G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 21
Trường Bộ Kinh · Gốc Của Hận Thù

Kinh Đế-Thích Sở Vấn

Sakkapañha Sutta — Trường Bộ 21 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Đế-Thích Sở Vấn

Vua trời Đế-Thích hỏi Đức Phật một câu mà cả loài người đều nên hỏi: chúng sanh ai cũng mong sống không hận thù, không thù địch, không não hại — vậy vì sao họ vẫn hận thù nhau? Đức Phật không trả lời bằng đạo đức. Ngài truy ngược từng bước, như một người lần theo sợi dây.

  • Bộ — Trường Bộ, DN 21
  • Nơi nói — hang Indasāla, núi Vediyaka, gần làng Ambasaṇḍā
  • Người hỏiSakka (Đế-Thích), vua cõi trời Ba Mươi Ba
  • Chuỗi truy ngược — hận thù ← tật đố & xan tham ← ưa ghét ← dục ← tầm ← vọng tưởng hý luận

Kinh Đế-thích Sở Vấn là bài kinh thứ 21 của Trường Bộ, ghi lại cuộc vấn đáp giữa Thiên chủ Sakka (vua trời Đế-thích) và Đức Phật tại hang Indasāla, núi Vediya, phía bắc làng Ambasaṇḍa gần thành Vương Xá. Mở đầu, nhạc thần Pañcasikha ôm đàn đến hát một bài ca tình yêu có xen lời tán thán Phật, Pháp, Tăng để làm Thế Tôn hoan hỷ; nhờ đó Sakka mới được vào yết kiến. Sakka kể chuyện tín nữ Gopikā nhờ tín tâm nơi Tam Bảo và giữ trọn giới hạnh mà được sanh Thiên, trong khi ba vị từng tu phạm hạnh lại sanh làm Càn-thát-bà hạ liệt — một bài học rất thiết thực cho người tu. Câu hỏi trung tâm, cũng là câu nổi tiếng nhất của kinh: vì sao các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn-thát-bà đều ao ước "chúng ta sống với nhau không hận thù", thế mà vẫn sống với nhau trong hận thù? Đức Phật đáp: do kiết sử tật đố và xan tham (issā-macchariya). Sakka hỏi tiếp, và Thế Tôn truy nguyên từng bậc: tật đố và xan tham do ưa ghét (piyāppiya) làm nhân duyên; ưa ghét do dục (chanda); dục do tầm (vitakka); tầm do các loại vọng tưởng hý luận (papañcasaññāsaṅkhā). Đây là một chuỗi nhân duyên tâm lý rất rõ: từ cái thấy phân biệt ưa - ghét mà sanh ganh tị, keo kiệt, rồi thành hận thù. Con đường đối trị: quán sát hỷ, ưu, xả — mỗi loại có hai thứ, loại nào khiến bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm thì phải tránh xa; loại nào ngược lại thì nên thân cận. Tiếp đó Thế Tôn dạy về biệt giải thoát luật nghi (thân hành, khẩu hành, tầm cầu) và hộ trì các căn, cũng theo nguyên tắc "nên thân cận / nên tránh xa" ấy. Cuối kinh, Sakka thưa rằng tham ái là bệnh tật, là mụn nhọt, là mũi tên; nhờ nghe pháp mà mũi tên nghi ngờ được nhổ. Ông kể sáu điều lợi ích của niềm hỷ lạc do nghe Chánh pháp, khác hẳn hỷ lạc do chiến thắng bằng gậy trượng đao kiếm. Khi lời tuyên thuyết được nói ra, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu khởi lên nơi Sakka cùng tám vạn chư Thiên.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Tụng phẩm I — Duyên khởi: Thiên chủ Sakka muốn yết kiến Thế Tôn — Thế Tôn trú tại hang Indasāla, núi Vediya, phía Bắc làng Ambasaṇḍa (Magadha). Sakka náo nức muốn chiêm ngưỡng Thế Tôn, cùng chư Thiên Tam thập tam thiên và Pañcasikha đi đến; hào quang chiếu sáng khiến dân làng kinh hãi.
  • Khúc ca của Pañcasikha (Pañcasikhagītagāthā) — Pañcasikha ôm đàn cầm hát bài kệ tán thán Phật, Pháp, Tăng, các bậc A-la-hán và ái dục — bài ca gởi Bhaddā Suriyavaccasā. Thế Tôn khen tiếng đàn và tiếng ca hòa hợp nhau.
  • Sakka đến yết kiến (Sakkūpasaṅkama) — Pañcasikha thay Sakka đảnh lễ; Thế Tôn chúc an lạc; Sakka cùng chư Thiên Tam thập tam thiên vào hang Indasāla đảnh lễ và đứng một bên; chỗ gồ ghề trở thành bằng phẳng, hang tối trở nên sáng.
  • Chuyện Gopikā (Gopakavatthu) — Sakka kể tín nữ Sakya tên Gopikā có tín tâm nơi Phật, Pháp, Tăng, đầy đủ giới hạnh, sau khi mạng chung sanh Thiên làm con của Sakka, tên Gopaka; còn ba vị từng tu phạm hạnh dưới Thế Tôn lại sanh vào chúng Càn-thát-bà hạ liệt. Bị Gopaka quở trách, hai vị tinh tấn trở lại và vượt lên trên chư Thiên Tam thập tam thiên. Kết thúc Tụng phẩm I.
  • Tụng phẩm II — Câu hỏi thứ nhất: kiết sử nào khiến chúng sanh hận thù — Sakka hỏi vì sao chúng sanh ao ước sống không hận thù mà vẫn sống trong hận thù; Thế Tôn đáp: do tật đố và xan tham (issāmacchariya).
  • Truy nguyên chuỗi nhân duyên: tật đố xan tham ← ưa ghét ← dục ← tầm ← vọng tưởng hý luận — Sakka hỏi tiếp từng bậc; Thế Tôn dạy tật đố xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, ưa ghét do dục, dục do tầm, tầm do các loại vọng tưởng hý luận.
  • Quán về thọ: hỷ, ưu, xả — hai loại (Vedanākammaṭṭhāna) — Con đường diệt trừ vọng tưởng hý luận: hỷ, ưu, xả mỗi thứ có hai loại — loại khiến bất thiện pháp tăng trưởng thiện pháp suy giảm thì tránh xa; loại ngược lại thì thân cận. Loại không câu hữu với tầm, với tứ thì thù thắng hơn.
  • Biệt giải thoát luật nghi (Pātimokkhasaṁvara) — Thân hành, khẩu hành và tầm cầu, mỗi loại có hai: nên thân cận hoặc nên tránh xa, theo tiêu chuẩn thiện pháp tăng trưởng hay suy giảm.
  • Hộ trì các căn (Indriyasaṁvara) — Sắc do mắt phân biệt, tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý — mỗi loại có hai: nên thân cận hoặc nên tránh xa. Sakka tự trình bày rộng nghĩa lời dạy tóm tắt và được Thế Tôn chấp nhận.
  • Các Sa-môn, Bà-la-môn không đồng một chí hướng, không đồng một cứu cánh — Vì thế giới gồm nhiều loại giới sai biệt, hữu tình thiên chấp một loại và nói "chỉ đây là sự thật, ngoài ra đều hư vọng". Chỉ những vị đã giải thoát tham ái mới đồng một cứu cánh, một an ổn, một phạm hạnh, một mục đích.
  • Tham ái là bệnh tật, là mụn nhọt, là mũi tên; Sakka kể chuyện hỏi các ngoại đạo — Sakka tán thán Thế Tôn đã nhổ mũi tên nghi ngờ; kể rằng các Sa-môn, Bà-la-môn khác không trả lời được, trái lại trở thành đệ tử của ông. Ông tự nhận là đệ tử Thế Tôn, đã chứng Dự lưu.
  • Sáu điều lợi ích của hỷ lạc do nghe Chánh pháp (Somanassapaṭilābhakathā) — Hỷ lạc do chiến thắng Asurà là do gậy trượng, đao kiếm đem lại, không đưa đến Niết-bàn; hỷ lạc do nghe Chánh pháp thì đưa đến yểm ly, ly dục, tịch diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn. Sakka nêu sáu điều lợi ích bằng kệ.
  • Kết kinh: Pháp nhãn khởi lên; duyên do tên kinh — Sakka cho Pañcasikha làm vua Càn-thát-bà và ban Bhaddā Suriyavaccasā; rồi lấy tay sờ đất, ba lần đọc kệ đảnh lễ Thế Tôn. Pháp nhãn thanh tịnh vô cấu khởi lên cho Sakka và tám vạn chư Thiên. Do vậy cuộc đối thoại này được gọi là Đế-thích sở vấn.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

DN 21, SC 55 (Tụng phẩm II, câu hỏi thứ nhất)
“Kiṁsaṁyojanā nu kho, mārisa, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te: ‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti?
—Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
“Good fellow, what fetters bind the gods, humans, titans, dragons, centaurs—and any of the other diverse creatures—so that, though they wish to be free of enmity, violence, hostility, and hate, they still have enmity, violence, hostility, and hate?”
DN 21, SC 57 (câu Thế Tôn trả lời)
“Issāmacchariyasaṁyojanā kho, devānaminda, devā manussā asurā nāgā gandhabbā ye caññe santi puthukāyā, te: ‘averā adaṇḍā asapattā abyāpajjā viharemu averino’ti iti ca nesaṁ hoti, atha ca pana saverā sadaṇḍā sasapattā sabyāpajjā viharanti saverino”ti.
—Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: "Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù". Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
“Lord of gods, the fetters of jealousy and stinginess bind the gods, humans, titans, dragons, centaurs—and any of the other diverse creatures—so that, though they wish to be free of enmity, violence, hostility, and hate, they still have enmity, violence, hostility, and hate.”
DN 21, SC 62 (tật đố, xan tham do ưa ghét)
“Issāmacchariyaṁ kho, devānaminda, piyāppiyanidānaṁ piyāppiyasamudayaṁ piyāppiyajātikaṁ piyāppiyapabhavaṁ; piyāppiye sati issāmacchariyaṁ hoti, piyāppiye asati issāmacchariyaṁ na hotī”ti.
- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
“The liked and the disliked, lord of gods, are the source of jealousy and stinginess. When the liked and the disliked exist there is jealousy and stinginess. When the liked and the disliked don’t exist there is no jealousy and stinginess.”
DN 21, SC 64 và SC 66 (ưa ghét do dục; dục do tầm)
“Piyāppiyaṁ kho, devānaminda, chandanidānaṁ chandasamudayaṁ chandajātikaṁ chandapabhavaṁ; chande sati piyāppiyaṁ hoti; chande asati piyāppiyaṁ na hotī”ti. … “Chando kho, devānaminda, vitakkanidāno vitakkasamudayo vitakkajātiko vitakkapabhavo; vitakke sati chando hoti; vitakke asati chando na hotī”ti.
- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt. […] - Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt.
“Desire is the source of what is liked and disliked.” … “Thought is the source of desire.”
DN 21, SC 68 (tầm do vọng tưởng hý luận)
“Vitakko kho, devānaminda, papañcasaññāsaṅkhānidāno papañcasaññāsaṅkhāsamudayo papañcasaññāsaṅkhājātiko papañcasaññāsaṅkhāpabhavo; papañcasaññāsaṅkhāya sati vitakko hoti; papañcasaññāsaṅkhāya asati vitakko na hotī”ti.
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt".
“Judgments driven by the proliferation of perceptions are the source of thoughts.”
DN 21, SC 71 (hai loại hỷ — pháp tu diệt trừ hý luận)
“Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ ‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā abhivaḍḍhanti, kusalā dhammā parihāyantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ na sevitabbaṁ. Tattha yaṁ jaññā somanassaṁ ‘imaṁ kho me somanassaṁ sevato akusalā dhammā parihāyanti, kusalā dhammā abhivaḍḍhantī’ti, evarūpaṁ somanassaṁ sevitabbaṁ. Tattha yañce savitakkaṁ savicāraṁ, yañce avitakkaṁ avicāraṁ, ye avitakke avicāre, te paṇītatare.”
Này Thiên chủ, Ta nói hỷ có hai loại, một loại phải thân cận, một loại phải tránh xa. Lời tuyên bố là như vậy. Do nhân duyên gì tuyên bố như vậy? Ở đây, loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp tăng trưởng, thiện pháp suy giảm", thời hỷ ấy cần phải tránh xa. Ở đây loại hỷ nào có thể biết được: "Khi tôi thân cận với hỷ này, bất thiện pháp suy giảm, thiện pháp tăng trưởng", thời hỷ ấy nên thân cận. Ở đây, có hỷ câu hữu với tầm, câu hữu với tứ; có hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ. Các loại hỷ không câu hữu với tầm, không câu hữu với tứ thì thù thắng hơn.
“Well, should you know of a happiness: ‘When I cultivate this kind of happiness, unskillful qualities grow, and skillful qualities decline.’ You should not cultivate that kind of happiness. Whereas, should you know of a happiness: ‘When I cultivate this kind of happiness, unskillful qualities decline, and skillful qualities grow.’ You should cultivate that kind of happiness. And that which is free of placing the mind and keeping it connected is better than that which still involves placing the mind and keeping it connected.”
DN 21, SC 109 (tham ái là bệnh tật, là mụn nhọt, là mũi tên)
—Bạch Thế Tôn, tham ái là bệnh tật, tham ái là mụn nhọt, tham ái là mũi tên, tham ái dắt dẫn con người tái sanh đời này, đời khác, khiến con người khi cao, khi thấp. Bạch Thế Tôn, trong khi các Sa môn, Bà la môn khác ngoài giáo phái của Ngài không cho con dịp để hỏi những câu hỏi, thời Thế Tôn lại trả lời những câu hỏi ấy cho con, giảng giải rất lâu cho con, khiến mũi tên nghi ngờ, do dự của con được Thế Tôn rút nhổ đi.
“Turbulence, sir, is a disease, a boil, a dart. Turbulence drags a person to be regenerated in one state of existence or another. That’s why a person finds themselves in states high and low. Elsewhere, among other ascetics and brahmins, I wasn’t even given a chance to ask these questions that the Buddha has answered. The dart of doubt and indecision has lain within me for a long time, but the Buddha has plucked it out.”
DN 21, SC 140 (kết kinh — pháp nhãn khởi lên)
Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne sakkassa devānamindassa virajaṁ vītamalaṁ dhammacakkhuṁ udapādi: “yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhamman”ti. … Tasmā imassa veyyākaraṇassa sakkapañhātveva adhivacananti.
Khi lời tuyên thuyết này được tụng đọc, pháp nhãn thanh tịnh vô cấu, khởi lên cho Thiên chủ Sakka: "Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt." Ngoài ra, tám vạn chư Thiên cũng chứng quả tương tợ. Ðó là những câu hỏi, Thiên chủ Sakka được mời hỏi và được Thế Tôn trả lời. Do vậy, cuộc đối thoại này cũng được gọi là Những Câu Hỏi Của Sakka (Ðế-thích sở vấn).
“And while this discourse was being spoken, the stainless, immaculate vision of the Dhamma arose in Sakka, lord of gods: ‘Everything that is liable to arise is liable to cease.’ And also for another 80,000 deities. … And that’s why the name of this discussion is ‘Sakka’s Questions’.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
Sakka devānamindaThiên chủ Đế-thích, vua trời Tam thập tam thiênBản Minh Châu giữ nguyên "Thiên chủ Sakka"; các danh hiệu khác trong kinh: Vāsava, Kosiya.
saṁyojanakiết sử — dây trói buộc chúng sanhCâu hỏi mở đầu: "do kiết sử gì…"
issātật đố (ganh tị)
macchariyaxan tham (keo kiệt, bỏn sẻn)issāmacchariya = "tật đố và xan tham", gốc của hận thù.
verahận thùaverā = không hận thù; saverino = sống trong hận thù.
piyāppiyaưa ghét (khả ái và bất khả ái)Bản Minh Châu dịch gọn là "ưa ghét".
chandadục (lòng muốn)
vitakkatầm (ý nghĩ hướng đến đối tượng)
papañcasaññāsaṅkhācác loại vọng tưởng hý luậnMắt xích sâu nhất trong chuỗi; Sujato dịch "judgments driven by the proliferation of perceptions".
somanassa / domanassa / upekkhāhỷ / ưu / xảMỗi loại có hai: nên thân cận (sevitabba) và nên tránh xa (asevitabba).
sevitabba – asevitabbanên thân cận – nên tránh xaTiêu chuẩn: thiện pháp tăng trưởng hay bất thiện pháp tăng trưởng.
pātimokkhasaṁvarabiệt giải thoát luật nghiGồm thân hành, khẩu hành, tầm cầu (pariyesanā).
indriyasaṁvarahộ trì các căn
papañca-nirodhadiệt trừ hý luậnMục tiêu của pháp quán hỷ - ưu - xả.
dhammacakkhu (virajaṁ vītamalaṁ)pháp nhãn thanh tịnh vô cấu"Phàm pháp gì tập sanh, pháp ấy sẽ bị hoại diệt."
sotāpannaDự lưuSakka tự nhận: "con là đệ tử của Thế Tôn, đã chứng Dự lưu".
PañcasikhaNgũ Kế, con của Càn-thát-bà (gandhabba), nhạc thần
Indasāla-guhā / Vediyahang Nhơn-đà-sa-la / núi Tỳ-đàNơi thuyết kinh.

Câu hỏi hay ở chỗ nó không hỏi “ai sai”. Đế-Thích không hỏi ai gây ra hận thù. Ông hỏi: tại sao điều ai cũng không muốn lại cứ xảy ra? Đây là câu hỏi về cơ chế, không phải về đạo đức — và Đức Phật trả lời đúng như vậy.

Chuỗi truy ngược — đọc từ dưới lên. Hận thù có gốc ở tật đố và xan tham. Hai thứ ấy có gốc ở ưa và ghét. Ưa ghét có gốc ở dục. Dục có gốc ở tầm (suy nghĩ dấy lên). Tầm có gốc ở hý luận vọng tưởngpapañca-saññā-saṅkhā. Tới đó thì dừng.

Chữ papañca — chỗ khó nhất và đáng học nhất. Tạm dịch là hý luận, vọng tưởng. Nghĩa gần nhất: cái tâm tự nó bày ra thêm. Thấy một việc, tâm dựng thêm một câu chuyện quanh việc ấy; câu chuyện ấy sinh ưa ghét; ưa ghét sinh tranh giành. Gốc của chiến tranh nằm ở chỗ mình kể thêm.

Hai loại hỷ, hai loại ưu, hai loại xả. Đức Phật dạy phân biệt: loại nên thân cận vì làm thiện pháp tăng, và loại phải tránh xa vì làm bất thiện pháp tăng. Không phải cứ vui là tốt. Thước đo không nằm ở cảm giác, mà ở chỗ nó làm gì với tâm mình sau đó.

Kết thúc rất đẹp. Nghe xong, Đế-Thích chứng quả Dự Lưu ngay tại chỗ, và nói rằng ông đã hỏi các vị Sa-môn Bà-la-môn khác nhưng không ai đáp được; nay “con nhổ được mũi tên nghi ngờ”.

  • “Muốn hết hận thù thì phải nhẫn nhịn.” Bài kinh không nói vậy. Nó truy tới gốcpapañca — và chỉ ra rằng nhịn ở ngọn thì gốc vẫn còn.
  • “Vui là tốt, buồn là xấu.” Kinh chia mỗi loại thành hai, đo bằng chỗ nó dẫn tới, không đo bằng cảm giác.
  • “Đế-Thích là một vị thần toàn năng.” Ông là người đi hỏi, và trước đó đã hỏi nhiều nơi mà không ai đáp được.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy câu hỏi mở đầu: ai cũng muốn sống vui vẻ với nhau, sao vẫn giận nhau? Để các em tự trả lời trước.
  • Ngành Thiếu. Chuỗi truy ngược, làm ngược lại: từ một lần giận nhau thật, lần ngược lên xem bắt đầu từ đâu.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Chữ papañca. Bàn: giữa việc thật xảy ra và câu chuyện mình kể về nó, khoảng cách bao xa?
  • Vì sao điều ai cũng không muốn lại cứ xảy ra?
  • Papañca là tâm tự bày thêm. Tuần này em đã kể thêm chuyện gì?
  • Vì sao có loại vui phải tránh xa?
  • Đế-Thích hỏi nhiều nơi không ai đáp được. Vì sao câu hỏi ấy khó?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số để đối chiếu được. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.