G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 13
Trường Bộ · Hàng Người Mù Dắt Nhau

Kinh Tam Minh

Tevijja Sutta — DN 13 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Tam Minh

Hai thanh niên Bà-la-môn cãi nhau đường nào dẫn đến cộng trú với Phạm thiên, rồi tìm Đức Phật phân xử. Ngài không chọn bên nào. Ngài hỏi một loạt câu — và hai ví dụ Ngài đưa ra sắc đến mức khó quên.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 13
  • Nhân vật — hai thanh niên VāseṭṭhaBhāradvāja
  • Tên kinhTevijja“ba Vệ-đà”, chỉ hạng Bà-la-môn thông ba tập Vệ-đà
  • Kết luận — con đường đến Phạm thiên là từ, bi, hỷ, xả

Kinh Tam Minh ghi lại cuộc đối thoại giữa Đức Phật với hai thanh niên Bà-la-môn Vāseṭṭha và Bhāradvāja tại làng Manasākaṭa, bên bờ sông Aciravatī. Hai người tranh luận: con đường nào mới thật là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên? Người tin thầy mình là Pokkharasāti, người tin Tārukkha; không ai thuyết phục được ai nên cùng đến thỉnh vấn Đức Phật. Đức Phật không tranh luận giáo lý, mà hỏi từng bước rất giản dị: có vị Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedā nào đã tận mắt thấy Phạm thiên chưa? Thầy của các vị ấy? Thầy của thầy? Cho đến bảy đời thầy tổ? Ngay cả các ẩn sĩ thời xưa đã sáng tác và truyền tụng thánh điển — Aṭṭhaka, Vāmaka, Vāmadeva, Vessāmitta, Yamataggi, Aṅgīrasa, Bhāradvāja, Vāseṭṭha, Kassapa, Bhagu — cũng chưa từng nói "chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu". Vậy mà họ vẫn dạy con đường đến chỗ chính mình không biết, không thấy. Từ đó Đức Phật đưa ra những ví dụ nổi tiếng: một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa không thấy, người cuối cũng không thấy; người nói mình yêu và ái luyến một cô gái đẹp nhất trong nước mà chưa từng biết, chưa từng thấy nàng là ai; người xây thang leo lên lầu mà không biết lầu ấy ở phương nào, cao thấp ra sao; người đứng bờ bên này gọi "bờ bên kia hãy lại đây!"; người bị trói chặt hai tay sau lưng (dụ cho năm dục trưởng dưỡng), người trùm đầu nằm ngủ (dụ cho năm triền cái) mà muốn qua sông. Kế đó Đức Phật đối chiếu: Phạm thiên không có tài sản, không hận tâm, không sân tâm, không ô nhiễm tâm, có tự tại; còn các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedā thì ngược lại. Hai bên trái nghịch nhau thì không thể "cộng trú" được. Cuối cùng Đức Phật dạy con đường chân thật: vị Tỷ-kheo cụ túc giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, đoạn trừ năm triền cái, rồi an trú biến mãn khắp mười phương với tâm câu hữu với Từ, Bi, Hỷ, Xả — quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như người thổi tù và có sức mạnh làm cho bốn phương đều nghe, tâm giải thoát ấy khiến các nghiệp hữu lượng không còn tồn tại. "Đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên." Hai thanh niên hoan hỷ xin quy y Phật, Pháp, Tăng trọn đời. Bài học cho Huynh Trưởng: đạo Phật đặt nền trên cái mình thật biết, thật thấy và thật hành, chứ không trên lời truyền tụng suông; và con đường lên cao nhất chính là tu Tứ Vô Lượng Tâm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi (đoạn 1-7) — Phật trú trong rừng xoài bên sông Aciravatī, phía bắc làng Manasākaṭa. Hai thanh niên Vāseṭṭha và Bhāradvāja tranh luận về chánh đạo - phi đạo, không ai thuyết phục được ai, nên rủ nhau đến hỏi Sa-môn Gotama.
  • 1. Maggāmaggakathā — Nói về đạo và phi đạo (đoạn 8-10) — Vāseṭṭha trình bày cuộc tranh luận và nêu quan điểm rằng dù các Bà-la-môn (Addhariyā, Tittiriyā, Chandokā, Bavhārijjhā) chỉ nhiều con đường khác nhau, tất cả đều đưa đến cộng trú với Phạm thiên, ví như nhiều con đường đều dẫn vào một ngôi làng.
  • 2. Vāseṭṭhamāṇavānuyoga — Chất vấn thanh niên Vāseṭṭha (đoạn 11-18) — Phật hỏi: có ai trong các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedā, hay thầy của họ, cho đến bảy đời thầy tổ, hay các ẩn sĩ thời xưa, đã tận mắt thấy Phạm thiên? Đều không. Vậy lời nói của họ không có căn cứ — như một chuỗi người mù ôm lưng nhau. Lại nêu ví dụ mặt trăng mặt trời: thấy còn không chỉ được đường, huống là chưa từng thấy.
  • 2.1. Janapadakalyāṇīupamā — Ví dụ cô gái đẹp nhất nước (đoạn 19-20) — Người nói mình yêu và ái luyến cô gái đẹp nhất trong nước, nhưng không biết nàng thuộc giai cấp nào, tên gì, dòng họ gì, cao thấp, da màu gì, ở làng nào. Yêu người mình chưa từng biết, chưa từng thấy — lời nói ấy không có căn cứ.
  • 2.2. Nisseṇīupamā — Ví dụ cái thang (đoạn 21-23) — Người xây thang tại ngã tư đường để leo lên lầu, nhưng không biết lầu ấy ở phương đông, tây, nam hay bắc, cao hay thấp. Xây thang cho một cái lầu mình chưa từng biết, chưa từng thấy.
  • 2.3. Aciravatīnadīupamā — Ví dụ sông Aciravatī (đoạn 24-30) — Ba ví dụ về sông đầy tràn: (a) người đứng bờ bên này gọi 'bờ bên kia hãy lại đây' — cầu khẩn Indra, Soma, Varuṇa, Īsāna, Pajāpati, Brahmā, Mahiddhi, Yama cũng vô ích; (b) người bị trói chặt hai tay sau lưng — dụ cho năm dục trưởng dưỡng, gọi là gông cùm, trói buộc; (c) người trùm đầu nằm ngủ — dụ cho năm triền cái (tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghi), gọi là chướng ngại, che đậy, bao trùm.
  • 3. Saṁsandanakathā — Nói về sự tương ứng (đoạn 31-39) — Đối chiếu: Phạm thiên không có tài sản, không hận tâm, không sân tâm, không ô nhiễm tâm, có tự tại; các Bà-la-môn tinh thông ba tập Vedā thì ngược lại. Trái nghịch như vậy thì không thể tương ứng, không thể cộng trú. Ba tập Vedā được gọi là 'sa mạc', 'rừng hoang', 'tai họa'. Vāseṭṭha thỉnh Phật dạy con đường; Phật ví dụ người sinh trưởng tại Manasākaṭa được hỏi đường về làng thì không do dự, và tuyên bố Ngài biết Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.
  • 4. Brahmalokamaggadesanā — Thuyết con đường đến Phạm thiên giới (đoạn 40-82) — Như Lai xuất hiện ở đời; vị Tỷ-kheo cụ túc giới, hộ trì các căn, chánh niệm tỉnh giác, biết đủ, đoạn trừ năm triền cái, sanh hân hoan - hỷ - khinh an - lạc - định. Rồi an trú biến mãn bốn phương, trên dưới bề ngang cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với Từ, Bi, Hỷ, Xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như người thổi tù và có sức mạnh khiến bốn phương đều nghe, nghiệp hữu lượng không còn tồn đọng. 'Đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.' Vị Tỷ-kheo ấy tương ứng với Phạm thiên nên có thể cộng trú. Hai thanh niên tán thán và xin quy y trọn đời.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 1 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
DN 13.15
Seyyathāpi, vāseṭṭha, andhaveṇi paramparasaṁsattā purimopi na passati, majjhimopi na passati, pacchimopi na passati.
Ví như một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy.
Suppose there was a queue of blind men, each holding the one in front: the first one does not see, the middle one does not see, and the last one does not see.
DN 13.13-14
'mayametaṁ jānāma, mayametaṁ passāma, yattha vā brahmā, yena vā brahmā, yahiṁ vā brahmā'ti.
không có một vị nào đã nói: 'Chúng tôi biết, chúng tôi thấy Phạm thiên ở đâu, Phạm thiên từ đâu đến, Phạm thiên sẽ đi đâu'.
…not even the ancient seers claimed to know where he is: 'We know and see where the Divinity is or what way he lies.'
DN 13.19
'ahaṁ yā imasmiṁ janapade janapadakalyāṇī, taṁ icchāmi, taṁ kāmemī'ti.
Như có người nói: 'Tôi yêu và ái luyến một cô gái đẹp trong nước này'.
Suppose a man were to say, 'Whoever the finest lady in the land is, it is her that I want, her that I desire!'
DN 13.21
Seyyathāpi, vāseṭṭha, puriso cātumahāpathe nisseṇiṁ kareyya pāsādassa ārohaṇāya.
Như một người muốn xây tại ngã tư đường một cái thang để leo lên lầu.
Suppose a man was to build a ladder at the crossroads for climbing up to a stilt longhouse.
DN 13.29
So orime tīre sasīsaṁ pārupitvā nipajjeyya.
Ví như vẫn là con sông ấy, người ấy, nhưng người đó nằm bờ bên này trùm đầu và đi ngủ.
Then along comes a person who wants to cross over to the far shore. But they'd lie down wrapped in cloth from head to foot.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
DN 13.38
Brahmānañcāhaṁ, vāseṭṭha, pajānāmi brahmalokañca brahmalokagāminiñca paṭipadaṁ, yathā paṭipanno ca brahmalokaṁ upapanno, tañca pajānāmī'ti.
Ta biết đến Phạm thiên, Phạm thiên giới và con đường đưa đến Phạm thiên giới.
I understand the Divinity, the realm of divinity, and the practice that leads to the realm of divinity, practicing in accordance with which one is reborn in the realm of divinity.
DN 13.76
So mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati… sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyāpajjena pharitvā viharati.
vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
They meditate spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth… they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will.
DN 13.77 (và lặp lại ở 13.79)
Ayampi kho, vāseṭṭha, brahmānaṁ sahabyatāya maggo.
Đó là con đường đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
This is a path to company with Divinity.
DN 13.82
abhikkantaṁ, bho gotama, abhikkantaṁ, bho gotama.
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!
Excellent, worthy Gotama! Excellent! … As if he were righting the overturned, or revealing the hidden, or pointing out the path to the lost, or lighting a lamp in the dark…
Chữ PāliNghĩaGhi chú
tevijjaTam Minh; ở đây chỉ các Bà-la-môn tinh thông ba tập VedāTrong Phật giáo, tevijja còn có nghĩa khác là ba minh của bậc A-la-hán; kinh này dùng theo nghĩa Bà-la-môn giáo.
brahmasahabyatāsự cộng trú với Phạm thiênMục tiêu mà các Bà-la-môn trong kinh này nhắm đến.
maggāmaggachánh đạo và phi đạo (đạo và không phải đạo)Đề tài tranh luận mở đầu kinh.
ujumagga / añjasāyanacon đường thẳng / con đường trực chỉTrong câu 'ayameva ujumaggo, ayamañjasāyano niyyāniko…'
appāṭihīrakatakhông có căn cứ, không thể chứng minh, lời nói suôngKết luận Phật đưa ra sau mỗi ví dụ.
andhaveṇichuỗi người mù (nối đuôi nhau)Ví dụ nổi tiếng nhất của kinh.
janapadakalyāṇīcô gái đẹp nhất trong nướcVí dụ về ái luyến điều mình chưa từng biết, chưa từng thấy.
nisseṇīcái thangVí dụ xây thang lên cái lầu chưa từng thấy.
pañca kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái)Được gọi là gông cùm (andu) và trói buộc (bandhana) trong giới luật bậc Thánh.
pañca nīvaraṇānăm triền cái: tham dục, sân, hôn trầm thụy miên, trạo hối, nghiGọi là chướng ngại, che lấp, bao trùm.
mettā, karuṇā, muditā, upekkhāTừ, Bi, Hỷ, Xả — Tứ Vô Lượng TâmCon đường thật sự đưa đến cộng trú với Phạm thiên.
cetovimuttitâm giải thoátmettā cetovimutti: tâm giải thoát nhờ tu Từ.
brahmalokaPhạm thiên giới
apariggaha / averacitta / abyāpajjacitta / asaṅkiliṭṭhacitta / vasavattīkhông có tài sản / không hận tâm / không sân tâm / không ô nhiễm tâm / có tự tạiNăm đức tính của Phạm thiên dùng để đối chiếu.
saṁsandati sametitương ứng, phù hợp với nhauCơ sở lập luận của phần 3.

Câu hỏi Ngài đặt ra trước tiên. Có vị Bà-la-môn thông ba Vệ-đà nào đã tận mặt thấy Phạm thiên chưa? Không. Thầy của họ? Thầy của thầy? Cho tới bảy đời? Không ai. Cả một truyền thống dạy đường tới một nơi không ai trong họ từng thấy.

Ví dụ thứ nhất — hàng người mù. Như một hàng người mù ôm lưng nhau, người đầu không thấy, người giữa không thấy, người cuối cũng không thấy. Lời dạy của các Bà-la-môn ấy thành trò cười, chỉ là lời nói suông, trống rỗng, hư vọng.

Ví dụ thứ hai còn sắc hơn. Một người nói “tôi yêu và ái luyến cô gái đẹp nhất nước này”. Hỏi: cô ấy tên gì? dòng họ nào? cao thấp, đen trắng ra sao? ở làng nào?không biết gì cả. Vậy thì người ấy nói có hợp lý chăng? Yêu tha thiết một người mình không biết là ai.

Rồi ví dụ thứ ba, về việc bắc thang. Một người dựng thang giữa ngã tư đường để leo lên lầu — hỏi lầu ở hướng nào, cao hay thấp, người ấy không biết. Ba ví dụ cùng nói một điều: chỉ đường tới chỗ mình chưa từng biết.

Nhưng Ngài không dừng ở chỗ bác bỏ. Đây mới là chỗ đáng quý. Ngài trả lời câu hỏi của họ thật: con đường đến cộng trú với Phạm thiênrải tâm từ, bi, hỷ, xả khắp mười phươngquảng đại, vô biên, không hận, không sân. Ngài nhận lấy câu hỏi của họ và trả lời trong ngôn ngữ của họ.

Chỗ này rất đáng để ý về cách dạy. Ngài không bắt họ bỏ Phạm thiên để theo Niết Bàn. Ngài nói: nếu các ông muốn tới đó, thì đây mới là đường. Gặp người ở đâu thì nói từ chỗ đó.

Và Ngài đưa một lý lẽ ngắn mà chặt. Phạm thiên không có vợ con, không có tài sản, không có sân hận, tâm được tự tại. Còn các Bà-la-môn ấy thì có đủ cả. Vậy làm sao người có những thứ ấy lại cộng trú được với vị không có?“Sự kiện này không xảy ra.”

  • “Kinh này chê đạo Bà-la-môn.” Ngài trả lời đúng câu họ hỏichỉ đường thật tới nơi họ muốn tới.
  • “Từ bi hỷ xả chỉ là tình cảm tốt.” Ở đây nó là con đường, có phương pháp và có đích.
  • “Không thấy thì không nói được gì.” Kinh không nói vậy — kinh nói đừng chỉ đường tới nơi mình chưa từng biết.
  • Ngành Oanh. Hàng người mù dắt nhau — cho các em xếp hàng nhắm mắt thử. Rất dễ nhớ.
  • Ngành Thiếu. Ví dụ yêu cô gái chưa từng thấy. Hỏi: em có từng tin chắc điều gì mà chưa từng kiểm chưa?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Cách dạy: Ngài không bắt bỏ niềm tin cũ, mà chỉ đường thật trong khuôn khổ ấy. Đọc kèm Kinh Kālāma.
  • Ba ví dụ cùng nói một điều gì?
  • Vì sao Ngài vẫn trả lời câu hỏi của họ?
  • Vì sao người có sân hận không cộng trú được với vị không sân?
  • Em có điều gì tin chắc mà chưa từng tự kiểm?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.