G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Tương Ưng Bộ · SN 12.15
Tương Ưng Nhân Duyên · Chánh Kiến Là Gì

Kinh Kaccānagotta

Kaccānagotta Sutta — SN 12.15 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTương Ưng BộKinh Kaccānagotta

Tôn giả Kaccānagotta hỏi một câu rất gọn: chánh kiến, chánh kiến — cho đến thế nào mới là chánh kiến? Bài kinh ngắn, nhưng là một trong những bài được trích dẫn nhiều nhất khi bàn về giáo lý.

  • Bộ — Tương Ưng Bộ, Tương Ưng Nhân Duyên (SN 12), bài 15
  • Người hỏi — Tôn giả Kaccānagotta (Ca-Chiên-Diên)
  • Bài đi cặpSN 12.2 về duyên khởi

Đây là một bài kinh rất ngắn nhưng được xem là một trong những bài kinh quan trọng bậc nhất về chánh kiến. Tôn giả Kaccānagotta hỏi Đức Phật: người ta thường nói "chánh kiến, chánh kiến", vậy cho đến mức nào mới gọi là chánh kiến? Đức Phật trả lời rằng thế giới này phần lớn nương tựa vào hai cực đoan: "có" và "không có". Nghĩa là người đời hoặc chấp rằng mọi sự là thật có, thường còn (thường kiến); hoặc chấp rằng mọi sự là không có, chết là hết (đoạn kiến). Cả hai đều là chỗ mắc kẹt. Đức Phật chỉ ra lối thoát bằng chính cái thấy như thật: ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi (thấy các pháp do duyên mà sanh) thì không còn chấp thế giới là "không có"; ai thấy như chơn thế giới đoạn diệt (thấy các pháp do duyên hết mà diệt) thì không còn chấp thế giới là "có". Như vậy chánh kiến không phải là chọn một trong hai quan điểm, mà là thấy được tiến trình sanh–diệt do duyên. Kế đến, Thế Tôn nói phần lớn thế giới bị trói buộc bởi chấp thủ phương tiện và thiên kiến. Người nào tâm không trú trước, không chấp thủ, không còn nghĩ "Đây là tự ngã của tôi", thì khi khổ sanh chỉ thấy là khổ sanh, khi khổ diệt chỉ thấy là khổ diệt — không nghi ngờ, không phân vân, không phải nương vào ai khác mà biết. Cho đến như vậy mới gọi là chánh tri kiến. Cuối cùng, Đức Phật tổng kết: "Tất cả là có" là một cực đoan, "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai; xa lìa hai cực đoan ấy, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo — và trung đạo ấy chính là giáo lý Duyên khởi: vô minh duyên hành, hành duyên thức… toàn bộ khổ uẩn tập khởi; do đoạn diệt vô minh nên hành diệt, thức diệt… toàn bộ khổ uẩn đoạn diệt. Với Huynh trưởng, bài kinh này cho thấy "trung đạo" không chỉ là tránh khổ hạnh và hưởng thụ, mà còn là trung đạo về cái thấy: không rơi vào thường kiến, cũng không rơi vào đoạn kiến.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và câu hỏi của Tôn giả Kaccānagotta — Tại Sāvatthī. Tôn giả Kaccānagotta đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi một bên và hỏi: "Chánh kiến, chánh kiến" được nói đến như vậy; cho đến như thế nào là chánh kiến? (đoạn 1.1–1.4)
  • 2. Thế gian nương tựa hai cực đoan: có và không có — Thế Tôn dạy thế giới phần lớn y chỉ vào hai cực đoan atthitā (có) và natthitā (không có); ai thấy như chơn thế giới tập khởi thì không chấp "không có", ai thấy như chơn thế giới đoạn diệt thì không chấp "có". (đoạn 2.1–2.3)
  • 3. Không chấp thủ, không nghĩ "tự ngã của tôi" — định nghĩa chánh kiến — Thế giới bị trói buộc bởi chấp thủ phương tiện và thiên kiến; ai không chấp thủ, không nghĩ "Đây là tự ngã của tôi", thấy khổ sanh chỉ là sanh, khổ diệt chỉ là diệt, không nghi ngờ, không duyên vào ai khác — cho đến như vậy là chánh tri kiến. (đoạn 2.4–2.7)
  • 4. Hai cực đoan và trung đạo là Duyên khởi — "Tất cả là có" là một cực đoan, "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai; xa lìa hai cực đoan, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo, tức chuỗi mười hai duyên khởi tập khởi và đoạn diệt. (đoạn 3.1–3.9)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SN 12.15:1.3–1.4
'sammādiṭṭhi sammādiṭṭhī'ti, bhante, vuccati. Kittāvatā nu kho, bhante, sammādiṭṭhi hotī"ti?
"Chánh kiến, chánh kiến", bạch Thế Tôn được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, cho đến như thế nào là chánh kiến?
"Sir, they speak of this thing called 'right view'. How is right view defined?"
SN 12.15:2.1
Dvayanissito khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena—atthitañceva natthitañca.
Này Kaccāyana, thế giới này phần lớn y chỉ vào hai cực đoan này: có và không có.
"Kaccāna, this world mostly relies on the duality of existence and non-existence.
SN 12.15:2.2–2.3
Lokasamudayaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke natthitā sā na hoti. Lokanirodhaṁ kho, kaccāna, yathābhūtaṁ sammappaññāya passato yā loke atthitā sā na hoti.
Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới tập khởi, vị ấy không chấp nhận thế giới là không có. Này Kaccāyana, ai với chánh trí tuệ thấy như chơn thế giới đoạn diệt, vị ấy không chấp nhận thế giới là có.
But for one who truly sees the origin of the world with right understanding, the concept of non-existence regarding the world does not occur. And for one who truly sees the cessation of the world with right understanding, the concept of existence regarding the world does not occur.
SN 12.15:2.4
Upayupādānābhinivesavinibandho khvāyaṁ, kaccāna, loko yebhuyyena.
Này Kaccāyana, chấp thủ phương tiện và bị thiên kiến trói buộc, phần lớn thế giới này là vậy.
This world is for the most part shackled by getting involved, grasping, and insisting.
SN 12.15:2.5–2.6
Tañcāyaṁ upayupādānaṁ cetaso adhiṭṭhānaṁ abhinivesānusayaṁ na upeti na upādiyati nādhiṭṭhāti: 'attā me'ti. 'Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati, dukkhaṁ nirujjhamānaṁ nirujjhatī'ti na kaṅkhati na vicikicchati aparapaccayā ñāṇamevassa ettha hoti.
Và ai với tâm không trú trước, không chấp thủ phương tiện ấy, không chấp thủ thiên chấp tùy miên ấy, không có chấp trước, không trú trước, vị ấy không có nghĩ: "Ðây là tự ngã của tôi". Khi khổ sanh thời xem là sanh, khi khổ diệt thời xem là diệt; vị ấy không có nghi ngờ, không có phân vân, không duyên vào ai khác, trí ở đây là của vị ấy.
But if, when it comes to this getting involved & grasping, mental fixation, and insistence & underlying tendency, they are not attracted, do not grasp, and do not fixate on the thought, "my self", they'll have no doubt or uncertainty that what arises is just suffering arising, and what ceases is just suffering ceasing. Their knowledge of this is independent of others.
SN 12.15:2.7
Ettāvatā kho, kaccāna, sammādiṭṭhi hoti.
Cho đến như vậy, này Kaccāyana, là chánh tri kiến.
This is how right view is defined.
SN 12.15:3.1–3.3
'Sabbamatthī'ti kho, kaccāna, ayameko anto. 'Sabbaṁ natthī'ti ayaṁ dutiyo anto. Ete te, kaccāna, ubho ante anupagamma majjhena tathāgato dhammaṁ deseti:
"Tất cả là có", này Kaccāyana, là một cực đoan. "Tất cả là không có" là cực đoan thứ hai. Xa lìa hai cực đoan ấy, này Kaccāyana, Như Lai thuyết pháp theo trung đạo.
'All exists': this is one extreme. 'All does not exist': this is the second extreme. Avoiding these two extremes, the Realized One teaches by the middle way:
SN 12.15:3.4–3.9
'avijjāpaccayā saṅkhārā; saṅkhārapaccayā viññāṇaṁ …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti. Avijjāya tveva asesavirāganirodhā saṅkhāranirodho; saṅkhāranirodhā viññāṇanirodho …pe… evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī'ti.
Vô minh duyên hành; hành duyên thức … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi. Nhưng do ly tham, đoạn diệt vô minh một cách hoàn toàn, nên các hành diệt. Do các hành diệt nên thức diệt … (như trên) … Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
'Ignorance is a requirement for choices. Choices are a requirement for consciousness. … That is how this entire mass of suffering originates. When ignorance fades away and ceases with no residue left behind, choices cease. When choices cease, consciousness ceases. … That is how this entire mass of suffering ceases.'
Chữ PāliNghĩaGhi chú
sammādiṭṭhichánh kiến, cái thấy chân chánhChi phần thứ nhất của Bát Chánh Đạo; ở đây được định nghĩa bằng cái thấy Duyên khởi, vượt ngoài hai cực đoan.
atthitātính có, sự hiện hữuCực đoan thứ nhất. Kinh văn chỉ nói atthitā — “tính có”. Việc đồng nhất cực đoan này với thường kiến (sassatadiṭṭhi) là cách hiểu theo Chú giải, không có trong chính văn.
natthitātính không có, sự không hiện hữuCực đoan thứ hai. Kinh văn chỉ nói natthitā — “tính không có”. Việc đồng nhất với đoạn kiến (ucchedadiṭṭhi) là cách hiểu theo Chú giải, không có trong chính văn.
antacực đoan, biên kiến"ubho ante anupagamma" = không đi đến hai cực đoan ấy.
majjhena (majjhimā paṭipadā)theo con đường giữa, trung đạoTrong kinh này trung đạo được chỉ thẳng là giáo lý Duyên khởi.
paṭiccasamuppādaDuyên khởi, lý duyên sinhChuỗi "vô minh duyên hành…" được nêu tóm lược trong kinh.
yathābhūtaṁnhư chơn, đúng như thật
sammappaññāchánh trí tuệ
lokasamudaya / lokanirodhathế giới tập khởi / thế giới đoạn diệt
upādānachấp thủBản Việt dịch cụm upayupādāna là "chấp thủ phương tiện".
abhinivesathiên chấp, cố chấp vào quan điểm
anusayatùy miên, khuynh hướng ngủ ngầm
attātự ngã"attā me" = "Đây là tự ngã của tôi".
dukkhakhổ"Dukkhameva uppajjamānaṁ uppajjati" — chỉ có khổ sanh khởi, không có ai sanh khởi.
aparapaccayā ñāṇatrí không do duyên vào người khác, tự mình biết
avijjā / saṅkhārā / viññāṇavô minh / hành / thứcBa chi đầu của mười hai nhân duyên.
dukkhakkhandhakhổ uẩn, khối khổ

Đức Phật không trả lời bằng một định nghĩa. Ngài mô tả cái sai trước: thế gian này phần lớn nương tựa hai cực đoantính "có" (atthitā) và tính "không có" (natthitā).

Rồi Ngài chỉ chỗ thoát khỏi cả hai. Ai với chánh trí tuệ thấy như thật sự tập khởi của thế gian thì không còn chấp "không có". Ai thấy như thật sự đoạn diệt của thế gian thì không còn chấp "có". Thấy sanh thì hết chấp đoạn; thấy diệt thì hết chấp thường.

Chỗ này rất chặt về mặt lý. Không phải chọn giữa hai cực đoan, cũng không phải dung hoà. Là thấy một điều làm cả hai cực đoan tự rụng.

Xin thưa cho rõ một chỗ. Bảng thuật ngữ thường ghi atthitā = thường kiến, natthitā = đoạn kiến. Chính văn kinh chỉ nói "tính có" và "tính không có"; việc đồng nhất với sassatadiṭṭhiucchedadiṭṭhicách hiểu theo Chú giải. Chúng tôi tách rõ hai lớp — đúng theo truyền thống, nhưng không phải lời kinh.

Rồi Ngài nói tiếp về chấp thủ. Thế gian bị trói buộc bởi phương tiện, chấp thủ và thiên chấp. Bậc Thánh đệ tử thì không chấp trước, không trú trước, và không nói "tự ngã của tôi". Vị ấy biết: khổ sanh thì sanh, khổ diệt thì diệt.

Và câu định nghĩa cuối. "Cho đến như vậy, này Kaccāna, là chánh tri kiến."chánh kiến không phải một mệnh đề để tin, mà là chỗ đứng không rơi vào hai cực đoan.

Rồi hai câu chốt rất mạnh. "Tất cả là có" — này Kaccāna, là một cực đoan. "Tất cả là không có" — là cực đoan thứ hai. Từ bỏ cả hai, Như Lai thuyết pháp theo con đường giữa — và con đường giữa ấy chính là mười hai nhân duyên.

Chi tiết ấy đáng nhớ. "Trung đạo" trong bài này không phải là "vừa phải, không cực đoan" theo nghĩa đạo đức. Nó là một cách nhìn: vô minh duyên hành, hành duyên thức… Duyên khởi chính là con đường giữa.

  • “Trung đạo là làm gì cũng vừa phải.” Ở bài này, trung đạo chính là duyên khởi — một cách nhìn.
  • “Chánh kiến là tin đúng giáo lý.” Kinh mô tả nó là chỗ đứng không rơi vào hai cực đoan.
  • “Atthitā nghĩa là thường kiến.” Chính văn chỉ nói tính có; cách hiểu kia là của Chú giải.
  • Ngành Oanh. Không nên dạy bài này.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: thấy một cái cây lớn lên rồi chết đi — điều đó bác được ý nghĩ nào?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đọc kèm SN 12.2. Nhấn: trung đạo ở đây là cách nhìn, không phải mức độ.
  • Hai cực đoan là gì?
  • Thấy gì thì hết chấp không có? Thấy gì thì hết chấp ?
  • Trung đạo trong bài này là gì?
  • Đâu là lời kinh, đâu là lời Chú giải?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.