G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 15.3
Tương Ưng Vô Thỉ · Nhiều Hơn Nước Bốn Biển

Kinh Nước Mắt

Assu Sutta — SN 15.3 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Nước Mắt

Đức Phật hỏi chư Tỳ-kheo một câu đo lường: cái nào nhiều hơn — nước mắt các ông đã chảy trong vòng luân hồi, hay nước trong bốn biển lớn? Chư Tỳ-kheo đáp đúng, và Ngài xác nhận.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Vô Thỉ (SN 15), bài 3
  • Tên chươngAnamatagga nghĩa là “không tìm ra khởi đầu”
  • Cách lập luậnmột phép so sánh có thể hình dung được, không phải lý luận trừu tượng

Kinh Nước Mắt là bài kinh thứ ba trong Tương Ưng Vô Thỉ. Tại Sāvatthi, Thế Tôn mở đầu bằng câu tuyên bố quen thuộc của cả chương: "Vô thỉ là luân hồi này" — không thể nêu rõ khởi điểm của các chúng sanh bị vô minh che lấp, bị tham ái trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi. Từ đó, Thế Tôn đặt một câu hỏi cho chúng Tỷ-kheo: cái nào nhiều hơn — dòng nước mắt đã tuôn chảy vì than van khóc lóc, do phải hội ngộ với những gì không ưa và phải biệt ly với những gì mình thích, trong suốt thời gian dài lưu chuyển luân hồi; hay là nước trong bốn biển lớn? Chúng Tỷ-kheo trả lời rằng, theo như các vị hiểu Pháp Thế Tôn dạy, chính dòng nước mắt ấy là nhiều hơn, chứ không phải nước trong bốn biển lớn. Thế Tôn khen "Lành thay, lành thay" và xác nhận câu trả lời ấy đúng. Tiếp theo, Thế Tôn kể ra những cảnh ngộ đã lặp đi lặp lại vô số lần trong thời gian dài: chịu đựng mẹ chết, cha chết, anh chết, chị chết, con trai chết, con gái chết, tai họa về bà con, tai họa về tiền của, tai họa về bệnh tật. Mỗi lần như vậy đều là hội ngộ điều không ưa, biệt ly điều mình thích, đều là than van khóc lóc — và nước mắt ấy nhiều hơn nước bốn biển. Kinh kết bằng lời khuyến giáo: chừng ấy là vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để từ bỏ (ly tham), vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành. Điểm cần nhấn cho đoàn sinh: bài kinh không nhằm gieo bi quan, mà nhằm đánh thức tâm nhàm chán sanh tử để tinh tấn tu tập.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn trú ở Sāvatthi (Sāvatthiyaṁ viharati). Không nêu thêm nhân duyên nào khác.
  • 2. Lời tuyên bố về luân hồi vô thỉ — "Vô thỉ là luân hồi này" — khởi điểm không thể nêu rõ đối với các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái kiết sử trói buộc, phải lưu chuyển luân hồi.
  • 3. Câu hỏi của Thế Tôn: nước mắt hay nước bốn biển? — Thế Tôn hỏi chúng Tỷ-kheo: dòng nước mắt tuôn chảy vì than van khóc lóc, do hội ngộ điều không ưa và biệt ly điều mình thích trong thời gian dài lưu chuyển luân hồi — hay nước trong bốn biển lớn, cái nào nhiều hơn?
  • 4. Câu trả lời của chúng Tỷ-kheo — Theo như các vị hiểu Pháp Thế Tôn dạy, chính dòng nước mắt ấy là nhiều hơn, chứ không phải nước trong bốn biển lớn.
  • 5. Thế Tôn ấn khả — "Lành thay, lành thay" — Thế Tôn khen các Tỷ-kheo đã hiểu đúng Pháp, và lặp lại lời xác nhận.
  • 6. Liệt kê các nỗi mất mát trong thời gian dài — Trong thời gian dài, các Tỷ-kheo đã chịu đựng: mẹ chết, cha chết, anh chết, chị chết, con trai chết, con gái chết, tai họa về bà con, tai họa về tiền của, tai họa về bệnh tật. (Bản Pali dùng lối tỉnh lược "…pe…" cho các mục giữa.)
  • 7. Lý do và lời kết khuyến tu — "Vì cớ sao? Vô thỉ là luân hồi này…" — và kết: chừng ấy là vừa đủ để nhàm chán, vừa đủ để từ bỏ (ly tham), vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 1 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
SN 15.3, đoạn 1.1
Sāvatthiyaṁ viharati.
Trú ở Sāvatthi.
At Sāvatthī.
SN 15.3, đoạn 1.2–1.3
Anamataggoyaṁ, bhikkhave, saṁsāro. Pubbā koṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi.
Mendicants, this transmigration has no known beginning. No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.
SN 15.3, đoạn 1.4
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave, katamaṁ nu kho bahutaraṁ, yaṁ vā vo iminā dīghena addhunā sandhāvataṁ saṁsarataṁ amanāpasampayogā manāpavippayogā kandantānaṁ rodantānaṁ assu passannaṁ paggharitaṁ, yaṁ vā catūsu mahāsamuddesu udakanti?
Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
What do you think? Which is more: the flow of tears you've shed while roaming and transmigrating for such a very long time—weeping and wailing from being coupled with the unloved and separated from the loved—or the water in the four oceans?
SN 15.3, đoạn 1.5
Yathā kho mayaṁ, bhante, bhagavatā dhammaṁ desitaṁ ājānāma, etadeva, bhante, bahutaraṁ … na tveva catūsu mahāsamuddesu udakanti.
Cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van…
As we understand the Buddha's teaching, the flow of tears we've shed while roaming and transmigrating is more than the water in the four oceans.
SN 15.3, đoạn 2.1
Sādhu sādhu, bhikkhave, sādhu kho me tumhe, bhikkhave, evaṁ dhammaṁ desitaṁ ājānātha.
Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo! Lành thay, này các Tỷ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Good, good, mendicants! It's good that you understand my teaching like this.
SN 15.3, đoạn 2.3
Dīgharattaṁ vo, bhikkhave, mātumaraṇaṁ paccanubhūtaṁ;
Trong một thời gian dài, này các Tỷ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
For a long time you've undergone the death of a mother …
SN 15.3, đoạn 2.5–2.12
pitumaraṇaṁ … bhātumaraṇaṁ … bhaginimaraṇaṁ … puttamaraṇaṁ … dhītumaraṇaṁ … ñātibyasanaṁ … bhogabyasanaṁ … rogabyasanaṁ paccanubhūtaṁ.
…cha chết… anh chết… chị chết… con trai chết… con gái chết… tai họa về bà con… tai họa về tiền của… tai họa về bệnh tật.
father … brother … sister … son … daughter … loss of relatives … loss of wealth … or loss through illness.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
SN 15.3, đoạn 2.15
yāvañcidaṁ, bhikkhave, alameva sabbasaṅkhāresu nibbindituṁ, alaṁ virajjituṁ, alaṁ vimuccitunti.
Cho đến như vậy, này các Tỷ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.
This is quite enough for you to become disillusioned, dispassionate, and freed regarding all conditions.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
assunước mắtTên kinh: Assusutta = Kinh Nước Mắt.
anamataggavô thỉ — không thể biết được khởi điểmHT. Thích Minh Châu dịch: "Vô thỉ là luân hồi này". Tên chương: Anamatagga Saṁyutta — Tương Ưng Vô Thỉ.
saṁsāraluân hồi, sự lưu chuyển sanh tử
pubbā koṭi na paññāyatikhởi điểm (đầu mối trước) không thể nêu rõ
avijjānīvaraṇabị vô minh che đậy / ngăn chenīvaraṇa = triền cái, sự che lấp.
taṇhāsaṁyojanabị tham ái trói buộc (kiết sử tham ái)
amanāpasampayogahội ngộ với những gì không ưaTương ứng "oán tắng hội khổ".
manāpavippayogabiệt ly với những gì mình thíchTương ứng "ái biệt ly khổ".
catūsu mahāsamuddesu udakaṁnước trong bốn biển lớn
byasanatai họa, sự tán thấtñātibyasana: tai họa về bà con; bhogabyasana: tai họa về tiền của; rogabyasana: tai họa về bệnh tật.
sabbasaṅkhāratất cả các hành (mọi pháp hữu vi)
nibbidā (nibbindituṁ)nhàm chán, yếm ly
virāga (virajjituṁ)ly tham, từ bỏ
vimutti (vimuccituṁ)giải thoát
sādhulành thay, tốt lành

Vì sao lại là nước mắt. Chương này có nhiều bài đo vòng luân hồi bằng những thứ khác — xương, sữa mẹ, máu. Nhưng nước mắt là thứ ai cũng biết. Không cần tin luân hồi mới thấy được sức nặng của hình ảnh.

Kinh kể ra vì sao khóc. Không nói chung chung. Kinh kể: mất mẹ, mất cha, mất anh chị em, mất con, mất người thân, mất của cải, mắc bệnh. Đây là danh sách rất cụ thể — và ai đọc cũng thấy mình trong đó ít nhất một dòng.

Chữ vô thỉ mới là chỗ chính. Anamataggakhông tìm ra khởi đầu. Kinh không nói luân hồi có điểm bắt đầu ở đâu đó xa lắm; kinh nói không tìm ra được điểm ấy. Hai câu này khác nhau.

Kết luận không phải là buồn. Sau khi đo xong, kinh không dừng ở chỗ thương cảm. Nó kết: vì vậy hãy nhàm chán, hãy ly tham, hãy giải thoát. Con số lớn ấy là để làm động lực, không phải để làm nản.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Bài này có ba đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in — trong đó một đoạn bản Việt bỏ mất vế mở đầu “Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo…”. Phần Pāli và tiếng Anh thì khớp nguyên văn.

  • “Kinh dạy đời là bể khổ, nên chán.” Kinh kết bằng giải thoát, không bằng chán nản. Nhàm chán ở đây là hết bị mê hoặc, không phải rầu rĩ.
  • “Vô thỉ nghĩa là rất lâu về trước.” Nghĩa là không tìm ra khởi đầu — một câu nói về giới hạn của việc truy tìm.
  • “Phải tin luân hồi mới học được bài này.” Danh sách lý do khóc thì đời nào cũng đúng.
  • Ngành Oanh. Cân nhắc. Bài nói nhiều về mất mát. Với các em nhỏ, chỉ lấy hình ảnh nước mắt và biển, đừng kể danh sách.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: vì sao Đức Phật chọn nước mắt mà không chọn thứ khác?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chữ nhàm chán (nibbidā) — rất dễ dạy sai thành bi quan. Nên bàn kỹ trước khi đem ra dạy.
  • Vì sao Đức Phật đo bằng nước mắt?
  • Vô thỉ — “không tìm ra khởi đầu” khác “rất lâu về trước” thế nào?
  • Vì sao kinh kết bằng giải thoát chứ không bằng thương cảm?
  • Nhàm chán khác chán nản ở đâu?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.