Từ bài này trở đi, khuôn thay đổi. Tài liệu tiếng Việt và tài liệu tiếng Anh là hai bài riêng biệt của hai tác giả khác nhau:
- Bản Việt — Quy Y Tam Bảo, Hòa Thượng Thích Thanh Từ: nghi thức, ý nghĩa, và những chỗ người ta thường thắc mắc.
- Bản Anh — Refuge to the Buddha, Dhamma, & Sangha, Thanissaro Bhikkhu: nguồn gốc lịch sử của tục ấy, và vì sao chữ “quy y” lại là chữ đúng.
Cho nên hãy đọc cả hai. Bản Anh không phải bản lặp lại bản Việt — nó trả lời những câu bản Việt không đặt ra, và ngược lại. Đọc một bên thôi thì chỉ được nửa bài học.
Điều đáng chú ý: hai bài đi tới cùng một cấu trúc hai tầng một cách độc lập — cái bản Việt gọi là Sự và Lý quy y thì bản Anh gọi là external và internal refuge. Xem bảng đối chiếu ở dưới hai bài.
Quy Y Tam Bảo
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Mở Đề
Kiếp người chẳng khác nào con thuyền đang lênh đênh bể cả, ai không khát khao tìm một chỗ nương tựa, một hướng đi để con thuyền người đỡ chòng chành và chóng vượt khỏi trùng dương nguy hiểm? Chỗ nương tựa vững chắc nhất không đâu bằng ngôi Tam Bảo. Hướng đi nhanh chóng và an ổn chỉ có Đạo Phật.
Người đã nhận Đạo Phật làm một hướng đi, bước đầu tiên phải quy y Tam Bảo. Quy y là nấc thang đầu tiên của cây thang giải thoát, là cửa ngỏ đi vào ngôi nhà giác ngộ. Vì thế ai đã hướng về với Đạo Phật mà thiếu quy y khác nào kẻ đi vào nhà mà không từ nơi cửa. Quy y có tánh cách hệ trọng như vậy, nên chúng ta cần phải hiểu rõ ý nghĩa của nó.
Định Nghĩa
Kiếp sống của con người mong manh yếu ớt khác nào cánh bèo đang bị gió dập sóng dồi ngoài bể cả. Nếu không có nơi vững chắc để nương tựa, e một ngày kia phải tàn rửa và chìm lịm dưới đáy bể. Vậy nên phải quy y, nghĩa là đem thân mạng nương gởi nơi ngôi Tam Bảo. Tam Bảo là quả đất, muôn hoa cỏ thiện đều từ nơi đó mà sanh. Tam bảo là con thuyền cứu vớt sinh linh đang đắm chìm trong bể luân hồi, đưa đến bờ giải thoát. Do đó, người phát tâm tu theo Đạo Phật phải thành kính đem gởi cả thân mạng này về ngôi Tam bảo.
Tam bảo là ba ngôi quí báu: Phật quí báu, Pháp quí báu, Tăng quí báu. Tại sao Phật, Pháp, Tăng là quí báu? - Phàm vật gì khó tìm gặp, mà khi gặp được có công dụng giúp người giải khổ, ấy là vật quí báu. Như vàng, bạc, ngọc, ngà… rất khó được, nhưng một khi được là giải quyết mọi vấn đề: nghèo khổ, đói rách… cho người. Tam bảo cũng thế. Dễ gì gặp Phật ra đời, dễ gì thấu đạt pháp giải thoát, dễ gì gặp một vị sư chơn chánh? Nhưng một phen gặp được Tam bảo, chắc chắn giải thoát được mọi khổ não, và tạo cho người một cảnh giới an tịnh chơn thật. Vì thế, Phật, Pháp, Tăng gọi là quí báu. Tam bảo có công dụng vô biên, nên phải giải thích riêng từng phần.
Phật là đấng giác ngộ hoàn toàn và từ bi vô hạn, lúc nào cũng chực hướng dẫn chúng sanh đến chỗ giác ngộ như Ngài, nên người đời gọi Phật là đấng tự giác, giác tha viên mãn, là ông cha lành của tất cả chúng sanh, vị Đạo Sư của mười pháp giới.
Pháp là những phương pháp tu hành do Đức Phật dạy. Người thực hành theo những phương pháp ấy sẽ diệt sạch mọi phiền não, mê mờ, đến nơi an vui giải thoát. Nói một cách khác, Pháp là những phương thuốc trị bịnh chúng sanh. Chúng sanh là những bệnh nhân nằm rên siết trên giường bịnh, pháp của Phật là diệu dược, nếu ai biết chọn uống thì lành ngay. Pháp ấy rất nhiều nhưng đều nằm gọn trong ba tạng: Kinh, Luật, Luận.
Tăng là một số đệ tử Phật, ly khai gia đình, hiến trọn đời cho đạo pháp. Những vị hằng ở chung nhau để tu hành, để học hỏi và luôn luôn giữ theo giới luật của Phật, hằng hòa thuận thân mến nhau. Các Ngài thay đức Phật hoằng truyền chánh pháp, cứu độ chúng sanh.
Nói chung, quy y Phật là hướng thẳng đời mình theo đấng Giác ngộ học theo gương từ bi của Ngài, thương yêu cứu vớt tất cả chúng sanh và cuối cùng thoát khỏi vòng mê muội của một phàm phu. Quy y Pháp là y theo giáo pháp Phật dạy tu hành lần lần dứt sạch các phiền não, giải thoát mọi khổ đau. Người bệnh nhờ thuốc trị được lành, chúng sanh đau khổ nhờ giáo pháp cứu được an vui. Quy y Tăng là theo sự hướng dẫn của những vị sư chân chánh mà tu tập. Vì các Ngài đã dày công nghiên cứu và thực hành giáo pháp Phật dạy, tùy căn cơ trình độ mỗi người, các Ngài cho những pháp thích hợp để trên đường tu khỏi phải lạc lầm.
Tóm lại, quy y Phật là mong được sáng suốt, quy y Pháp là cầu hết đau khổ, quy y Tăng là nhờ sự hướng dẫn đúng đường lối giải thoát.
Quy y Tam bảo chẳng những có thế, mà còn chia ra Sự, Lý khác nhau.
Sự Quy Y Tam Bảo
Quy y Phật là quỳ dưới chân Phật phát nguyện trọn đời y cứ nơi Ngài, cầu mong Ngài hướng dẫn dắt dìu đến chỗ giác ngộ, nếu Phật còn tại thế. Trường hợp Phật đã nhập Niết bàn, quy y Phật là đến chùa quỳ trước Phật đài chí thành tưởng niệm như Phật hiện ngự trên đài sen, phát nguyện trọn đời theo gương sáng của Ngài. Phật sẽ chứng minh tấm lòng thành kính của mình đời đời tu hành không lui sụt.
Quy y Pháp là y cứ theo Kinh, Luật, Luận của Phật mà đọc tụng tu trì. Những quyển kinh luật ấy ghi chép lời vàng ngọc mà Phật đã dạy. Học hỏi tu tập theo dần dần sẽ đủ sức ngự trị tâm mình, diệt tận phiền não.
Quy y Tăng là chọn lựa những vị sư đầy đủ đức hạnh, có khả năng hướng dẫn ta trên đường giải thoát, thỉnh cầu những vị đại diện chư Tăng truyền trao quy giới cho ta. Từ đó về sau tôn kính những vị ấy là thầy, chẳng riêng gì mấy vị ấy, mà tất cả vị sư chân chánh đều là bậc thầy ta cả. Vì vị nào có khả năng hướng dẫn, có đức hạnh gương mẫu đều là người đáng cho ta nương theo học hỏi.
Lý Quy Y Tam Bảo
Lý quy y Tam bảo là trở về nương tựa với Phật, Pháp, Tăng sẵn có trong mỗi chúng ta.
Kinh chép: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh…”. Phật tánh là gì? - Tức là trí giác sáng suốt của mỗi người. Mặc dù chúng sanh sẵn có trí giác, nhưng đã lâu bị si mê phiền não che lấp nên không hiển lộ, như mây mù che mặt nguyệt, như bụi phủ dày đặc trên mặt gương. Giờ đây quy y Phật là tự diệt phiền não, phá si mê để trí giác hiện bày, như vạch mây mù cho thấy trăng sáng, lau sạch bụi để lộ mặt gương.
Muôn vật ở giữa đời này thiên hình vạn trạng, nhưng đều chung cùng một bản thể. Như nhìn vào tiệm vàng thấy bao nhiêu món đồ trang sức bằng vàng, hình thức khác nhau, nhưng chung qui vẫn là một chất, chất vàng. Đã đồng một chất vàng thì giá trị bình đẳng như nhau, nếu đồng cân lượng. Hình thức vàng: vòng, cà rá, xuyến… luôn luôn đổi thay, nhưng chất vàng không khi nào thay đổi. Hình thể sự vật là biến thiên, bản thể của nó là chân thật. Hình thể có lớn, nhỏ, tốt, xấu khác nhau, nhưng bản thể thì bình đẳng. Bản thể ấy gọi là pháp tánh. Người lóng tâm an tịnh để khế hợp pháp tánh, gọi là quy y Pháp.
Bản tâm mỗi người vẫn hằng thanh tịnh, nhưng vì vọng thức quay cuồng nên thành ô nhiễm. Như nước, tánh vẫn là trong, vì sóng gió cuồng loạn nên trở thành ngầu đục. Giờ đây chúng ta chận đúng vọng thức để tâm trở lại thanh tịnh, đó là quy y Tăng.
Tóm lại, Lý quy y Phật là phát huy trí giác sẵn có của mình. Lý qui y Pháp là nhận chân bản thể của các pháp. Lý quy y Tăng là dứt vọng để tâm được thanh tịnh.
Giáo lý nhà Phật lúc nào cũng giữ tánh cách trung đạo và viên dung. Người quy y Tam bảo không phải hoàn toàn ỷ lại nơi Phật, Pháp, Tăng bên ngoài, mà phải trực nhận Phật, Pháp, Tăng nơi mình sẵn có. Ngược lại cũng không tự cao Phật, Pháp, Tăng sẵn có của mình, mà vẫn kính trọng tôn sùng Tam bảo bên ngoài. Biết viên dung cả hai mới gọi là chân chánh quy y. Tuy nhiên, lý bao giờ cũng tùy sự mà hiển, nên phải đặt Sự trước, Lý sau. Như đứa học trò trước phải nhờ ông thầy chỉ dạy sau nó mới hiểu biết, đành rằng nó đã sẵn trí khôn. Do đó, Sự là vấn đề quan trọng cần hiểu đủ mọi mặt của nó.
Nghi Thức Quy Y
Sự, Lý quy y đã hiểu rõ, nên biết qua nghi thức quy y. Quy y là buổi lễ quan trọng trên đường tu tập của mình, vì đó là bước đầu đi đến giải thoát. Vì thế, trước khi quy y, những vị phát tâm quy y phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ thỉnh chư Tăng đến trai đường, đảnh lễ thưa bạch cầu xin chư Tăng dũ lòng từ bi truyền trao quy giới cho mình. Đừng lầm tuởng quy y là một phương tiện để chư Tăng thâu nhiều đệ tử, khởi tâm khinh mạn mà tổn phúc.
Sống trong cuộc đời nhiễm ô này, có ai dám tự cho mình hoàn toàn trong sạch, vì thế trước khi thọ lãnh quy giới, mỗi người phải ba phen sám hối cho ba nghiệp được thanh tịnh. Ngày quy y là ngày bắt đầu bước chân lên đường giải thoát, như một bộ hành bắt đầu leo núi, trước phải gở bỏ những thứ cồng kềnh vô ích đang mang nặng trong mình, sau mới tiến lên đến đỉnh núi. Người quy y cũng thế, trước phải gạn bỏ những tội lỗi xấu xa đã mang sẵn trong mình từ vô lượng kiếp, để thâu nhận pháp thanh tịnh quý báu của Phật ban, thì mới tiến đến chỗ giải thoát được.
Đến phút quy y, người xin quy y phải quỳ thẳng trang nghiêm theo lời hướng dẫn của chư Tăng chí thành phát nguyện:
Đệ tử xin suốt đời quy y Phật.
Đệ tử xin suốt đời quy y Pháp.
Đệ tử xin suốt đời quy y Tăng.
Ba phen phát nguyện rõ ràng trước Tam Bảo, như thế là đã thành pháp Tam Quy. Người thật tâm quy y Tam Bảo là đã gieo nhân giải thoát, quyết định sẽ gặt được kết quả tốt là thoát ly ba đường ác: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Vì thế, kế đó người quy y liền nói tiếp ba lần:
Đệ tử quy y Phật rồi, khỏi đọa địa ngục.
Đệ tử quy y Pháp rồi, khỏi đọa ngạ quỉ.
Đệ tử quy y Tăng rồi, khỏi đọa súc sanh.
Thế là trọn vẹn Tam Quy và Tam Kiết. Để bảo tồn lý tưởng cao cả của mình và giữ vững đức tin trên đường giải thoát, người quy y tự nguyện:
Đệ tử quy y Phật, nguyện trọn đời không quy y thiên, thần, quỉ, vật.
Đệ tử quy y Pháp, nguyện trọn đời không quy y ngoại đạo, tà giáo.
Đệ tử quy y Tăng, nguyện trọn đời không quy y tổn hữu, ác đảng.
Tại sao phải nguyện như vậy? Nguyện như vậy phải chăng là bắt buộc chủ quan? - Không, người phát nguyện như thế nói lên một sức mạnh quyết tiến. Vì trước kia đã chọn lựa kỹ càng chỉ có Tam bảo mới đáng cho mình ký thác cả thân mạng, chỉ có Tam bảo mới đưa mình đến chỗ giải thoát cứu kính, cho nên nguyện trọn đời mình hướng theo Tam Bảo. Như một bộ hành từ Sài Gòn đi Huế, quyết định theo quốc lộ số 1, chớ không đi đường nào khác. Nếu ông quyết định đi Huế, mà khi ra khỏi Sài Gòn gặp đường nào cũng đi, chắc ông khó đến được Huế, nếu đến được cũng tốn công gấp ba, gấp bảy lần đi thẳng. Người quy y cũng thế, đã phát nguyện quy y Tam Bảo, mà gặp đạo nào cũng theo, gặp đảng nào cũng thích, chắc chắn người ấy không khi nào được giải thoát. Người quyết tâm xuống bể mò ngọc, đồng thời gặp ngọc, pha lê, sò, hến, sỏi… quyết định người ấy chỉ lấy ngọc chớ không lượm các thứ kia. Nếu kẻ tìm ngọc mà không chịu lấy ngọc, lại lượm pha lê, sò, hến… thì hỡi ôi! Còn gì si mê bằng! Được ngọc là thỏa mãn sự mong ước của người tìm ngọc và đem lại bao nhiêu sự lợi ích vui sướng cho họ. Cũng thế, quy y là đưa người ta đến chỗ an lành thật muôn vàn lợi ích.
Lợi Ích Quy Y Tam Bảo
Có lạc đường mới biết cái khổ bơ vơ và cảm nỗi sung sướng khi được người chỉ lối. Có ý thức được sự đau khổ ở kiếp người, mới vui mừng khi hướng về ngôi Tam Bảo. Giá trị Tam Bảo là giới thiệu một con đường thẳng tắp, thênh thang chạy suốt tới thành trì an lạc. Đi đến hay không, tùy chỗ tin tưởng và khả năng của mỗi người. Dù sao, người hướng về Tam Bảo vẫn khỏi bở ngở bơ vơ, khỏi thấy con đường đời bí lối.
Quy y Tam Bảo không những đem lại cho tâm hồn ta một sự an ổn vững chải, đức tin tưởng kiên cố ở hiện tại mà còn mở cho ta thấy một tương lai rực rỡ. Ai không tin rằng đường về Sài Gòn sẽ đến Sài Gòn, đi đường về Huế sẽ đến Huế? Cũng vậy, người Quy y Tam Bảo là đi đường giác ngộ, giải thoát và thanh tịnh, ắt hẳn sẽ đến ba nơi ấy.
Quyết Nghi
Có một số người tự cao tự đại bảo: “Giá trị tôi như vầy mà đi phục lạy mấy ông thầy cầu xin quy y thì hèn hạ quá, ai mà làm được. Thôi! Ở nhà đến trước bàn Phật phát nguyện quy y cũng xong”. Hoặc có người bảo: “Tôi ăn ở hiền lành đủ rồi cần gì quy y cho nhọc”. Nói thế là họ không nhận thấy sự quan trọng trong khi Quy y. Giá có người định bụng, hoặc nói thầm: mười giờ mai mình sang thăm ông cả ở cuối làng. Nhưng gần đến 10 giờ phải một trận mưa, hoặc có khách đến thăm… Thử hỏi người ấy có đi thăm ông cả đúng giờ đã định không? Và khi ngồi nhà lòng anh có cắn rứt khó chịu chăng? Chắc là không! Vì ông có hứa với ông cả đâu mà sợ. Ngược lại, nếu anh đã hứa rõ ràng trước với ông cả thì dù mưa gió, khách khứa gì anh cũng phải đến. Nếu anh không đến sẽ bị lương tâm quở phạt nặng nề. . . Như vậy ai cũng phải công nhận: lời hứa được người nghe, người chứng nhận có mộït giá trị sâu đậm trong tâm hồn, khó mà quên được. Càng đông người nghe nhất là những người ấy đều là bậc đáng kính, lời hứa càng tăng giá trị lên bội phần. Vì thế trong quy y, mỗi người tự hứa rõ ràng ba phen trước Tam Bảo, nhờ đó mà suốt đời không lảng quên và không dám làm sai lạc. Nếu lỡ làm sai, họ hết sức hối hận lo chừa cải. Hơn nữa, lời hứa ấy ghi sâu vào tàng thức, đời đời sanh ra là họ sớm thức tỉnh trở về con đường đạo. Cho nên quy y là một điều quan trọng không thể thiếu được.
Kết Luận
Tóm lại quy y Tam Bảo là đem đời mình nương gởi nơi Phật, Pháp, Tăng. Không phải hoàn toàn ỷ lại Tam Bảo bên ngoài, mà cần phát huy Tam Bảo tự tâm mình nữa. Đã phát nguyện quy y là đủ điều kiện thành một Phật tử chân chánh. Nhưng chỉ biết phát nguyện quy y mà không theo gương sáng của Phật, không y giáo pháp luyện rèn luyện tâm tánh và không vâng lời nhắc nhở chư Tăng, là một khuyết điểm lớn lao. Bởi thế sau khi Quy y, Phật tử sống đúng theo đường lối của Tam Bảo, nhứt định có ngày sẽ đạt được kết quả như nguyện.
Các đạo quả tốt đẹp, từ quả vị Hiền Thánh, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, cho đến Phật quả cao tột đều bước từ cấp Qui Y mà lên. Qui Y được coi là nguồn phát nguyện của con sông từ thiện, là nền tảng của ngôi nhà đạo pháp. Vì thế người tu theo đạo Phật nhất định trước phải Quy y Tam Bảo.
Refuge to the Buddha, Dhamma, & Sangha
By Thanissaro Bhikkhu
They go to many a refuge,
to mountains, forests,
parks, trees, and shrines:
people threatened with danger.
That's not the secure refuge,
that's not the highest refuge,
that's not the refuge,
having gone to which,
you gain release
from all suffering and stress.
But when, having gone for refuge
to the Buddha, Dhamma, and Sangha,
you see with right discernment
the four Noble Truths —
stress,
the cause of stress,
the transcending of stress,
and the Noble Eightfold Path,
the way to the stilling of stress:
That's the secure refuge,
that, the highest refuge,
that is the refuge,
having gone to which,
you gain release
from all suffering and stress.
— Dhammapada (Kinh Pháp Cú), 188-192
Introduction
The act of going for refuge marks the point where one commits oneself to taking the Dhamma, or the Buddha's teaching, as the primary guide to one's life. To understand why this commitment is called a "refuge," it's helpful to look at the history of the custom.
In pre-Buddhist India, going for refuge meant proclaiming one's allegiance to a patron — a powerful person or god — submitting to the patron's directives in hopes of receiving protection from danger in return. In the early years of the Buddha's teaching career, his new followers adopted this custom to express their allegiance to the Buddha, Dhamma, and Sangha, but in the Buddhist context this custom took on a new meaning.
Buddhism is not a theistic religion — the Buddha is not a god — and so a person taking refuge in the Buddhist sense is not asking for the Buddha personally to intervene to provide protection. Still, one of the Buddha's central teachings is that human life is fraught with dangers — from greed, anger, and delusion — and so the concept of refuge is central to the path of practice, in that the practice is aimed at gaining release from those dangers. Because the mind is the source both of the dangers and of release, there is a need for two levels of refuge: external refuges, which provide models and guidelines so that we can identify which qualities in the mind lead to danger and which to release; and internal refuges, i.e., the qualities leading to release that we develop in our own mind in imitation of our external models. The internal level is where true refuge is found.
Although the tradition of going to refuge is an ancient practice, it is still relevant for our own practice today, for we are faced with the same internal dangers that faced people in the Buddha's time. We still need the same protection as they. When a Buddhist takes refuge, it is essentially an act of taking refuge in the doctrine of karma: It's an act of submission in that one is committed to living in line with the principle that actions based on skillful intentions lead to happiness, while actions based on unskillful intentions lead to suffering; it's an act of claiming protection in that, by following the teaching, one hopes to avoid the misfortunes that bad karma engenders. To take refuge in this way ultimately means to take refuge in the quality of our own intentions, for that's where the essence of karma lies.
The refuges in Buddhism — both on the internal and on the external levels — are the Buddha, Dhamma, and Sangha, also known as the Triple Gem. They are called gems both because they are valuable and because, in ancient times, gems were believed to have protective powers. The Triple Gem outdoes other gems in this respect because its protective powers can be put to the test and can lead further than those of any physical gem, all the way to absolute freedom from the uncertainties of the realm of aging, illness, and death.
The Buddha, on the external level, refers to Siddhattha Gotama, the Indian prince who renounced his royal titles and went into the forest, meditating until he ultimately gained Awakening. To take refuge in the Buddha means, not taking refuge in him as a person, but taking refuge in the fact of his Awakening: placing trust in the belief that he did awaken to the truth, that he did so by developing qualities that we too can develop, and that the truths to which he awoke provide the best perspective for the conduct of our life.
The Dhamma, on the external level, refers to the path of practice the Buddha taught to these followers. This, in turn, is divided into three levels: the words of his teachings, the act of putting those teachings into practice, and the attainment of Awakening as the result of that practice. This three-way division of the word "Dhamma" acts as a map showing how to take the external refuges and make them internal: learning about the teachings, using them to develop the qualities that the Buddha himself used to attain Awakening, and then realizing the same release from danger that he found in the quality of Deathlessness that we can touch within.
The word Sangha, on the external level, has two senses: conventional and ideal. In its ideal sense, the Sangha consists of all people, lay or ordained, who have practiced the Dhamma to the point of gaining at least a glimpse of the Deathless. In a conventional sense, Sangha denotes the communities of ordained monks and nuns. The two meanings overlap but are not necessarily identical. Some members of the ideal Sangha are not ordained; some monks and nuns have yet to touch the Deathless. All those who take refuge in the Buddha, Dhamma, and Sangha become members of the Buddha's four-fold assembly (parisa) of followers: monks, nuns, male lay devotees, and female lay devotees. Although there's a widespread belief that all Buddhist followers are members of the Sangha, this is not the case. Only those who are ordained are members of the conventional Sangha; only those who have glimpsed the Deathless are members of the ideal Sangha. Nevertheless, any followers who don't belong to the Sangha in either sense of the word still count as genuine Buddhists in that they are members of the Buddha's parisa.
When taking refuge in the external Sangha, one takes refuge in both senses of the Sangha, but the two senses provide different levels of refuge. The conventional Sangha has helped keep the teaching alive for more than 2,500 years. Without them, we would never have learned what the Buddha taught. However, not all members of the conventional Sangha are reliable models of behavior. So when looking for guidance in the conduct of our lives, we must look to the living and recorded examples provided by the ideal Sangha. Without their example, we would not know (1) that Awakening is available to all, and not just to the Buddha; and (2) how Awakening expresses itself in real life.
On the internal level, the Buddha, Dhamma, and Sangha are the skillful qualities we develop in our own minds in imitation of our external models. For instance, the Buddha was a person of wisdom, purity, and compassion. When we develop wisdom, purity, and compassion in our own minds, they form our refuge on an internal level. The Buddha tasted Awakening by developing conviction, persistence, mindfulness, concentration, and discernment. When we develop these same qualities to the point of attaining Awakening too, that Awakening is our ultimate refuge. This is the point where the three aspects of the Triple Gem become one: beyond the reach of greed, anger, and delusion, and thus totally secure.
II. Refuge Practice
(LEADER) Now let us chant the preliminary passage in homage to the Awakened One, the Blessed One.
(ALL) Homage to the Blessed One, the Worthy One, the Rightly Self-awakened One (3 times).
I go to the Buddha for refuge.
I go to the Dhamma for refuge.
I go to the Sangha for refuge.
A second time, I go to the Buddha for refuge.
A second time, I go to the Dhamma for refuge.
A second time, I go to the Sangha for refuge.
A third time, I go to the Buddha for refuge.
A third time, I go to the Dhamma for refuge.
A third time, I go to the Sangha for refuge.
I have no other refuge,
The Buddha is my foremost refuge.
Through the speaking of this truth, may they [I] be blessed always.
I have no other refuge,
The Dhamma is my foremost refuge.
Through the speaking of this truth, may they [I] be blessed always.
I have no other refuge,
The Sangha is my foremost refuge.
Through the speaking of this truth, may they [I] be blessed always.
(The Buddha), our protector, with great compassion, for the welfare of all beings, having fulfilled all the perfections, attained the highest self-awakening. Through the speaking of this truth, may all troubles cease to be.
(The Buddha), our protector, with great compassion, for the benefit of all beings, having fulfilled all the perfections, attained the highest self-awakening. Through the power of this truth, may all troubles cease to be.
(The Buddha), our protector, with great compassion, for the happiness of all beings, having fulfilled all the perfections, attained the highest self-awakening. Through the power of this truth, may all troubles cease to be.
Many are those who go for refuge to mountains, forests, parks, trees, & shrines: People threatened with danger. That is not the secure refuge, that is not the highest refuge, that is not the refuge, having gone to which, one gains release from all suffering & stress.
But a person who, having gone to the Buddha, Dhamma, & Sangha for refuge, sees the four noble truths with right discernment: Stress, the cause of stress, the transcending of stress, and the Noble Eightfold Path, the way to the stilling of stress. That is the secure refuge, that is the highest refuge, that is the refuge, having gone to which, one gains release from all suffering.
Conclusion
‘Indeed, the Blessed One [the Buddha] is worthy and rightly self-awakened, consummate in knowledge and conduct, well-gone, an expert with regard to the cosmos, unexcelled as a trainer for those people fit to be tamed, the Teacher of divine and human beings, awakened, blessed.’
‘The Dhamma is well-expounded by the Blessed One, to be seen here and now, timeless, inviting verification, pertinent, to be realized by the wise for themselves.’
‘The Sangha of the Blessed One’s disciples who have practiced well… who have practiced straight-forwardly… who have practiced methodically… who have practiced masterfully — in other words, the four types of noble disciples when taken as pairs, the eight when taken as individual types — they are the Sangha of the Blessed One’s disciples: worthy of gifts, worthy of hospitality, worthy of offerings, worthy of respect, the incomparable field of merit for the world.’
— A X.92
Hai bài được viết độc lập, bằng hai ngôn ngữ, theo hai lối trình bày khác nhau. Chúng đi tới cùng một cấu trúc hai tầng. Chỗ trùng nhau ấy đáng giá hơn từng bài riêng lẻ.
| HT Thích Thanh Từ | Thanissaro Bhikkhu | |
|---|---|---|
| Tầng ngoài | Sự quy y Quỳ, phát nguyện, thọ quy giới từ chư Tăng |
External refuge Khuôn mẫu và chỉ dẫn để phân biệt đâu là hiểm nguy, đâu là giải thoát |
| Tầng trong | Lý quy y Phát huy trí giác sẵn có; khế hợp pháp tánh; dứt vọng cho tâm thanh tịnh |
Internal refuge Trí tuệ, thanh tịnh, từ bi; tín, tấn, niệm, định, tuệ |
| Đâu là chỗ nương thật | Cả hai, giữ trọn — “biết viên dung cả hai mới gọi là chân chánh quy y” | “The internal level is where true refuge is found” |
| Cái nào trước | Tầng ngoài — “lý bao giờ cũng tùy sự mà hiển” | Tầng ngoài — nó cung cấp khuôn mẫu cho tầng trong noi theo |
Chỗ hai bên khác nhau là nhấn mạnh, không phải hình dáng: bản Việt nhấn phải giữ trọn cả hai và cảnh báo đừng tự cao về Tam Bảo sẵn có nơi mình; bản Anh nói thẳng tầng trong mới là chỗ nương thật. Cả hai đều cảnh báo việc chỉ ỷ lại vào bên ngoài.
Câu hỏi thảo luận Trắc nghiệm — mười hai câu, có chấm điểmHai bài lấy trọn từ tài liệu khoá học Bậc Kiên (BK04 QUY Y TAM BẢO và BK04 REFUGE TO THE BUDDHA, DHAMMA, & SANGHA), giữ nguyên từng chữ kể cả những chỗ bản gốc có lỗi đánh máy. Đây là hai bài của hai tác giả, không phải bản dịch của nhau — đã ghi rõ ở đầu trang. Bài kệ mở đầu bản Anh là Pháp Cú 188–192, đoạn kết dẫn AN 10.92; đọc Pháp Cú trọn bộ ở Kinh Pháp Cú và Tăng Chi Bộ ở Tăng Chi Bộ Kinh. Bảng đối chiếu hai tác giả là của trang nhà.






