” là phương sách bậc nhất.
The Five Precepts (pañca-sila)
By Thanissaro Bhikkhu
These basic training rules are observed by all practicing lay Buddhists. The precepts are often recited after reciting the formula for taking refuge in the Buddha, Dhamma, and Sangha.
The Five Precepts
- Panatipata veramani sikkhapadam samadiyami
I undertake the precept to refrain from destroying living creatures. - Adinnadana veramani sikkhapadam samadiyami
I undertake the precept to refrain from taking that which is not given. - Kamesu micchacara veramani sikkhapadam samadiyami
I undertake the precept to refrain from sexual misconduct. - Musavada veramani sikkhapadam samadiyami
I undertake the precept to refrain from incorrect speech. - Suramerayamajja pamadatthana veramani sikkhapadam samadiyami
I undertake the precept to refrain from intoxicating drinks and drugs which lead to carelessness.
Five Faultless Gifts
"There are these five gifts, five great gifts — original, long-standing, traditional, ancient, unadulterated, unadulterated from the beginning — that are not open to suspicion, will never be open to suspicion, and are unfaulted by knowledgeable contemplatives & brahmans. Which five?
"There is the case where a disciple of the noble ones, abandoning the taking of life, abstains from taking life. In doing so, he gives freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings. In giving freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings, he gains a share in limitless freedom from danger, freedom from animosity, and freedom from oppression. This is the first gift, the first great gift — original, long-standing, traditional, ancient, unadulterated, unadulterated from the beginning — that is not open to suspicion, will never be open to suspicion, and is unfaulted by knowledgeable contemplatives & brahmans...
"Furthermore, abandoning taking what is not given (stealing), the disciple of the noble ones abstains from taking what is not given. In doing so, he gives freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings. In giving freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings, he gains a share in limitless freedom from danger, freedom from animosity, and freedom from oppression. This is the second gift...
"Furthermore, abandoning illicit sex, the disciple of the noble ones abstains from illicit sex. In doing so, he gives freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings. In giving freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings, he gains a share in limitless freedom from danger, freedom from animosity, and freedom from oppression. This is the third gift...
"Furthermore, abandoning lying, the disciple of the noble ones abstains from lying. In doing so, he gives freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings. In giving freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings, he gains a share in limitless freedom from danger, freedom from animosity, and freedom from oppression. This is the fourth gift...
"Furthermore, abandoning the use of intoxicants, the disciple of the noble ones abstains from taking intoxicants. In doing so, he gives freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings. In giving freedom from danger, freedom from animosity, freedom from oppression to limitless numbers of beings, he gains a share in limitless freedom from danger, freedom from animosity, and freedom from oppression. This is the fifth gift, the fifth great gift — original, long-standing, traditional, ancient, unadulterated, unadulterated from the beginning — that is not open to suspicion, will never be open to suspicion, and is unfaulted by knowledgeable contemplatives & brahmans."
— AN 8.39
The Healing Power of the Precepts
The Buddha was like a doctor, treating the spiritual ills of the human race. The path of practice he taught was like a course of therapy for suffering hearts and minds. This way of understanding the Buddha and his teachings dates back to the earliest texts, and yet is also very current. Buddhist meditation practice is often advertised as a form of healing, and quite a few psychotherapists now recommend that their patients try meditation as part of their treatment.
After several years of teaching and practicing meditation as therapy, however, many of us have found that meditation on its own is not enough. In my own experience, I have found that Western meditators tend to be afflicted more with a certain grimness and lack of self-esteem than any Asians I have ever taught. Their psyches are so wounded by modern civilization that they lack the resilience and persistence needed before concentration and insight practices can be genuinely therapeutic. Other teachers have noted this problem as well and, as a result, many of them have decided that the Buddhist path is insufficient for our particular needs. To make up for this insufficiency they have experimented with ways of supplementing meditation practice, combining it with such things as myth, poetry, psychotherapy, social activism, sweat lodges, mourning rituals, and even drumming. The problem, though, may not be that there is anything lacking in the Buddhist path, but that we simply haven't been following the Buddha's full course of therapy.
The Buddha's path consisted not only of mindfulness, concentration, and insight practices, but also of virtue, beginning with the five precepts. In fact, the precepts constitute the first step in the path. There is a tendency in the West to dismiss the five precepts as Sunday-school rules bound to old cultural norms that no longer apply to our modern society, but this misses the role that the Buddha intended for them: They are part of a course of therapy for wounded minds. In particular, they are aimed at curing two ailments that underlie low self-esteem: regret and denial.
When our actions don't measure up to certain standards of behavior, we either (1) regret the actions or (2) engage in one of two kinds of denial, either (a) denying that our actions did in fact happen or (b) denying that the standards of measurement are really valid. These reactions are like wounds in the mind. Regret is an open wound, tender to the touch, while denial is like hardened, twisted scar tissue around a tender spot. When the mind is wounded in these ways, it can't settle down comfortably in the present, for it finds itself resting on raw, exposed flesh or calcified knots. Even when it's forced to stay in the present, it's there only in a tensed, contorted and partial way, and so the insights it gains tend to be contorted and partial as well. Only if the mind is free of wounds and scars can it be expected to settle down comfortably and freely in the present, and to give rise to undistorted discernment.
This is where the five precepts come in: They are designed to heal these wounds and scars. Healthy self-esteem comes from living up to a set of standards that are practical, clear-cut, humane, and worthy of respect; the five precepts are formulated in such a way that they provide just such a set of standards.
Practical: The standards set by the precepts are simple — no intentional killing, stealing, having illicit sex, lying, or taking intoxicants. It's entirely possible to live in line with these standards. Not always easy or convenient, but always possible. I have seen efforts to translate the precepts into standards that sound more lofty or noble — taking the second precept, for example, to mean no abuse of the planet's resources — but even the people who reformulate the precepts in this way admit that it is impossible to live up to them. Anyone who has dealt with psychologically damaged people knows that very often the damage comes from having been presented with impossible standards to live by. If you can give people standards that take a little effort and mindfulness, but are possible to meet, their self-esteem soars dramatically as they discover that they are actually capable of meeting those standards. They can then face more demanding tasks with confidence.
Clear-cut: The precepts are formulated with no ifs, ands, or buts. This means that they give very clear guidance, with no room for waffling or less-than-honest rationalizations. An action either fits in with the precepts or it doesn't. Again, standards of this sort are very healthy to live by. Anyone who has raised children has found that, although they may complain about hard and fast rules, they actually feel more secure with them than with rules that are vague and always open to negotiation. Clear-cut rules don't allow for unspoken agendas to come sneaking in the back door of the mind. If, for example, the precept against killing allowed you to kill living beings when their presence is inconvenient, that would place your convenience on a higher level than your compassion for life. Convenience would become your unspoken standard — and as we all know, unspoken standards provide huge tracts of fertile ground for hypocrisy and denial to grow. If, however, you stick by the standards of the precepts, then as the Buddha says, you are providing unlimited safety for the lives of all. There are no conditions under which you would take the lives of any living beings, no matter how inconvenient they might be. In terms of the other precepts, you are providing unlimited safety for their possessions and sexuality, and unlimited truthfulness and mindfulness in your communication with them. When you find that you can trust yourself in matters like these, you gain an undeniably healthy sense of self-respect.
Humane: The precepts are humane both to the person who observes them and to the people affected by his or her actions. If you observe them, you are aligning yourself with the doctrine of karma, which teaches that the most important powers shaping your experience of the world are the intentional thoughts, words, and deeds you choose in the present moment. This means that you are not insignificant. Every time you take a choice — at home, at work, at play — you are exercising your power in the on-going fashioning of the world. At the same time, this principle allows you to measure yourself in terms that are entirely under your control: your intentional actions in the present moment. In other words, they don't force you to measure yourself in terms of your looks, strength, brains, financial prowess, or any other criteria that depend less on your present karma than they do on karma from the past. Also, they don't play on feelings of guilt or force you to bemoan your past lapses. Instead, they focus your attention on the ever-present possibility of living up to your standards in the here and now. If you are living with people who observe the precepts, you find that your dealings with them are not a cause for mistrust or fear. They regard your desire for happiness as akin to theirs. Their worth as individuals does not depend on situations in which there have to be winners and losers. When they talk about developing loving-kindness and mindfulness in their meditation, you see it reflected in their actions. In this way the precepts foster not only healthy individuals, but also a healthy society — a society in which the self-respect and mutual respect are not at odds.
Worthy of respect: When you adopt a set of standards, it is important to know whose standards they are and to see where those standards come from, for in effect you are joining their group, looking for their approval, and accepting their criteria for right and wrong. In this case, you couldn't ask for a better group to join: the Buddha and his noble disciples. The five precepts are called "standards appealing to the noble ones." From what the texts tell us of the noble ones, they are not people who accept standards simply on the basis of popularity. They have put their lives on the line to see what leads to true happiness, and have seen for themselves, for example, that all lying is pathological, and that any sex outside of a stable, committed relationship is unsafe at any speed. Other people may not respect you for living by the five precepts, but noble ones do, and their respect is worth more than that of anyone else in the world.
Now, many people find it cold comfort to join such an abstract group, especially when they have not yet met any noble ones in person. It's hard to be good-hearted and generous when the society immediately around you openly laughs at those qualities and values such things as sexual prowess or predatory business skills instead. This is where Buddhist communities can come in. It would be very useful if Buddhist groups would openly part ways with the prevailing amoral tenor of our culture and let it be known in a kindly way that they value good-heartedness and restraint among their members. In doing so, they would provide a healthy environment for the full-scale adoption of the Buddha's course of therapy: the practice of concentration and discernment in a life of virtuous action. Where we have such environments, we find that meditation needs no myth or make-believe to support it, because it is based on the reality of a well-lived life. You can look at the standards by which you live, and then breathe in and out comfortably — not as a flower or a mountain, but as a full-fledged, responsible human being. For that's what you are.
| HT Thích Thanh Từ | Thanissaro Bhikkhu | |
|---|---|---|
| Giới là gì | Cái cửa của ngôi nhà công đức — đóng được cửa nào thì bớt lo cửa ấy | Điều học tự mình nhận lấy — “I undertake…” |
| Lập luận chính | Giữ giới là che chở cho người và cho chính mình khỏi quả báo | Giữ giới chữa lành cái tâm khỏi hối tiếc và chối bỏ, nhờ đó thiền định mới có tác dụng |
| Có được du di? | Có, tuỳ sức: “giữ được bao nhiêu cũng tốt, có giữ còn hơn không”; nói dối vì lòng từ bi thì không phạm | Không: “no ifs, ands, or buts” — chỗ mơ hồ chính là chỗ để sự giả dối len vào |
| Món quà cho người | “Âm thầm ban cho mọi người sự an ổn” | “Unlimited safety for the lives of all” — năm món bố thí không ai chê được, AN 8.39 |
Hai bên có mâu thuẫn không? Có một điểm hai bên kéo ngược nhau thật: giới để lại bao nhiêu chỗ du di. Nên giữ cả hai trong tay. Cách nhìn của bản Việt là cách đón một người mới bắt đầu mà không đè bẹp họ; cách nhìn của bản Anh là cách giữ cho một lời hứa đã phát ra không bị mòn dần. Người Huynh Trưởng cần cái thứ nhất khi em mới tập, và cần cái thứ hai khi em bắt đầu kiếm cớ.
Câu hỏi thảo luận Trắc nghiệm — mười hai câu, có chấm điểmHai bài lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Kiên (BK05 NGŨ GIỚI và BK05 THE FIVE PRECEPTS), giữ nguyên từng chữ. Đây là hai bài của hai tác giả, không phải bản dịch của nhau. Bài kinh “Năm Món Bố Thí” dẫn ở bản Anh là Tăng Chi Bộ VIII.39 — đọc trọn bộ ở Tăng Chi Bộ Kinh; giới bổn của người tại gia thuộc Tạng Luật. Bảng đối chiếu hai tác giả và đoạn nhận xét cuối là của trang nhà. Có chỗ nào sai xin báo cho chúng tôi.






