- Thế danh
- Phan Cảnh Tuân
- Pháp danh
- Hồng Liên
- Pháp hiệu
- Thích Phổ Hòa
- Với GĐPT Huyền Quang
- Cố vấn giáo hạnh, từ tháng 01–2001 cho đến ngày viên tịch
Có những cuộc đời không kể được bằng một nghề. Cuộc đời này phải kể bằng năm: một thầy giáo làng, một vị trung tá, một người tù, một trong những người dựng nên phong trào Gia Đình Phật Tử — và, ở tuổi bảy mươi, một chú tiểu xuống tóc. Xuyên suốt cả năm chặng ấy, có một sợi chỉ chưa bao giờ đứt.
Phần I · Đứa Con Cửa ChùaNgày 10 tháng 4 năm 1926, năm Bính Dần, tại Thừa Thiên – Huế, một cậu bé chào đời trong ngôi nhà của cư sĩ Nguyên Tấn Phan Cảnh Tú — một vị tiền bối hữu công của khuôn hội Phật giáo Trung Phần — và bà Nguyên Tố Khổng Thị Sâm. Cậu bé ấy tên Phan Cảnh Tuân. Nhà thâm tín đạo Phật, nên đường tới chùa với cậu là đường về nhà. Chính thân phụ dẫn con đi, dạy con tu tập. Cậu thọ Tam Quy Ngũ Giới rất sớm, mang pháp danh Hồng Liên — sen hồng. Cái tên ấy theo ông suốt bảy mươi năm sau, qua trường học, qua quân ngũ, qua nhà tù, qua nửa vòng trái đất; và mãi tới cuối đời, khi đã là một vị Tỳ kheo, anh chị em áo lam vẫn quen gọi ông bằng cái tên ấy. Ông học tiểu học ở trường Paul Bert — Thừa Thiên, Huế; lên trung học vào trường Khải Định, tức Quốc Học Huế; rồi học Đại học Sư phạm tại Huế. Năm 1946, tốt nghiệp khóa Sư Phạm cấp tốc, ông được bổ nhiệm về dạy ở các trường tiểu học miền quê Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế. Xin dừng lại một chút ở chi tiết ấy. Người ta hay nhớ ông như một sĩ quan, một Huynh Trưởng, một vị Thầy. Nhưng nghề đầu tiên của ông là dạy trẻ con ở làng. Và nếu đọc hết cuộc đời này, sẽ thấy: ông chưa bao giờ thật sự đổi nghề.
Năm 1947 ông hai mươi mốt tuổi. Phong trào mà ông đang góp tay dựng lại lúc ấy chưa mang cái tên mà hôm nay ai cũng biết.
Gia Đình Phật Hóa Phổ — tiền thân của Gia Đình Phật Tử Việt Nam — đã ngưng hoạt động từ 1945 đến 1946 vì chiến cuộc. Dựng lại nó là việc của một nhóm người trẻ. Ông là thành phần Huynh Trưởng nòng cốt trong nhóm ấy, cùng với các anh Võ Đình Cường, Phan Xuân Sanh, Văn Đình Hy và chị Hoàng Thị Kim Cúc — những cái tên mà bất cứ ai học lịch sử GĐPT cũng gặp ở trang đầu.
Ông trực tiếp điều hành Gia Đình Phật Hóa Phổ Hướng Thiện — một trong ba đơn vị Gia Đình đầu tiên tại thành phố Huế. Một năm sau, ở tuổi hai mươi hai, ông đã là huấn luyện viên Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng A Dục đầu tiên, tổ chức từ 22 đến 24 tháng 8 năm 1948 tại Trường Thanh Long – Huế.
Rồi tới những năm mà một phong trào biến thành một tổ chức — và ông có mặt trong phòng ở từng khoảnh khắc ấy:
- 1949 — Ủy viên Ban Hướng Dẫn Gia Đình Phật Hóa Phổ Trung Phần, tiền thân của Ban Hướng Dẫn GĐPT Việt Nam sau này.
- 1950 — Ban viên Ban Hướng Dẫn Khóa I (1950–1952). Trong lễ ra mắt trước Hội Đồng Tăng Già Trung Việt và Hội Việt Nam Phật Học Trung Việt tại Chùa Từ Đàm – Huế, ông cùng nhiều anh chị cùng thời được cài Huy hiệu Hoa Sen Trắng đầu tiên, dành cho những Huynh Trưởng lãnh đạo phong trào. Năm ấy ông hai mươi bốn tuổi.
- Tháng 3–1951 — tham gia ban soạn thảo NỘI QUY TRÌNH đầu tiên của GĐPT Việt Nam. Bản Nội Quy Trình ấy được thông qua tại Đại Hội Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam Kỳ I, Chùa Từ Đàm – Huế, 24 đến 26 tháng 4 năm 1951; ông dự với tư cách đại biểu phái đoàn GĐPT Trung Phần.
- Tháng 3–1951 — Trại phó Trại Huấn Luyện Huynh Trưởng Kim Cang tại Huế, quy tụ các Huynh Trưởng tiền phong khắp ba miền Trung – Nam – Bắc, kéo dài trọn một tuần lễ. Có thể xem đây là trại huấn luyện Huynh Trưởng quan trọng và quy mô nhất kể từ ngày thành lập GĐPT Việt Nam.
- 1951–1952 — huấn luyện viên các khóa Đội – Chúng Trưởng và Đoàn Trưởng, tổ chức từ Đồng Hới, Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng vào tới Nha Trang, Ninh Thuận, Đà Lạt: trại Lục Hòa – Đà Nẵng, Tinh Tấn – Nha Trang, Đoàn Trưởng – Đà Lạt.
Xin đọc lại danh sách ấy cùng với những con số tuổi. Từ hai mươi mốt đến hai mươi sáu tuổi, ông góp tay dựng lại phong trào, điều hành một trong ba đơn vị đầu tiên, huấn luyện ở trại A Dục đầu tiên, ngồi trong Ban Hướng Dẫn đầu tiên, đeo huy hiệu Hoa Sen Trắng đầu tiên, và soạn bản nội quy đầu tiên. Rất ít người có mặt ở lúc khai sinh của một điều gì. Ông có mặt ở gần như tất cả.
Phần III · Hai Màu ÁoNăm 1953, ông tốt nghiệp Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, phục vụ tại Sư Đoàn 7 Bộ Binh ở Định Tường. Từ năm ấy tới 1975 ông mặc áo lính: tổng cộng hai mươi hai năm quân ngũ. Năm 1966 là Tham Mưu Phó Khối Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn 7 thuộc Quân Đoàn IV; 1969–1970 thăng Thiếu Tá, đổi về Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn; cấp bậc sau cùng là Trung Tá.
Nhưng trong hồ sơ ấy có một câu quan trọng hơn mọi cấp bậc. Năm 1953, “mặc dù tại ngũ”, ông vẫn tranh thủ hằng tuần đến sinh hoạt với GĐPT Chánh Đạo – Sài Gòn, giữ vai trò Đoàn Trưởng Đoàn Thiếu Nam.
Một sĩ quan quân đội, lấy ngày nghỉ hiếm hoi của mình để đứng trước một hàng thiếu niên áo lam. Và ông làm như vậy suốt hai mươi hai năm.
- Cùng thời gian ấy — thành viên Ban Hướng Dẫn Trung Ương Nam Việt, thường tổ chức trại huấn luyện tại Miền Tây Nam Phần, làm huấn luyện viên cùng các anh Tâm Lạc Nguyễn Văn Thục, Thiện Thành Dương Xuân Dưỡng, Tâm Khuyến Ngô Văn Mão, Thiện Hiền Dương Xuân Nhơn — những vị có công đầu xây dựng phong trào ở Miền Nam. Điển hình: Khóa A Dục 1 tại Sài Gòn (Chùa Phước Hòa) – 1954; Khóa A Dục 2 tại Cần Thơ – 1955.
- 1960 — Đoàn Trưởng Đoàn A Dục, sinh hoạt tại Chùa Xá Lợi.
- 1961 — Liên Đoàn Trưởng thứ 5 của GĐPT Chánh Thọ (Chùa Vạn Thọ).
- 1964 — Trưởng Ban Hướng Dẫn GĐPT Định Tường, thuộc Miền Huệ Quang.
- 1973 — Hội Nghị Cựu Huynh Trưởng GĐPTVN tại Viện Đại Học Vạn Hạnh – Sài Gòn đề cử ông làm Đoàn Trưởng. Rồi tới tháng Tư 1975.
Sau biến cố tháng Tư 1975, cùng số phận của những cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa — trong đó có rất nhiều anh chị em cùng màu áo lam — Trung Tá Phan Cảnh Tuân trở thành “người tù cải tạo”.
Ông bị giam cầm và thuyên chuyển qua nhiều trại tù ở Miền Nam, rồi bị đày ra Bắc trên chuyến tàu “Sông Hương”, tháng 3 năm 1977. Tổng cộng hết thảy mười hai năm tám tháng tù đày.
Bản tiểu sử dành cho quãng đời này đúng bốn câu. Mười hai năm tám tháng, gói trong bốn câu. Chúng ta không có lá thư nào từ những năm ấy, không nhật ký, không một tấm hình. Cái chúng ta có là một dòng được viết về ông sau này — và đó là dòng duy nhất cần thiết:
“Công danh rực rỡ không làm Phật tử Hồng Liên mê say chìm đắm; tù tội không làm Phật tử Hồng Liên ôm giữ oán cừu.”
Ông được thả năm 1987 — khi ấy đã ngoài sáu mươi. Ngày 22 tháng 11 năm 1993, ông định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình H.O. 36, cư trú tại tiểu bang California.
Phần V · Bắt Đầu Lại Ở Tuổi Sáu Mươi BảyPhần lớn những người đặt chân tới một xứ lạ ở tuổi sáu mươi bảy, sau mười hai năm tù, sẽ nghĩ rằng mình đã đủ tư cách để ngồi yên. Ông thì chỉ mấy tháng sau đã mặc lại áo lam.
- 1994 — Trưởng Nhóm Nghiên Cứu Cải Tiến Chương Trình – Tài Liệu và Phương Thức Tu Học, thuộc Ban Điều Hợp Trung Ương GĐPT Việt Nam tại Hải Ngoại; sau đó kiêm nhiệm Trưởng Nhóm Phát Tâm Lục Hòa. Cơ cấu ấy được lập nhân trại họp bạn toàn quốc Huyền Quang và ngành thanh thiếu Viên Lạc tổ chức tại San Jose, California — tiền thân của Ban Hướng Dẫn GĐPT Việt Nam Trên Thế Giới ngày nay. Bảy năm sau, Thầy làm cố vấn giáo hạnh cho một đơn vị cũng mang tên ấy.
- Tháng 6–1994 — một trong những thành viên đầu tiên của Nhóm Tự Nguyện Hướng Về Quê Hương, một quỹ hỗ trợ anh chị em lam viên còn ở quê nhà.
- 2 và 3–7–1994 — Đại Hội Cựu Huynh Trưởng Toàn Quốc Hoa Kỳ tại Chùa Huệ Quang, Santa Ana. Liên Đoàn Cựu Huynh Trưởng đổi danh xưng thành Liên Đoàn Huynh Trưởng Truyền Thống; ông được đề cử Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn (Liên Đoàn Trưởng là Quảng Khoái Trần Ngọc Lạc).
- Sinh hoạt thường xuyên với GĐPT Chánh Pháp tại Garden Grove; huấn luyện viên các trại Lộc Uyển và A Dục do các Ban Hướng Dẫn Miền tổ chức. Hơn bốn mươi năm sau trại Kim Cang ở Huế, ông vẫn đứng trước một vòng tròn y như vậy.
- 1995 — huấn luyện viên Trại Huyền Trang II (Cấp II), Oklahoma City, 31–8 đến 4–9–1995.
- 4–7 tháng 4–1996 — Đại Hội Huynh Trưởng GĐPT VN tại Hoa Kỳ lần thứ V, Chùa Hoa Nghiêm, Santa Ana: được tín nhiệm Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo & Giám Sát nhiệm kỳ V (1996–2000).
Trong một lần về thăm Trung Tâm Phật Giáo Hayward ở Bắc California, ông được Thượng Tọa viện chủ thương mến và khuyến khích. Tháng 9 năm 1996 — chính năm ông vừa được bầu làm Chủ Tịch một hội đồng toàn quốc — ông xin xuống tóc, bái Thượng Tọa Thích Từ Lực làm Bổn Sư.
Khi ấy ông bảy mươi tuổi năm tháng. Đây là lời ông nói trong buổi lễ:
“Hôm nay ngày 14 tháng 9 năm 1996, nhằm ngày 2 tháng tám Bính Tý, là ngày trọng đại nhất trong đời con, ngày mà con hằng ước mơ, chờ đợi trong suốt mấy chục năm qua.
Nay hội đủ duyên lành, con xin cúi đầu đảnh lễ đức Thế Tôn, cùng chư Phật, chư Bồ tát. Con cũng xin đảnh lễ Ôn, cùng quý bậc Trưởng Thượng, Tôn đức, kính thưa bà con và anh chị em, con xin được xuất gia,
hiến dâng trọn vẹn quãng đời còn lại cho chí nguyện tu học, hành trì hòng thực hiện trọn vẹn ước mơ của con từ mấy chục năm nay là quyết tâm học đạo, để phục vụ tuổi trẻ qua hình thức sinh hoạt của GĐPT Việt Nam…”
Lời phát nguyện tại lễ xuống tóc, ngày 14 tháng 9 năm 1996Xin đọc lại vế cuối cùng. Một người bảy mươi tuổi xin đi tu — và lý do ông đưa ra không phải sự an tĩnh của riêng mình. Lý do là đám trẻ.
Sau một thời gian nhập chúng tu tập, năm 2000, Sa Di Phổ Hòa thọ Cụ Túc Giới trong Đại Giới Đàn Quang Nghiêm tại chùa Quang Nghiêm, Stockton, Bắc California — từ đó là Đại Đức Thích Phổ Hòa.
Phần VII · Mười Năm Với Huyền QuangTừ tháng 01 năm 2001, Ban Hướng Dẫn Trung Ương GĐPT Việt Nam tại Hoa Kỳ cung thỉnh Thầy về thường trụ và điều hành Trung Tâm Huấn Luyện và Tu Học Thích Quảng Đức, tọa lạc tại 1838 West Baseline Street, San Bernardino, California — trong vai trò Trung Tâm Trưởng.
Địa chỉ ấy chính là địa chỉ của chúng tôi. Từ ngày có Trung Tâm cho tới ngày Thầy ra đi, Thầy Thích Phổ Hòa là cố vấn giáo hạnh của Gia Đình Phật Tử Huyền Quang — chính gia đình có trang nhà mà quý vị đang đọc đây, www.gdpthuyenquang.com.
Mười năm. Với một tổ chức, mười năm là một chương. Với những đứa trẻ lớn lên trong mười năm ấy, đó đơn giản là thế giới vốn như vậy: Chủ Nhật thì tới Baseline, và Thầy ở đó.
- Tháng 3–2003 — được thỉnh giảng Trại Huyền Trang III (Cấp II) tại trại trường Ranchos Los Mochos, Livermore, Bắc California.
- 10–11.4.2004 — Đại Hội Hợp Nhất GĐPTVN tại Hoa Kỳ, chùa Diệu Pháp, Monterey Park. Dịp ấy chưa hội đủ túc duyên, tâm ý hợp nhất chưa thành. Bản tiểu sử viết về Thầy một câu rất đẹp: “thân thường trụ ở một nơi mà tâm hòa ái bao trùm khắp, thường lui tới gắn bó trong mọi sinh hoạt của lam viên khắp nơi.”
- 13–15.7.2004 — Đại Hội VII tại Chùa Pháp Quang, Grand Prairie, Texas: Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo và Giám Sát nhiệm kỳ 2005–2008 (Trưởng ban: Nguyên Tịnh Trần Tư Tín).
- 7–9.11.2004 — dự Đại Hội Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam Trên Thế Giới Kỳ I tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ, trong cương vị Trưởng Ban Bảo Trợ GĐPT VN tại Hải Ngoại — chức vụ Thầy đã giữ từ Đại Hội tại chùa Viên Giác, Hanover, Đức Quốc, 21–23.4.2000.
- 19.6.2008 — Thầy đến thăm viếng và ủy lạo tinh thần Đại Hội Kỳ VIII tại Như Lai Thiền Tự, San Diego. Không giữ chức vụ gì trong đại hội ấy — Thầy tới để có mặt.
Cuối năm 2010, cảm nhận sức khỏe suy kiệt dần, nghĩ rằng thân tật bệnh cuối đời sẽ làm vướng bận anh chị em áo lam thương mến quan tâm, Thầy rời Trung Tâm Thích Quảng Đức về tịnh dưỡng tại Highland Palms Healthcare Center, San Bernardino.
Ở đó, Thầy được sự hỗ trợ âm thầm của những anh chị cháu ruột của bậc tiền bối sáng lập phong trào — Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám — và sự chăm sóc hết sức tận tâm của Phật tử Bác sĩ Tâm Quảng Hoa Nguyễn Vy.
Ngày 9 tháng 2 năm 2011, tại Highland, San Bernardino, California, Tỳ Kheo Thích Phổ Hòa an nhiên thị tịch — hưởng thọ 86 tuổi (tính theo tuổi ta), 11 hạ lạp.
Phần VIII · Vì Sao Gọi Là “Sư Huynh”Trong nhà Phật, một vị Tỳ kheo được gọi là Thầy. Nhưng giữa những chiếc áo lam, một cách gọi khác đã tự nó hình thành và ở lại: Sư Huynh Phổ Hòa. Không ai quyết định điều đó cả — nó cứ tự nhiên như vậy, và nó nói lên tất cả.
Bởi vì Thầy chưa bao giờ thôi làm cả hai. Một vai là Tu sĩ, một vai là Anh Trưởng Lớn. Bản tiểu sử viết: Thầy đã rũ bỏ mọi hỷ – nộ – ái – ố, thị phi để SỐNG GẦN, SỐNG VỚI và SỐNG CHO lẽ Đạo nhiệm mầu và Lý Tưởng thiêng liêng của tổ chức GĐPT Việt Nam.
Tám mươi sáu năm đời người. Công danh sự nghiệp, gia môn đã thành tựu viên mãn. Phật tử Hồng Liên Phan Cảnh Tuân đã nếm đủ dâu bể cuộc đời trải theo vận nước vận đạo thăng trầm, thấu lẽ nhân sinh tương quan để sống hài hòa với mọi người chung quanh.
Công danh rực rỡ không làm Phật tử Hồng Liên mê say chìm đắm; tù tội không làm Phật tử Hồng Liên ôm giữ oán cừu. Phải chăng đó là hiện thân của BI – TRÍ – DŨNG?
Ba chữ Bi – Trí – Dũng là châm ngôn mà đoàn sinh nào cũng đọc thuộc. Phần lớn chúng ta đọc nó. Thầy đã dùng tám mươi sáu năm để cho thấy nó đắt tới mức nào.
Và cũng vì lẽ đó, sự vắng bóng của Thầy không chỉ là mất mát đối với mối Đạo. Trong Gia Đình Lam, đó là một khoảng trống vô biên, khó lấy gì bù đắp được.
Phần IX · Niên Biểu- 10 · 4 · 1926Sinh tại Thừa Thiên – Huế, năm Bính Dần. Con của cư sĩ Nguyên Tấn Phan Cảnh Tú và bà Nguyên Tố Khổng Thị Sâm. Sớm thọ Tam Quy Ngũ Giới, pháp danh Hồng Liên.
- 1932 · 1938 · 1944Tiểu học Paul Bert; trung học Khải Định (Quốc Học Huế); Đại học Sư phạm tại Huế.
- 1946Tốt nghiệp khóa Sư Phạm cấp tốc; dạy các trường tiểu học miền quê Quảng Trị – Thừa Thiên – Huế.
- 1947Huynh Trưởng nòng cốt tái tổ chức Gia Đình Phật Hóa Phổ; điều hành đơn vị Hướng Thiện, một trong ba đơn vị đầu tiên ở Huế.
- 22–24 · 8 · 1948Huấn luyện viên Trại A Dục đầu tiên, Trường Thanh Long – Huế. Ông hai mươi hai tuổi.
- 1949Ủy viên Ban Hướng Dẫn GĐPHP Trung Phần.
- 1950Ban viên BHD Khóa I (1950–1952); được cài Huy hiệu Hoa Sen Trắng đầu tiên tại Chùa Từ Đàm, Huế.
- 3 · 1951Ban soạn thảo Nội Quy Trình đầu tiên của GĐPT Việt Nam; Trại phó Trại Kim Cang, Huế.
- 24–26 · 4 · 1951Đại biểu Trung Phần dự Đại Hội Huynh Trưởng GĐPT Việt Nam Kỳ I, Chùa Từ Đàm – Huế.
- 1951–1952Huấn luyện viên các khóa Đội – Chúng Trưởng, Đoàn Trưởng từ Đồng Hới tới Đà Lạt: trại Lục Hòa, Tinh Tấn, Đoàn Trưởng.
- 1953Tốt nghiệp Khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức; phục vụ Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Vẫn hằng tuần sinh hoạt với GĐPT Chánh Đạo – Sài Gòn, Đoàn Trưởng Đoàn Thiếu Nam.
- 1954 · 1955Huấn luyện viên Khóa A Dục 1 (Chùa Phước Hòa, Sài Gòn) và Khóa A Dục 2 (Cần Thơ).
- 1960 · 1961 · 1964Đoàn Trưởng Đoàn A Dục (Chùa Xá Lợi); Liên Đoàn Trưởng thứ 5 GĐPT Chánh Thọ; Trưởng BHD GĐPT Định Tường.
- 1966 · 1969–70Tham Mưu Phó Khối Chiến Tranh Chính Trị Sư Đoàn 7; thăng Thiếu Tá, về Bộ Tổng Tham Mưu. Cấp bậc sau cùng: Trung Tá. 22 năm quân ngũ.
- 1973Hội Nghị Cựu Huynh Trưởng GĐPTVN tại Viện Đại Học Vạn Hạnh đề cử làm Đoàn Trưởng.
- 1975 – 1987“Người tù cải tạo”: nhiều trại ở Miền Nam, rồi bị đày ra Bắc trên tàu “Sông Hương”, tháng 3–1977. Tổng cộng 12 năm 8 tháng. Được thả năm 1987.
- 22 · 11 · 1993Định cư tại California theo diện H.O. 36. Sáu mươi bảy tuổi.
- 1994Trưởng Nhóm Nghiên Cứu Cải Tiến Chương Trình (lập nhân trại họp bạn Huyền Quang, San Jose); thành viên đầu tiên Nhóm Tự Nguyện Hướng Về Quê Hương; Chủ Tịch Hội Đồng Cố Vấn Liên Đoàn Huynh Trưởng Truyền Thống.
- 4 · 1996Chủ Tịch Hội Đồng Chỉ Đạo & Giám Sát BHD GĐPT VN tại Hoa Kỳ, nhiệm kỳ V.
- 14 · 9 · 1996Lễ xuống tóc tại Trung Tâm Phật Giáo Hayward; bái Thượng Tọa Thích Từ Lực làm Bổn Sư. Bảy mươi tuổi năm tháng.
- 4 · 1997Hội Nghị Ban Điều Hợp GĐPT VN tại Hải Ngoại Kỳ I (San Diego): Trưởng Ban Bảo Trợ 1997–2000. Tháng 10: Ban Tổ Chức khóa tu do Thiền sư Thích Nhất Hạnh và Tăng đoàn Làng Mai hướng dẫn.
- 2000Thọ Cụ Túc Giới, Đại Giới Đàn Quang Nghiêm, Stockton. Tháng 4, tại chùa Viên Giác, Hanover, Đức Quốc: Trưởng Ban Bảo Trợ GĐPT VN tại Hải Ngoại.
- 01 · 2001Về thường trụ và điều hành Trung Tâm Huấn Luyện & Tu Học Thích Quảng Đức, 1838 West Baseline St, San Bernardino — và từ ngày ấy là cố vấn giáo hạnh của GĐPT Huyền Quang, website: www.gdpthuyenquang.com
- 2003 · 2004 · 2008Thỉnh giảng Trại Huyền Trang III; Chủ Tịch HĐ Chỉ Đạo & Giám Sát 2005–2008; dự Đại Hội Thế Giới Kỳ I tại Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ; năm 2008 đến thăm và ủy lạo Đại Hội Kỳ VIII tại San Diego.
- cuối 2010Rời Trung Tâm về tịnh dưỡng tại Highland Palms Healthcare Center, San Bernardino — vì không muốn làm vướng bận anh chị em áo lam.
- 9 · 2 · 2011An nhiên thị tịch tại Highland, San Bernardino, California. Hưởng thọ 86 tuổi, 11 hạ lạp.
Nam mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật
Nguồn và ghi chú. Trang này được viết từ bản “Tiểu Sử Tỳ Kheo Thích Phổ Hòa” mà Gia Đình Phật Tử Huyền Quang lưu giữ, cùng lời phát nguyện tại lễ xuống tóc ngày 14–9–1996 được trích trong bản ấy. Chúng tôi giữ nguyên mọi sự kiện và mọi câu trích, không thêm bất cứ chi tiết nào không có trong tư liệu gốc.
Bốn chỗ trong tư liệu gốc xin được thưa lại. Chúng tôi nêu ra chứ không tự ý sửa một văn bản tưởng niệm:
- Học vấn — bản gốc xếp 1944 (Đại học Sư phạm) trước 1932 (tiểu học) và 1938 (trung học). Trang này xếp lại theo năm.
- Khoảng cách năm — bản gốc ghi “1987 được thả; 5 năm sau, ngày 22–11–1993…”; từ 1987 tới 1993 là sáu năm. Trang này ghi hai mốc năm, không ghi khoảng cách.
- Thứ tự — bản gốc ghi 1961 trước 1960. Trang này xếp lại theo năm.
- Ngày âm lịch viên tịch — bản gốc ghi “ngày 11 tháng 2 năm Tân Mão”. Đối chiếu lịch thì ngày 9–2–2011 nhằm mùng 7 tháng Giêng năm Tân Mão. Chúng tôi giữ ngày dương lịch và kính mong quý vị trong gia đình hoặc quý anh chị biết rõ chỉ giúp, chúng tôi sẽ sửa ngay.
Hình ảnh. Tấm chân dung ở đầu trang lấy từ tư liệu của Gia Đình Phật Tử Huyền Quang. Chúng tôi vẫn mong có thêm — một tấm ảnh trại, một tấm chụp ở Trung Tâm, một lá thư, một kỷ niệm. Xin gửi về [email protected]. Chúng tôi sẽ đưa lên đây, ghi rõ tên người gửi, hoặc để khuyết danh nếu quý vị muốn.






