G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 36.6
Tương Ưng Thọ · Mũi Tên Thứ Hai

Kinh Mũi Tên

Sallatha Sutta — SN 36.6 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Mũi Tên

Đây là một trong những bài thiết thực nhất Tam Tạng, và cũng hay bị dạy sai nhất thành “tu rồi thì hết đau”. Kinh nói khác: bậc Thánh vẫn đaumũi tên thứ nhất vẫn trúng. Cái khác nằm ở mũi tên thứ hai.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Thọ (SN 36), bài 6
  • Chủ đềkhổ về thânkhổ về tâm
  • Bài cùng hình ảnhMN 63 cũng nói mũi tên, nhưng nói chuyện khác

Kinh Mũi Tên là một bài kinh ngắn nhưng rất thiết thực cho đời sống hằng ngày. Đức Phật mở đầu bằng một nhận xét bình đẳng: kẻ vô văn phàm phu cũng cảm thọ lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; bậc Đa văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ đúng ba loại thọ ấy. Vậy khác nhau ở chỗ nào? Ngài dạy: khác ở phản ứng của tâm. Khi bị khổ thọ chạm đến, kẻ vô văn phàm phu "sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh" — người ấy cảm giác hai cảm thọ: cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Đức Phật ví như một người bị bắn một mũi tên, rồi lại bị bắn thêm mũi tên thứ hai: người ấy chịu đau đớn của cả hai mũi tên. Mũi tên thứ nhất là cái đau nơi thân, điều không ai tránh khỏi. Mũi tên thứ hai là do chính tâm mình bắn thêm vào mình: sân hận với cái khổ, rồi chạy tìm dục lạc để trốn khổ, vì phàm phu "không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc". Do đó ba tùy miên được nuôi lớn: sân tùy miên nơi khổ thọ, tham tùy miên nơi lạc thọ, vô minh tùy miên nơi bất khổ bất lạc thọ. Người ấy thọ lãnh mọi cảm thọ "như người bị trói buộc", nên bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ngược lại, bậc Đa văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thì không sầu muộn, không than vãn, không đấm ngực; vị ấy "cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm" — như người chỉ trúng một mũi tên, không bị bắn tiếp mũi thứ hai. Vị ấy không sân hận với khổ, không hoan hỷ dục lạc, vì biết rõ có lối xuất ly khổ thọ ngoài dục lạc; vị ấy như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ. Nhờ vậy ba tùy miên không tồn tại, và vị ấy thọ lãnh các cảm thọ "không bị trói buộc". Kinh kết bằng những bài kệ: bậc trí tuệ đa văn không bị lạc khổ chi phối; giữa bậc trí và phàm phu, sai biệt ấy rất lớn. Bài học cho huynh trưởng và đoàn sinh: đau nơi thân, mất mát, thất bại là mũi tên thứ nhất — có thể không tránh được. Nhưng oán trách, sợ hãi kéo dài, tự dằn vặt là mũi tên thứ hai do chính mình bắn. Tu tập chánh niệm nơi thọ là để thôi bắn mũi tên thứ hai.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Câu hỏi mở đầu: phàm phu và Thánh đệ tử khác nhau chỗ nào? — Thế Tôn nêu rằng cả kẻ vô văn phàm phu lẫn bậc Đa văn Thánh đệ tử đều cảm thọ lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, rồi hỏi: thế nào là đặc thù, thù thắng, sai biệt giữa hai hạng người ấy? (SN 36.6:1.1–1.3)
  • 2. Chư Tỷ-kheo thỉnh Thế Tôn giảng — "Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản…" (Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā …pe…) — đoạn công thức thỉnh pháp, được rút gọn trong kinh văn. (SN 36.6:1.4)
  • 3. Kẻ vô văn phàm phu: hai mũi tên, hai cảm thọ — Khi cảm xúc khổ thọ thì sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh; cảm giác hai cảm thọ: thân và tâm. Ví dụ người bị bắn mũi tên thứ nhất rồi lại bị bắn mũi tên thứ hai. (SN 36.6:1.5–1.13)
  • 4. Ba tùy miên tồn tại nơi phàm phu — Sân hận với khổ thọ nên sân tùy miên (paṭighānusaya) tồn tại; hoan hỷ dục lạc vì không thấy lối xuất ly nào khác ngoài dục lạc nên tham tùy miên (rāgānusaya) tồn tại; không như thật rõ biết tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly của các thọ nên vô minh tùy miên (avijjānusaya) tồn tại. Người ấy thọ lãnh mọi cảm thọ như người bị trói buộc, bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. (SN 36.6:1.14–1.25)
  • 5. Bậc Đa văn Thánh đệ tử: chỉ một mũi tên, một cảm thọ — Khi cảm xúc khổ thọ, vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh; cảm giác chỉ một cảm thọ về thân, không phải về tâm. Ví dụ người bị bắn một mũi tên nhưng không bị bắn tiếp mũi thứ hai. (SN 36.6:2.1–3.6)
  • 6. Ba tùy miên không tồn tại nơi Thánh đệ tử — Không sân hận với khổ thọ, không hoan hỷ dục lạc vì biết rõ có sự xuất ly khổ thọ ngoài dục lạc, và như thật rõ biết tập khởi, đoạn diệt, vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly của các thọ. Vị ấy thọ lãnh các cảm thọ không bị trói buộc, không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Kết luận: đó chính là sai biệt giữa hai hạng người. (SN 36.6:3.7–3.19)
  • 7. Phần kệ (Sagāthā) — Ba bài kệ kết: bậc trí tuệ đa văn không bị lạc khổ chi phối, sai biệt với phàm phu rất lớn; bậc đa văn tầm pháp thấy đời này đời sau, khả ái không phá tâm, bất khả ái không sân hận; tùy thuận hay đối nghịch đều tiêu tán, biết được con đường không cấu không sầu, chánh trí đoạn tái sanh. (SN 36.6:4.1–6.4)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 36.6:1.1–1.3
Assutavā, bhikkhave, puthujjano sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati. Sutavā, bhikkhave, ariyasāvako sukhampi vedanaṁ vedayati, dukkhampi vedanaṁ vedayati, adukkhamasukhampi vedanaṁ vedayati. Tatra, bhikkhave, ko viseso ko adhippayāso kiṁ nānākaraṇaṁ sutavato ariyasāvakassa assutavatā puthujjanenā'ti?
Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ. Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
"Mendicants, an unlearned ordinary person feels pleasant, painful, and neutral feelings. A learned noble disciple also feels pleasant, painful, and neutral feelings. What, then, is the difference between a learned noble disciple and an ordinary unlearned person?"
SN 36.6:1.5–1.7
Assutavā, bhikkhave, puthujjano dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno socati kilamati paridevati urattāḷiṁ kandati sammohaṁ āpajjati. So dve vedanā vedayati—kāyikañca, cetasikañca.
Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
When an unlearned ordinary person experiences painful physical feelings they sorrow and wail and lament, beating their breast and falling into confusion. They experience two feelings: physical and mental.
SN 36.6:1.8–1.10
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya. Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ vijjheyya. Evañhi so, bhikkhave, puriso dvisallena vedanaṁ vedayati.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên.
It's like a person who is struck with an arrow, only to be struck with a second arrow. That person experiences the feeling of two arrows.
SN 36.6:1.14–1.19
Tassāyeva kho pana dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno paṭighavā hoti. Tamenaṁ dukkhāya vedanāya paṭighavantaṁ, yo dukkhāya vedanāya paṭighānusayo, so anuseti. So dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno kāmasukhaṁ abhinandati. Taṁ kissa hetu? Na hi so, bhikkhave, pajānāti assutavā puthujjano aññatra kāmasukhā dukkhāya vedanāya nissaraṇaṁ, tassa kāmasukhañca abhinandato, yo sukhāya vedanāya rāgānusayo, so anuseti.
Cảm xúc bởi khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với khổ thọ được tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại.
When they're touched by painful feeling, they resist it. The underlying tendency for aversion toward painful feeling underlies that. When touched by painful feeling they look forward to enjoying sensual pleasures. Why is that? Because an unlearned ordinary person doesn't understand any escape from painful feeling apart from sensual pleasures. Since they look forward to enjoying sensual pleasures, the underlying tendency to greed for pleasant feeling underlies that.
SN 36.6:1.25
Ayaṁ vuccati, bhikkhave, 'assutavā puthujjano saññutto jātiyā jarāya maraṇena sokehi paridevehi dukkhehi domanassehi upāyāsehi, saññutto dukkhasmā'ti vadāmi.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.
They're called an unlearned ordinary person who is attached to rebirth, old age, and death, to sorrow, lamentation, pain, sadness, and distress. They are attached to suffering, I say.
SN 36.6:2.1–2.3
Sutavā ca kho, bhikkhave, ariyasāvako dukkhāya vedanāya phuṭṭho samāno na socati, na kilamati, na paridevati, na urattāḷiṁ kandati, na sammohaṁ āpajjati. So ekaṁ vedanaṁ vedayati—kāyikaṁ, na cetasikaṁ.
Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ, thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
When a learned noble disciple experiences painful physical feelings they don't sorrow or wail or lament, beating their breast and falling into confusion. They experience one feeling: physical, not mental.
SN 36.6:3.1–3.3
Seyyathāpi, bhikkhave, purisaṁ sallena vijjheyya. Tamenaṁ dutiyena sallena anuvedhaṁ na vijjheyya. Evañhi so, bhikkhave, puriso ekasallena vedanaṁ vedayati.
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ cảm giác cảm thọ của một mũi tên.
It's like a person who is struck with an arrow, but was not struck with a second arrow. That person would experience the feeling of one arrow.
SN 36.6:4.1–4.4 (kệ)
Na vedanaṁ vedayati sapañño,
Sukhampi dukkhampi bahussutopi;
Ayañca dhīrassa puthujjanena,
Mahā viseso kusalassa hoti.
Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc khổ không chi phối,
Giữa kẻ trí, phàm phu,
Thiện sai biệt rất lớn.
A wise and learned person does not not feel / the feeling of pleasure and pain. / This is the great difference of skill / between the attentive one and the ordinary.
SN 36.6:5.1–6.4 (kệ)
Saṅkhātadhammassa bahussutassa,
Vipassato lokamimaṁ parañca;
Iṭṭhassa dhammā na mathenti cittaṁ,
Aniṭṭhato no paṭighātameti.

Tassānurodhā athavā virodhā,
Vidhūpitā atthagatā na santi;
Padañca ñatvā virajaṁ asokaṁ,
Sammā pajānāti bhavassa pāragū'ti.
Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy đời này, đời sau,
Ái pháp không phá tâm,
Không ái, không sân hận.

Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu tán, diệt, không còn,
Vị ấy biết con đường,
Ðường không cấu, không sầu,
Chánh trí, đoạn tái sanh,
Ðến được bờ giác ngộ.
A learned person who has appraised the teaching / discerns this world and the next. / Desirable things don't disturb their mind, / nor are they repelled by the undesirable. // Both favoring and opposing / are cleared and ended, and are no more. / Knowing the stainless, sorrowless state, / they who have gone beyond rebirth understand rightly.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sallamũi tênTên kinh Sallasutta = Kinh Mũi Tên. dvisalla: hai mũi tên; ekasalla: một mũi tên.
vedanāthọ, cảm thọBa loại: lạc thọ (sukhā), khổ thọ (dukkhā), bất khổ bất lạc thọ (adukkhamasukhā).
assutavā puthujjanokẻ vô văn phàm phuNgười phàm chưa được nghe học Chánh pháp.
sutavā ariyasāvakobậc Đa văn Thánh đệ tửVị Thánh đệ tử đã được nghe học nhiều Chánh pháp.
kāyika / cetasikathuộc về thân / thuộc về tâmHai cảm thọ của phàm phu; Thánh đệ tử chỉ có kāyika.
anusayatùy miên (khuynh hướng ngủ ngầm)Bản Việt HT. Minh Châu dùng chữ 'tùy miên'.
paṭighānusayasân tùy miênNgủ ngầm nơi khổ thọ.
rāgānusayatham tùy miênNgủ ngầm nơi lạc thọ.
avijjānusayavô minh tùy miênNgủ ngầm nơi bất khổ bất lạc thọ.
nissaraṇasự xuất ly, lối thoátPhàm phu không thấy lối xuất ly khổ thọ nào ngoài dục lạc (kāmasukha).
assāda / ādīnavavị ngọt / sự nguy hiểmCùng với samudaya (tập khởi), atthaṅgama (đoạn diệt), nissaraṇa (xuất ly) làm thành năm điều phải như thật rõ biết về thọ.
saññutta / visaññuttabị trói buộc / không bị trói buộcCách thọ lãnh cảm thọ của phàm phu và của Thánh đệ tử.
kāmasukhadục lạcKhoái lạc giác quan mà phàm phu chạy theo để trốn khổ.

Câu mở đầu đã đặt vấn đề rất chính xác. Cả người phàm và bậc Thánh đều cảm thọ lạc, khổ, và bất khổ bất lạc. Kinh không nói bậc Thánh khỏi cảm thọ. Rồi Ngài hỏi: vậy khác nhau ở đâu?

Người phàm gặp khổ thọ thì làm gì. Kinh kể rất cụ thể: sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Và kết: “Vị ấy cảm giác hai cảm thọ — cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.”

Ví dụ mũi tên nằm ngay sau đó. Như có người bị bắn một mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Mũi tên thứ nhất là cái đã xảy ra; mũi tên thứ hai là cái mình tự thêm vào.

Bậc Thánh thì sao — và đây là chỗ phải đọc kỹ. Không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. “Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ — cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.”

Xin nói cho thật rõ, vì chỗ này hay bị dạy hỏng. Kinh không nói bậc Thánh không đau. Kinh nói bậc Thánh không thêm cái khổ thứ hai vào cái khổ thứ nhất. Đau vẫn đau. Chỉ là không đau hai lần.

Và kinh nói cả cái bẫy ở phía lạc thọ. Người phàm khi cảm khổ thọ thì hoan hỷ đối với dục lạcchạy đi tìm cái vui để khỏi phải chịu cái khổ. Kinh gọi đó là không thấy lối thoát nào khác. Đây là mô tả rất chính xác về cách người ta xử nỗi đau.

Vì sao bài này hợp cho đoàn. Trẻ em bị ngã, bị bạn chọc, bị điểm kém — mũi tên thứ nhất có thật. Cái ta dạy được là đừng bắn thêm mũi tên thứ hai: đừng kể đi kể lại, đừng nghĩ “ai cũng ghét mình”. Đây là bài kinh dùng được ngay trong ngày.

Chỗ chúng tôi đính chính. Bản tra cứu ghi “thời không sầu muộn, không than vãn…”. Bản in của Hoà thượng Minh Châu ghi “không sầu muộn, không than vãn…”. Đã khôi phục theo bản in.

  • “Tu rồi thì hết đau.” Kinh nói bậc Thánh vẫn cảm thọ khổ về thân.
  • “Mũi tên thứ hai là do người khác bắn.” Chính mình bắn — bằng sầu muộn, than vãn.
  • “Đi tìm niềm vui để quên khổ là cách hay.” Kinh gọi đó là không thấy lối thoát nào khác.
  • Ngành Oanh. Hai mũi tên — vẽ ra giấy. Cái thứ nhất ai bắn? Cái thứ hai ai bắn?
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể một chuyện bực trong tuần, rồi tách ra: đâu là mũi tên thứ nhất, đâu là thứ hai.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm MN 63cùng hình ảnh, khác chủ đề.
  • Mũi tên thứ nhất là gì, thứ hai là gì?
  • Vì sao nói bậc Thánh vẫn đau?
  • Vì sao chạy tìm niềm vui lại là chưa thấy lối thoát?
  • Tuần này em đã bắn mũi tên thứ hai lần nào chưa?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.