G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 19.1
“Ta Cũng Đã Thấy — Và Ta Đã Không Nói Ra”

Kinh Bộ Xương

Aṭṭhisutta — SN 19.1 · Tương Ưng Lakkhaṇa · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộTương Ưng Lakkhaṇa

Hai vị Tỳ-kheo xuống núi đi khất thực. Một vị mỉm cười ở một chỗ nào đó, và không chịu nói vì sao cho tới khi cả hai về trước mặt Đức Phật. Điều ngài đã thấy thì rợn người. Nhưng câu đáng học nhất của bài kinh là câu của Đức Phật — và câu ấy nói về SỰ IM LẶNG.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Thiên Nhân Duyên, chương 19 (Tương Ưng Lakkhaṇa), bài mở đầu; cả chương 21 bài
  • Cả 21 bài cùng một khuôn — chỉ đổi điều được trông thấynghiệp cũ của chúng sanh ấy; chính kinh văn ghi “hãy kể mọi bài như vậy”
  • Nơi chốn — Rājagaha, đường xuống núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Tôn giả Lakkhaṇa và Tôn giả Mahāmoggallāna trú trên núi Linh Thứu. Buổi sáng, ngài Moggallāna rủ ngài Lakkhaṇa vào thành Rājagaha khất thực. Đang xuống núi, tới một chỗ nọ, ngài Moggallāna mỉm cười. Ngài Lakkhaṇa hỏi: do nhân gì, do duyên gì Hiền giả mỉm cười? Và câu đáp đầu tiên đã đáng để ý: “Này Hiền giả, KHÔNG PHẢI LÚC để hỏi câu ấy. Hãy hỏi tôi khi ở trước mặt Thế Tôn.” Khất thực xong, ăn xong, hai vị về đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống. Ngài Lakkhaṇa hỏi lại, ngay trước mặt Đức Phật. Ngài Moggallāna kể: “Khi tôi từ núi bước xuống, tôi thấy MỘT BỘ XƯƠNG đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó — và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.” Ngài kể tiếp ý nghĩ của mình: “Thật vi diệu thay! Một kẻ có tên như vậy lại trở thành một chúng sanh như vậy, lại được một tự ngã như vậy!” Rồi Đức Phật nói với các Tỳ-kheo, và phần còn lại của bài kinh là lời Ngài. Trước hết Ngài xác nhận: “Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí là các đệ tử. Vì rằng một đệ tử sẽ biết, sẽ thấy, sẽ chứng thực như vậy.” Rồi tới câu mà con nghĩ là câu quan trọng nhất của cả chương: “Xưa kia, này các Tỷ-kheo, TA ĐÃ THẤY chúng sanh ấy — NHƯNG TA KHÔNG CÓ NÓI. Nếu Ta có nói, các người khác cũng KHÔNG TIN Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ LÂU DÀI.” Sau cùng Ngài mới cho biết chúng sanh ấy là ai: “Chúng sanh ấy là một ĐỒ TỂ GIẾT TRÂU BÒ ở Rājagaha này. Do nghiệp ấy, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm — và với QUẢ THUẦN THỤC CÒN LẠI, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.”

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 19.1:1.7–1.11 ⭐ (mỉm cười, và hoãn câu trả lời)
Atha kho āyasmā mahāmoggallāno gijjhakūṭā pabbatā orohanto aññatarasmiṁ padese sitaṁ pātvākāsi … “Akālo kho, āvuso lakkhaṇa, etassa pañhassa. Bhagavato maṁ santike etaṁ pañhaṁ pucchā”ti.
Tôn giả Mahà Moggallāna khi từ núi Gijjhakùta bước xuống, đi ngang qua một chỗ, liền mỉm cười … —Này Hiền giả Lakkhaṇa, không phải thời để hỏi câu hỏi này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này trước mặt Thế Tôn.
As Mahāmoggallāna was descending from Vulture’s Peak Mountain he smiled at a certain spot … “Reverend Mark, it’s the wrong time for this question. Ask me when we’re in the Buddha’s presence.”
SN 19.1:3.1 ⭐ (điều ngài trông thấy)
“Idhāhaṁ, āvuso, gijjhakūṭā pabbatā orohanto addasaṁ aṭṭhikasaṅkhalikaṁ vehāsaṁ gacchantiṁ.
—Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một bộ xương đang đi trên trời. Các con kên kên, các con quạ, các con chim ưng đuổi theo nó, cắn mổ xương sườn nó, cắn xé nó, và nó kêu lên những tiếng kêu đau đớn.
“Just now, reverend, as I was descending from Vulture’s Peak Mountain I saw a skeleton flying through the air…
SN 19.1:4.2–4.3 (Đức Phật xác nhận)
“cakkhubhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti; ñāṇabhūtā vata, bhikkhave, sāvakā viharanti, yatra hi nāma sāvako evarūpaṁ ñassati vā dakkhati vā sakkhiṁ vā karissati.
—Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử! Sống với nhau như thực trí, này các Tỷ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.
“Mendicants, there are disciples who live full of vision and knowledge, since a disciple knows, sees, and witnesses such a thing.
SN 19.1:4.4–4.6 ⭐ (câu quan trọng nhất)
Pubbeva me so, bhikkhave, satto diṭṭho ahosi, api cāhaṁ na byākāsiṁ. Ahañcetaṁ byākareyyaṁ, pare ca me na saddaheyyuṁ. Ye me na saddaheyyuṁ, tesaṁ taṁ assa dīgharattaṁ ahitāya dukkhāya.
Xưa kia, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy chúng sanh ấy nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.
Formerly, I too saw that being, but I did not speak of it. For if I had spoken of it others would not have believed me, which would be for their lasting harm and suffering.
SN 19.1:4.7–4.8 (nghiệp cũ)
Eso, bhikkhave, satto imasmiṁyeva rājagahe goghātako ahosi. So tassa kammassa vipākena … niraye paccitvā tasseva kammassa vipākāvasesena evarūpaṁ attabhāvapaṭilābhaṁ paṭisaṁvedayatī”ti.
Chúng sanh ấy, này các Tỷ-kheo, là một đồ tể giết trâu bò ở Rājagaha này. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục … và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy.
That being used to be a cattle butcher right here in Rājagaha. As a result of that deed he burned in hell … Now he experiences the residual result of that deed in such an incarnation.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
aṭṭhikasaṅkhalikabộ xương, khung xươngtên bài kinh
sitaṁ pātvākāsimỉm cười, để lộ nụ cườikhông phải cười vui — là dấu hiệu vừa trông thấy điều gì
akālo etassa pañhassaKHÔNG PHẢI LÚC để hỏi câu ấyngài hoãn lại cho tới trước mặt Đức Phật
cakkhubhūta · ñāṇabhūtađã thành con mắt · đã thành trílời Đức Phật xác nhận
na byākāsiṁTa đã KHÔNG nói rachữ bản lề của cả bài kinh
na saddaheyyuṁhọ sẽ không tinlý do của sự im lặng
goghātakađồ tể giết trâu bò
vipākāvasesaQUẢ THUẦN THỤC CÒN LẠIphần quả còn sót lại sau khi phần nặng đã trổ

Đây là bài kinh nhiều người đọc thấy khó chịu, và con xin không làm ra vẻ ngược lại.

Nó tả một chúng sanh đang chịu khổ, do một vị có khả năng thấy được những điều ấy trông thấy. Đó là bề mặt.

Nhưng xin nhìn xem bài kinh THẬT SỰ dùng chữ vào đâu — vì KHÔNG phải vào chỗ rùng rợn.

Thứ nhất: ngài Moggallāna TỪ CHỐI trả lời giữa đường. “Không phải lúc. Hãy hỏi tôi trước mặt Thế Tôn.”

Một lời như thế KHÔNG được nói riêng, giữa hai người, không ai chứng. Ngài đợi tới chỗ có thể được xác nhận hoặc bị bác.

Thứ hai — và đây là câu đáng mang về.

“TA CŨNG ĐÃ THẤY chúng sanh ấy. NHƯNG TA KHÔNG CÓ NÓI.”

Đức Phật ĐÃ THẤY. Và Ngài đã CHỌN IM LẶNG.

Và lý do Ngài nêu KHÔNG phải để giữ mình. Lý do là VÌ NGƯỜI NGHE.

“Các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ LÂU DÀI.”

Xin đọc kỹ, vì đó là một bài học VỀ CÁCH DẠY.

Một điều CÓ THẬT, nói với người chưa sẵn sàng nhận, thì KHÔNG giúp được họ. Nó làm họ mất lòng tinvà mất lòng tin thì thiệt hại lâu dài.

Nên Đức Phật ĐỢIđợi tới khi một vị đệ tử tự mình trông thấy, và hỏi giữa chúngrồi điều ấy mới được nói ra.

Và xin thưa thêm một chữ, vì nó rất dễ bỏ qua mà lại quan trọng.

Kinh nói vipākāvasesa — “QUẢ THUẦN THỤC CÒN LẠI”. Tức là PHẦN CÒN SÓT, sau khi phần nặng đã trổ xong.

Nghĩa là ngay cả chỗ ấy cũng KHÔNG được tả là vô tận. Nó là phần CÒN LẠIvà cái gì còn lại thì cũng có lúc hết.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em Huynh Trưởng, và là lời rất thực tế về NHỮNG GÌ MÌNH KỂ LẠI.

Người ta rất dễ đem những chuyện như thế này ra DOẠ cho các em ngoan.

Nhưng bài kinh này làm NGƯỢC LẠI. Nó cho thấy Đức Phật TỪ CHỐI kểđúng vì nó sẽ không được tin.

Nếu Đức Phật còn cân nhắc người nghe trước khi nói, thì mình cũng cân nhắc được.

  • “Bài này cốt kể chuyện rùng rợn.” Bài kinh dùng phần lớn số chữ để nói KHI NÀO và VỚI AI thì mới nên nói điều ấy.
  • “Đức Phật dùng chuyện này để doạ người.” Ngài nói rõ Ngài ĐÃ THẤY và ĐÃ CHỌN KHÔNG NÓI.
  • “Khổ ấy là vô tận.” Chữ kinh dùng là vipākāvasesaQUẢ CÒN LẠI, phần còn sót sau khi phần nặng đã trổ.
  • “Ngài Moggallāna khoe thần thông.” Ngài từ chối nói cho tới khi ở trước mặt Đức Phật, nơi điều ấy có thể được xác nhận.
  • Ngành Oanh. KHÔNG dạy bài này. Không hợp lứa tuổi — và chính bài kinh dạy mình cân nhắc người nghe.
  • Ngành Thiếu. Chỉ dạy câu của Đức Phật về sự im lặng, đừng kể phần trông thấy. Hỏi: vì sao nói một điều thật cho người chưa tin lại có hại?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Cả bài kinh là bài học về việc KHÔNG NÊN KỂ GÌ. Bàn: mình có hay đem chuyện quả báo ra doạ các em không, và điều đó có giúp được các em không?
  • Vì sao ngài Moggallāna không chịu trả lời giữa đường?
  • Đức Phật nói Ngài đã làm gì, và vì sao?
  • Vì sao nói một điều CÓ THẬT lại có thể làm hại người nghe?
  • Chữ “quả thuần thục còn lại” hàm ý điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Đã đối chiếu ba bản trên TRỌN bài. Cả chương 19 có 21 bài, và chính kinh văn ghi dòng chỉ dẫn “hãy kể mọi bài như vậy” (đoạn 4.9) — 21 bài cùng một khuôn, chỉ đổi điều trông thấy và nghiệp cũ. Một chỗ xin ghi rõ: tên vị Tôn giả là Lakkhaṇa; bản Anh của Sujato dịch nghĩa tên ấy thành “Mark” theo lối dịch tên riêng của ông, chúng tôi giữ nguyên dạng Pāli. Muốn đọc nguyên văn ba thứ tiếng, xin xem SN 19.1. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.