G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 29–32
Bốn Chương Ngắn, Một Điểm Đáng Học

Bốn Cõi Phi Nhân

SN 29 · 30 · 31 · 32 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộSN 29–32

Bốn chương nói về những loài mà phần đông người đọc sẽ không nghĩ tới lần thứ hai: loài rồng, kim xí điểu, càn-thát-bà, thần mây. Chúng con gom vào một trang vì chúng dùng chung một công thức — và công thức ấy nói một điều khá cụ thể về HẠNG NGƯỜI sanh vào những chỗ ấy.

ChươngPāliTên ViệtSố bài
SN 29NāgasaṃyuttaTương Ưng Loài Rồng50 bài
SN 30SupaṇṇasaṃyuttaTương Ưng Kim Xí Điểu46 bài
SN 31GandhabbakāyasaṃyuttaTương Ưng Càn-Thát-Bà112 bài
SN 32ValāhakasaṃyuttaTương Ưng Thần Mây57 bài
  • Cả bốn nằm trong Thiên Uẩn, xen giữa những chương giáo lý lớn
  • Cộng lại 50 + 46 + 112 + 57 = 265 bàigần như toàn bộ là chuỗi lặp
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Mỗi chương mở đầu bằng một lời phân loại rất gọn. Có bốn cách sanh của loài rồng: từ TRỨNG sanh, từ THAI sanh, từ SỰ ẨM ƯỚT sanh, HOÁ sanh. Chương kế tiếp nói y hệt như vậy về kim xí điểu. Hai chương sau kể tên các hạng chư thiên trú trong hương thơm, và các hạng thần mây — thần mây lạnh, thần mây nóng, và các loại khác. Nếu chỉ có thế thì bốn chương này chỉ là một bản kê các loài, và người đọc thời nay đọc xong sẽ để đó. Nhưng rồi có một vị Tỳ-kheo đến hỏi Thế Tôn một câu, và chính câu hỏi ấy làm cho bốn chương có nội dung: “Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung được sanh cọng trú với các loài rồng từ trứng sanh?” Và câu đáp gồm ba phần, theo đúng thứ tự. Phần thứ nhất — và đây là chỗ đáng học nhất của cả bốn chương. “Ở đây có loại chúng sanh làm HAI HẠNH về THÂN, làm HAI HẠNH về LỜI NÓI, làm HAI HẠNH về Ý.” Chữ Pāli là dvayakārīngười làm CẢ HAI THỨ. Không phải người ác. Cũng không phải người thiện. Là người làm lẫn lộn cả hai, ở cả ba cửa: thân, khẩu, ý. Phần thứ hai. “Chúng NGHE NÓI như sau: ‘Các loài rồng từ trứng sanh thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc’.” Rồi chúng khởi lên mong ước: “Ôi, mong rằng sau khi thân hoại mạng chung, ta được sanh cọng trú với các loài rồng ấy!” Phần thứ ba. “Chúng BỐ THÍ đồ ăn.” Rồi kinh kể tiếp: đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, hương, hương liệu xoa bóp, ngoạ cụ, nhà cửa, đèn dầu. Và kết: “Sau khi thân hoại mạng chung, chúng được sanh cọng trú với các loài rồng từ trứng sanh.” Ba phần ấy — hạnh lẫn lộn + lời nghe được + lòng mong ước + việc bố thí — được lặp lại qua hàng trăm bài, đổi loài, đổi cách sanh, đổi món đồ đem cho. Đó là toàn bộ nội dung của 265 bài kinh.

Công thức chung của cả bốn chươngBa phần, theo đúng thứ tự trong kinh

PāliNội dung
1dvayakārīLàm HAI HẠNH về thân, về lời, về ý — lẫn lộn thiện và ác
2tassa sutaṁ hotiNGHE NÓI cõi ấy thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, nhiều lạc — rồi KHỞI MONG ƯỚC được sanh về đó
3so annaṁ detiBỐ THÍ — đồ ăn, đồ uống, vải, xe, vòng hoa, hương, ngoạ cụ, nhà cửa, đèn dầu

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 29.1:1.2–1.4 (bốn cách sanh)
“Catasso imā, bhikkhave, nāgayoniyo. Katamā catasso? Aṇḍajā nāgā, jalābujā nāgā, saṁsedajā nāgā, opapātikā nāgā—
—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sanh của các Nāga. Thế nào là bốn? Nāga từ trứng sanh, Nāga từ thai sanh, Nāga từ sự ẩm ướt sanh, Nāga hoá sanh.
“Mendicants, dragons reproduce in these four ways. What four? Dragons are born from eggs, from a womb, from moisture, or spontaneously.
SN 30.1:1.2–1.4 (chương kế tiếp, y hệt)
“Catasso imā, bhikkhave, supaṇṇayoniyo … Aṇḍajā supaṇṇā, jalābujā supaṇṇā, saṁsedajā supaṇṇā, opapātikā supaṇṇā—
—Này các Tỷ-kheo, có bốn loại sanh của các Kim xí điểu … từ trứng sanh, từ thai sanh, từ sự ẩm ướt sanh, hoá sanh.
“Mendicants, phoenixes reproduce in these four ways … from eggs, from a womb, from moisture, or spontaneously.
SN 29.11–20:1.2 (câu hỏi làm nên nội dung)
“ko nu kho, bhante, hetu, ko paccayo, yena midhekacco kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjatī”ti?
—Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, ở đây một số (chúng sanh), sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh?
“Sir, what is the cause, what is the reason why someone, when their body breaks up, after death, is reborn in the company of the egg-born dragons?”
SN 29.11–20:2.1 ⭐ (chỗ đáng học nhất)
“Idha, bhikkhu, ekacco kāyena dvayakārī hoti, vācāya dvayakārī, manasā dvayakārī.
—Ở đây, này Tỷ-kheo, có loại (chúng sanh) làm hai hạnh về thân, làm hai hạnh về lời nói, làm hai hạnh về ý.
“Mendicant, it’s when someone does both kinds of deeds by body, speech, and mind.
SN 29.11–20:2.2–2.5 (nghe nói, rồi mong ước)
Tassa sutaṁ hoti: ‘aṇḍajā nāgā dīghāyukā vaṇṇavanto sukhabahulā’ti. Tassa evaṁ hoti: ‘aho vatāhaṁ kāyassa bhedā paraṁ maraṇā aṇḍajānaṁ nāgānaṁ sahabyataṁ upapajjeyyan’ti.
Chúng nghe nói như sau: “Các Nāga từ trứng sanh, thọ mạng lâu dài, nhan sắc thù thắng, thọ hưởng nhiều lạc”. Chúng suy nghĩ như sau: “Ôi, mong rằng, sau khi thân hoại mạng chung, chúng ta được sanh cọng trú với các Nāga từ trứng sanh!”
And they’ve heard: ‘The egg-born dragons are long-lived, beautiful, and very happy.’ They think: ‘If only, when my body breaks up, after death, I would be reborn in the company of the egg-born dragons!’
SN 29.11–20:2.6 (và bố thí)
So annaṁ deti … pānaṁ … vatthaṁ … yānaṁ … mālaṁ … gandhaṁ … vilepanaṁ … seyyaṁ … āvasathaṁ … padīpeyyaṁ deti.
Chúng bố thí đồ ăn … đồ uống … vải mặc … xe cộ … vòng hoa … hương … hương liệu xoa bóp … ngoạ cụ … nhà cửa … đèn dầu.
They give food … drink … clothing … vehicles … garlands … perfumes … ointments … beds … houses … lamps.
SN 32.1:1.4–1.5 (thần mây)
Katame ca, bhikkhave, valāhakakāyikā devā? Santi, bhikkhave, sītavalāhakā devā …
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là chư Thiên thuộc thân các thần mây? Này các Tỷ-kheo, có các chư Thiên thần mây lạnh …
And what are the gods of the thundercloud host? There are gods of the cool thunderclouds …
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dvayakārīngười làm HAI HẠNH — lẫn lộn thiện và ácdvaya = hai, cả đôi; chữ quan trọng nhất của cả bốn chương
nāgarồng, loài rắn thầnSujato dịch dragon
supaṇṇakim xí điểu — loài chim thầnSujato dịch phoenix; bản Việt để nguyên “Kim xí điểu”
gandhabbacàn-thát-bà — chư thiên trú nơi hươnggandha = hương
valāhakathần mâycó thần mây lạnh, thần mây nóng…
aṇḍaja · jalābuja · saṁsedaja · opapātikatừ trứng · từ thai · từ ẩm ướt · hoá sanhbốn cách sanh, dùng chung cho nhiều loài
sahabyataṁ upapajjatiđược sanh cọng trú với…nghĩa đen: sanh vào chỗ ở CHUNG với
dīghāyuka vaṇṇavanta sukhabahulathọ mạng lâu dài · nhan sắc thù thắng · nhiều lạcba điều nghe được khiến người ta mong ước

Xin nói thành thật về bốn chương này trước đã.

Đọc như một bản kê các loài, thì với người đọc ngày nay chúng KHÔNG nói được gì — và chúng con không làm ra vẻ ngược lại.

Hai trăm sáu mươi lăm bài kinh, mà gần như toàn bộ là MỘT đoạn văn đổi một chữ.

Nhưng trong đó CÓ MỘT CÂU đáng giá bằng cả bộ, và câu ấy rất dễ đi lướt qua.

“Có loại chúng sanh làm HAI HẠNH về thân, HAI HẠNH về lời nói, HAI HẠNH về ý.”

KHÔNG phải người ác. KHÔNG phải người thiện. Là người LÀM CẢ HAIvà làm cả hai ở cả ba cửa.

Và nếu nói cho thật, thì đó là mô tả của gần như MỌI NGƯỜI mình biếtkể cả chính mình.

Rồi tới yếu tố thứ hai, và nó lạ hơn vẻ ngoài của nó: họ ĐÃ NGHE NÓI về cõi ấy.

Thọ mạng lâu dài. Nhan sắc thù thắng. Nhiều lạc. Có ai đó đã kể cho họ nghe — và họ MUỐN.

Rồi tới yếu tố thứ ba, và đây là chỗ đáng làm cho một người Phật tử dừng lại.

Họ BỐ THÍ. Đồ ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, vòng hoa, đèn dầu. Bố thí là việc THIỆN.

Vậy bức tranh là: HẠNH LẪN LỘN + MỘT MONG ƯỚC CỤ THỂ + BỐ THÍ THẬT SỰvà người ấy tới đúng chỗ mình đã mong.

Câu ấy lặng lẽ nói một điều về việc MỘT LÒNG MONG ƯỚC LÀM GÌ VỚI MỘT VIỆC THIỆN.

Việc bố thí là thật. Nhưng nó CÓ NHẮM. Và nó tới đúng chỗ nó nhắm.

Bây giờ xin vạch ranh giới, vì đây là đề tài rất dễ nói quá lời.

Điều kinh NÓI là những gì chúng con vừa chép ở trên. Kinh KHÔNG nói những cõi ấy là chỗ không nên tới.

Kinh KHÔNG đem chúng ra so với thân người, và KHÔNG nói lòng mong ước ấy là sai.

Nói thêm những điều ấy là chúng con TỰ THÊM VÀOnên chúng con không nói.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và đây là điều duy nhất trong bốn chương này dùng được ngay Chủ Nhật.

Hỏi các em: những việc tốt các em làm ĐANG NHẮM VÀO ĐÂU?

Không hỏi các em có làm việc tốt không — phần lớn đều có làm. Mà hỏi: việc ấy đang được NHẮM về phía nào?

  • “Họ sanh vào đó vì họ ác.” Kinh nói ngược lại: họ làm HAI HẠNH, và họ có BỐ THÍ thật sự.
  • “Kinh chê những cõi ấy.” Kinh không chê. Kinh nêu nhân duyên rồi dừng lại — lời phán xét là của mình thêm vào.
  • “265 bài là 265 bài giảng.” Đây là chuỗi lặp: một công thức, nhiều loài, nhiều món đồ đem cho.
  • “Bố thí thì bao giờ cũng đưa lên cao.” Ở đây bố thí là thật — và nó rơi đúng chỗ nó đã nhắm tới.
  • Ngành Oanh. Bỏ qua phần các loài. Chỉ hỏi: “Khi con giúp bạn, con có mong bạn trả lại gì không?”
  • Ngành Thiếu. Dạy đúng một chữ: dvayakārīNGƯỜI LÀM HAI HẠNH. Hỏi: chữ ấy có tả đúng mình không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn thẳng: việc thiện của mình đang được NHẮM về phía nào? Và một việc thiện có nhắm thì khác một việc thiện không nhắm ở chỗ nào?
  • Công thức chung gồm ba phần nào?
  • Chữ dvayakārī nghĩa là gì, và nó tả hạng người nào?
  • Việc bố thí trong đó có phải là bố thí thật không?
  • Kinh KHÔNG nói gì về những cõi ấy?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Số bài của bốn chương đã đếm lại theo danh mục: 50 + 46 + 112 + 57 = 265.

Xin ghi rõ mức đối chiếu của chúng tôi ở trang này, vì nó THẤP HƠN các trang khác: chúng tôi đã đối chiếu ba bản trên bài mở đầu của cả bốn chương và trên trọn công thức ba phần ở nhóm SN 29.11–20. Chúng tôi KHÔNG đọc hết 265 bài, nên câu “công thức ấy lặp lại qua hàng trăm bài” xin bác đọc ở mức đã kiểm trên mẫu, chưa kiểm toàn bộ. Phần bàn về việc “bố thí có nhắm”cách đọc của chúng tôi, dựa trên đúng ba yếu tố mà kinh nêu; kinh KHÔNG khen chê những cõi ấy, và chúng tôi không thêm lời khen chê nào. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng: SN 29.1 · SN 29.11–20 · SN 30.1 · SN 31.1 · SN 32.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.