G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 33.1
Ngài Không Bác Bỏ Một Thuyết Nào Cả

Kinh Vô Tri

Aññāṇasutta — SN 33.1 · Tương Ưng Vacchagotta · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Vacchagotta

Một du sĩ hỏi câu mà người nào chịu suy nghĩ rồi cũng sẽ hỏi: vì sao trên đời lắm chủ thuyết chống nhau đến vậy, và vì sao người ta ôm chúng chặt đến vậy? Đức Phật KHÔNG bác bỏ một thuyết nào cả. Ngài chỉ ra MỘT chỗ không được biết.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Uẩn, chương 33 (Tương Ưng Vacchagotta), bài mở đầu; cả chương 55 bài
  • Vacchagotta là ai — một du sĩ ngoại đạo xuất hiện nhiều lần trong kinh tạng, và lần nào cũng hỏi những câu khó nhất
  • Cả chương lặp cùng một câu hỏi 55 lần, đổi uẩn và đổi chữ (vô tri · không thấy · không chứng đạt…)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Du sĩ ngoại đạo Vacchagotta đi đến Thế Tôn, chào hỏi thân hữu, ngồi xuống một bên và hỏi: “Do nhân gì, do duyên gì, thưa Tôn giả Gotama, một số tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời?” Rồi ông kể ra, và danh sách ấy chính là mười câu hỏi lớn mà các trường phái thời ấy tranh cãi nhau — cũng là mười câu mà kinh tạng gọi là những vấn đề không được Đức Phật trả lời. Xin để ý cấu trúc danh sách: ba cặp đối nhau (thường / không thường · hữu biên / vô biên · sinh mạng và thân thể là một / là khác), rồi một bộ BỐN về Như Lai sau khi chết (có · không · vừa có vừa không · không có cũng không không). Ba lần hai, cộng với bốn, là mười. Và câu đáp của Đức Phật là chỗ đáng kinh ngạc: “Do VÔ TRI đối với SẮC, này Vaccha, do vô tri đối với SẮC TẬP KHỞI, do vô tri đối với SẮC ĐOẠN DIỆT, do vô tri đối với CON ĐƯỜNG ĐƯA ĐẾN SẮC ĐOẠN DIỆT — cho nên có những tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời.” Ngài không bác bỏ thuyết nào. Ngài không nói thuyết nào đúng thuyết nào sai. Ngài không lập một thuyết thứ mười một. Ngài chỉ nói: chúng khởi lên vì MỘT chỗ không được biết — và chỗ ấy hoá ra không nằm ngoài vũ trụ, mà nằm ngay trong cái thân tâm này: sắc, và sự tập khởi của sắc, và sự đoạn diệt của sắc, và con đường đưa đến sự đoạn diệt ấy. Bốn điều ấy chính là Bốn Sự Thật áp vào một uẩn. Và cả chương 55 bài lặp lại đúng lối ấy trên đủ năm uẩn, đổi qua nhiều chữ khác nhau — vô tri, không thấy, không hiện quán, không chứng đạt, không thâm nhập… Nghĩa là bài kinh chuyển toàn bộ câu hỏi từ chỗ NGOÀI KIA về chỗ NGAY ĐÂY. Câu hỏi “vũ trụ có vô biên không?” được trả lời bằng: ông chưa biết cái thân này sinh ra từ đâu và diệt đi thế nào.

Mười tà kiến Vacchagotta kể raBa cặp đối nhau, cộng một bộ bốn

  1. Thế giới là thường còn
  2. Thế giới là không thường còn
  3. Thế giới hữu biên
  4. Thế giới vô biên
  5. Sinh mạng và thân thể là một
  6. Sinh mạng và thân thể là khác
  7. Như Lai CÓ tồn tại sau khi chết
  8. Như Lai KHÔNG tồn tại sau khi chết
  9. Như Lai CÓ và KHÔNG tồn tại sau khi chết
  10. Như Lai KHÔNG có và KHÔNG không tồn tại sau khi chết

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Bài này ngắn nên chúng tôi chép TRỌN.

SN 33.1:1.4–1.5 ⭐ (câu hỏi và mười tà kiến)
“ko nu kho, bho gotama, hetu, ko paccayo, yānimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti— sassato lokoti vā, asassato lokoti vā, antavā lokoti vā, anantavā lokoti vā, taṁ jīvaṁ taṁ sarīranti vā, aññaṁ jīvaṁ aññaṁ sarīranti vā, hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, hoti ca na ca hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā, neva hoti na na hoti tathāgato paraṁ maraṇāti vā”ti?
—Do nhân gì, do duyên gì, này Tôn giả Gotama, một số tà kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời: “Thế giới là thường còn” hay “Thế giới là không thường còn”; hay “Thế giới hữu biên” hay “Thế giới vô biên”; hay “Sinh mạng và thân thể là một” hay “Sinh mạng và thân thể là khác”; hay “Như Lai có tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại sau khi chết” hay “Như Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết”?
“What is the cause, worthy Gotama, what is the reason why these various misconceptions arise in the world? That is: the cosmos is eternal, or not eternal, or finite, or infinite; the soul and the body are one and the same, or the soul is one thing, the body another; after death, a realized one still exists, or no longer exists, or both still exists and no longer exists, or neither still exists nor no longer exists.”
SN 33.1:1.6–1.7 ⭐ (câu đáp)
“Rūpe kho, vaccha, aññāṇā, rūpasamudaye aññāṇā, rūpanirodhe aññāṇā, rūpanirodhagāminiyā paṭipadāya aññāṇā; evamimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti—
—Do vô tri đối với sắc, này Vaccha, do vô tri đối với sắc tập khởi, do vô tri đối với sắc đoạn diệt, do vô tri đối với con đường đưa đến sắc đoạn diệt, cho nên có những (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời…
“Vaccha, it is because of not knowing form, its origin, its cessation, and the practice that leads to its cessation that these various misconceptions arise in the world.
SN 33.1:1.10 (câu chốt)
Ayaṁ kho, vaccha, hetu, ayaṁ paccayo, yānimāni anekavihitāni diṭṭhigatāni loke uppajjanti…
Do nhân này, do duyên này, này Vaccha, có một số (tà) kiến sai khác như thế này khởi lên ở đời…
This is the cause, this is the reason.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aññāṇavô tri — sự KHÔNG BIẾTtên bài kinh; không phải “biết sai”, mà là “chưa biết”
diṭṭhigatatà kiến, kiến chấp đã thành nếpnghĩa đen: “cái đã đi vào thành một cái thấy”
sassata · asassatathường còn · không thường còncặp thứ nhất
antavā · anantavāhữu biên · vô biêncặp thứ hai
taṁ jīvaṁ taṁ sarīraṁsinh mạng và thân thể là mộtcặp thứ ba
hoti tathāgato paraṁ maraṇāNhư Lai có tồn tại sau khi chếtmở đầu bộ BỐN — bốn khả năng, không sót khả năng nào
samudaya · nirodhatập khởi · đoạn diệthai chữ của Bốn Sự Thật
nirodhagāminī paṭipadācon đường đưa đến đoạn diệtvế thứ tư

Xin bắt đầu từ chính DANH SÁCH, vì nó là bản đồ những câu hỏi loài người không thôi hỏi.

Vũ trụ có vĩnh cửu không? Nó có biên giới không? Linh hồn với thân xác là một hay khác? Chết rồi thì sao?

Hai ngàn năm trăm năm rồi, VẪN LÀ NHỮNG CÂU ẤY. Chỉ đổi từ ngữ, không đổi câu hỏi.

Xin để ý bộ BỐN ở cuối được dựng thế nào: CÓ · KHÔNG · VỪA CÓ VỪA KHÔNG · KHÔNG CÓ CŨNG KHÔNG KHÔNG. Bốn khả năng, không chừa khả năng nào.

Bây giờ tới câu đáp. Và điều làm nó phi thường là những gì nó KHÔNG làm.

Ngài KHÔNG bác bỏ thuyết nào. KHÔNG nói thuyết nào đúng. KHÔNG lập một thuyết thứ mười một.

Chỗ ấy đáng ngồi lại mà nghĩ, vì tranh luận trên đời thường KHÔNG diễn ra như vậy.

Ngài ĐỔI ĐỀ TÀIkhông phải để né, mà vì ĐỀ TÀI ẤY ĐANG ĐẶT SAI CHỖ.

“Do VÔ TRI đối với SẮC, đối với SẮC TẬP KHỞI, đối với SẮC ĐOẠN DIỆT, đối với CON ĐƯỜNG đưa đến sắc đoạn diệt.”

Xin đọc kỹ. Câu hỏi là về VŨ TRỤ. Câu đáp là về CÁI THÂN NÀY.

Và bốn điều ấy chính là BỐN SỰ THẬT, áp vào một uẩn: cái này là gì · nó từ đâu tới · nó hết cách nào · con đường nào đưa tới chỗ hết.

Nghĩa là lời chẩn bệnh ở đây là: những chủ thuyết lớn là thứ cái tâm dựng lên KHI NÓ CHƯA NHÌN CÁI GẦN NHẤT.

Người chưa hiểu nổi cái thân mình thì với tay đi tìm một lý thuyết về vũ trụ. Xin thưa, đó là điều rất người, và rất dễ nhận ra nơi chính mình.

Xin nói một lời dè chừng, vì bài kinh này rất dễ bị bẻ thành lời chê việc học hỏi.

Đức Phật KHÔNG nói những câu hỏi ấy là ngu ngốc, cũng KHÔNG nói hỏi là sai.

Ngài chỉ nêu NGUYÊN NHÂN: chúng khởi lên do KHÔNG BIẾT. Và “không biết” là một điều kiện cần gỡ, không phải một cái tội đáng trách.

Và đó cũng là lý do Ngài rất từ tốn với Vacchagottangười cứ trở lại hỏi mãi những câu ấy, và được trả lời mãi.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng.

Các em hỏi ĐÚNG những câu ấy, và hỏi rất thành thật. “Vũ trụ có tận cùng không?” “Chết rồi đi đâu?”

Bài kinh này cho mình một cách trả lời KHÔNG gạt câu hỏi đi, mà cũng KHÔNG giả vờ biết.

Cứ nhẹ nhàng xoay lại: “Còn cái thân này thì mình biết gì về nó? Nó từ đâu tới? Nó hết bằng cách nào?” Đó là câu hỏi trả lời được, và trả lời xong thì câu kia tự nhẹ đi.

  • “Đức Phật bác bỏ các thuyết ấy.” Ngài KHÔNG bác thuyết nào. Ngài nêu NGUYÊN NHÂN khiến chúng khởi lên.
  • “Vậy hỏi là dở.” Vô tri được nêu như một điều kiện cần gỡ, không phải một lỗi đáng trách — và Vacchagotta hỏi hoài vẫn được trả lời hoài.
  • “Ngài đổi đề tài để né.” Ngài đặt lại đề tài cho đúng chỗ: bốn điều Ngài nêu chính là Bốn Sự Thật áp vào chính uẩn của mình.
  • “Chỉ thuyết đầu là đáng kể.” Danh sách dựng thành ba cặp đối nhau cộng một bộ bốnđủ mười, không sót khả năng nào.
  • Ngành Oanh. Chưa dạy bài này. Nhưng khi các em hỏi câu lớn, hãy đáp bằng một điều nhỏ mà thật — đúng cách Đức Phật làm.
  • Ngành Thiếu. Viết mười tà kiến lên bảng. Hỏi: ngày nay người ta còn cãi nhau về câu nào? Các em sẽ thấy gần như câu nào cũng còn.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Tập cách xoay câu hỏi mà KHÔNG gạt nó đi. Và bàn: vì sao trả lời “tôi không biết” lại tốt hơn dựng một thuyết thứ mười một?
  • Kể mười tà kiến, và nói danh sách ấy được dựng theo hình dáng nào.
  • Đức Phật đã KHÔNG làm những gì?
  • Ngài nêu ra bốn điều gì thay vào đó?
  • Vì sao câu đáp nói về cái thân này chứ không nói về vũ trụ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài — bài ngắn nên chép đủ. Cả chương 33 có 55 bài. Một chỗ ba bản không khớp về SỐ MỤC, xin ghi rõ: nguyên văn Pāli và bản Anh đều kể ĐỦ MƯỜI tà kiến (bộ bốn cuối là: hoti · na hoti · hoti ca na ca hoti · neva hoti na na hoti), nhưng bản điện tử tiếng Việt in THIẾU một mục — chỉ có chín, bỏ mất “Như Lai có và không tồn tại sau khi chết”. Chúng tôi đếm theo Pāli (2/3 bản khớp) và ghi đủ mười trong bảng, giữ nguyên bản Việt thiếu mục ở phần trích để bác đối chiếu được. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 33.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.