G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 5
Trường Bộ · Tế Đàn Không Giết Một Sinh Vật

Kinh Cứu-La-Đàn-Đầu

Kūṭadanta Sutta — DN 5 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Cứu-La-Đàn-Đầu

Một vị Bà-la-môn giàu có đã cột sẵn bảy trăm con bò đực, bảy trăm nghé, bảy trăm dê, bảy trăm cừu để làm đại tế đàn. Ông tìm đến hỏi Đức Phật cách tế đàn cho đúng. Ngài không nói “đừng tế”Ngài kể một câu chuyện.

  • Bộ — Trường Bộ, bài 5
  • Nhân vật — Bà-la-môn Kūṭadanta (Cứu-La-Đàn-Đầu), làng Khāṇumata
  • Tình cảnhhàng ngàn sinh vật đã bị cột sẵn chờ giết
  • Cách trả lời — Đức Phật kể chuyện vua Mahāvijita đời xưa thay vì ra lệnh

Kinh Cứu-La-Đàn-Đầu là bài kinh số 5 của Trường Bộ, dạy về ý nghĩa chân thật của sự "tế lễ" (yañña) và về đạo lý không sát sinh. Bà-la-môn Kūṭadanta sắp cử hành một đại tế đàn, đã dắt tới trụ tế lễ bảy trăm trâu đực, bảy trăm nghé đực, bảy trăm nghé cái, bảy trăm dê và bảy trăm cừu. Nghe tiếng Đức Phật biết rõ "ba cách tế tự và mười sáu tế vật", ông đến hỏi. Đức Phật không tranh luận mà kể một câu chuyện đời trước: vua Mahāvijita muốn tổ chức đại tế đàn để được hạnh phúc lâu dài, bèn hỏi vị Bà-la-môn chủ tế (purohita). Vị chủ tế trả lời rằng quốc độ đang bị trộm cướp quấy nhiễu; nếu nhà vua tăng thuế hay dùng tử hình, giam cầm, tịch thu, trục xuất để dẹp thì không diệt được gốc, vì những kẻ sống sót sau cuộc giết chóc sẽ trở lại phá hoại. Cách đúng là: cấp hột giống và thực vật cho người làm nông và chăn nuôi, cấp vốn cho người buôn bán, cấp vật thực và lương bổng cho người làm quan chức. Dân chúng có nghề nghiệp thì không quấy nhiễu nữa, kho vua đầy, xứ sở an ổn, "dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng". Sau đó vua mới tổ chức tế đàn, với bốn nhóm ưng thuận, tám đức tính của vua, bốn đức tính của vị chủ tế và ba cách (dứt trừ hối tiếc trước, trong và sau khi bố thí). Điểm cốt lõi: trong tế đàn ấy không một con vật nào bị giết, không chặt cây làm trụ tế, không cắt cỏ trải đàn, tôi tớ không bị roi vọt hay khóc lóc; tế đàn hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường. Kūṭadanta hỏi có tế đàn nào ít phiền phức mà quả lớn hơn không. Đức Phật lần lượt nêu bậc thang cao dần: bố thí thường xuyên cho người xuất gia trì giới, cúng tinh xá cho Tăng chúng bốn phương, quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, và cao nhất là con đường giới – định – tuệ đưa đến giải thoát. Nghe xong, Kūṭadanta xin quy y, thả hết đàn vật và chứng được Pháp nhãn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Bà-la-môn và gia chủ ở Khāṇumata — Đức Phật đến Khāṇumata, trú ở Ambalaṭṭhikā. Kūṭadanta đang sửa soạn đại tế đàn với 700 mỗi loại trâu, nghé đực, nghé cái, dê, cừu. Dân chúng kéo đi yết kiến Phật; Kūṭadanta cũng muốn đi để hỏi về ba cách tế tự và mười sáu tế vật.
  • 2. Công đức của Kūṭadanta — Hàng trăm Bà-la-môn can ngăn, kể các ưu điểm của Kūṭadanta (dòng dõi thanh tịnh bảy đời, giàu có, thông ba tập Veda, đức hạnh, tuổi cao, được vua Bimbisāra và Bà-la-môn Pokkharasāti kính trọng) để nói rằng Sa-môn Gotama phải đến gặp ông mới phải.
  • 3. Công đức của Đức Phật — Kūṭadanta kể lại các công đức của Đức Thế Tôn: dòng dõi thanh tịnh, xuất gia bỏ đại gia đình và vàng bạc, tướng hảo, giới hạnh, là bậc kammavādī kiriyavādī, đủ ba mươi hai tướng tốt, được vua Bimbisāra và vua Pasenadi quy y… và kết luận chính ông phải đi yết kiến Phật, vì "công đức của Tôn giả Gotama là vô lượng".
  • 4. Chuyện tế đàn của vua Mahāvijita — Đức Phật kể chuyện tiền thân: vua Mahāvijita muốn tế đàn lớn; vị Bà-la-môn chủ tế khuyên trước hết phải dẹp nạn trộm cướp bằng kinh tế (cấp hột giống, cấp vốn, cấp lương) chứ không bằng hình phạt. Rồi mới nói đến các phần của tế đàn: 4.1 Bốn tế vật (bốn nhóm ưng thuận), 4.2 Tám tế vật (tám đức tính của vua), 4.3 Bốn tế vật (bốn đức tính vị chủ tế), 4.4 Ba cách (tisso vidhā: không hối tiếc trước, trong, sau), 4.5 Mười phương pháp (dứt hối tiếc về người thọ nhận), 4.6 Mười sáu phương pháp (khích lệ tâm nhà vua). Kết: tế đàn không giết một sinh vật nào, hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường. Cuối phần, Đức Phật xác nhận Ngài chính là vị Bà-la-môn chủ tế thời ấy.
  • 5. Bố thí thường xuyên là tế đàn tốt hơn — Kūṭadanta hỏi có tế đàn nào ít phiền phức hơn mà quả lớn hơn. Đức Phật nêu thứ lớp: bố thí thường xuyên cho người xuất gia trì giới (vì nơi ấy không có đánh đập, trói cổ nên các bậc A-la-hán mới đến); cúng tinh xá cho chúng Tăng bốn phương; quy y Phật – Pháp – Tăng với tâm tịnh tín; thọ trì năm học giới; và cao nhất là Như Lai ra đời, Tỷ-kheo thành tựu giới, chứng bốn thiền, đắc tri kiến cho đến "không còn trở lui trạng thái này nữa" — không có tế đàn nào cao thượng hơn.
  • 6. Kūṭadanta tự nhận là cư sĩ — Kūṭadanta thốt lời tán thán "như dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống…", xin quy y trọn đời, và thả tự do cho tất cả bảy trăm mỗi loại vật, cho chúng ăn cỏ xanh, uống nước mát, hưởng gió mát.
  • 7. Chứng quả Dự Lưu — Đức Phật thuyết thứ lớp pháp: bố thí, trì giới, chư thiên, sự nguy hiểm của dục và lợi ích của xuất ly; khi tâm Kūṭadanta đã nhu nhuyến, Ngài giảng Khổ – Tập – Diệt – Đạo. Pháp nhãn ly trần vô cấu khởi lên nơi ông. Hôm sau ông cúng dường Phật và chúng Tăng ngay tại chỗ tế đàn của mình.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

Xin thưa trước: phần này có 2 đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Phần Pāli và tiếng Anh thì đối chiếu được.
DN 5.1.6
Satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni thūṇūpanītāni honti yaññatthāya.
bảy trăm con trâu đực, bảy trăm con nghé đực lớn, và bảy trăm con nghé cái lớn, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu đã được dắt đến trụ tế lễ, cho đàn tế.
Bulls, bullocks, heifers, goats and rams—seven hundred of each—had been led to the post for the sacrifice.
DN 5.11.5–11.6
‘ahametaṁ dassukhīlaṁ vadhena vā bandhena vā jāniyā vā garahāya vā pabbājanāya vā samūhanissāmī’ti, na kho panetassa dassukhīlassa evaṁ sammā samugghāto hoti. Ye te hatāvasesakā bhavissanti, te pacchā rañño janapadaṁ viheṭhessanti.
“I'll eradicate this plague of savages by execution or imprisonment or confiscation or condemnation or banishment!” But that's not the right way to eradicate this plague of savages. Those who remain after the killing will return to harass the king's realm.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
DN 5.11.8–11.10
Tena hi bhavaṁ rājā ye bhoto rañño janapade ussahanti kasigorakkhe, tesaṁ bhavaṁ rājā bījabhattaṁ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti vāṇijjāya, tesaṁ bhavaṁ rājā pābhataṁ anuppadetu. Ye bhoto rañño janapade ussahanti rājaporise, tesaṁ bhavaṁ rājā bhattavetanaṁ pakappetu.
những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hột giống và thực vật; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư; những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về quan chức, Tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng.
So let the king provide seed and fodder for those in the realm who work in growing crops and raising cattle. Let the king provide funding for those who work in trade. Let the king guarantee food and wages for those in government service.
DN 5.11.13
Khemaṭṭhitā janapadā akaṇṭakā anuppīḷā. Manussā mudā modamānā ure putte naccentā apārutagharā maññe viharissantī’ti.
dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho con nhảy trên ngực, sống chẳng khác gì với nhà cửa mở rộng.
When the country is secured as a sanctuary, free of being harried and oppressed, the happy people, with joy in their hearts, dancing with children at their breast, will dwell as if their houses were wide open.
DN 5.18.1–18.5
Tasmiṁ kho, brāhmaṇa, yaññe neva gāvo haññiṁsu, na ajeḷakā haññiṁsu, na kukkuṭasūkarā haññiṁsu, na vividhā pāṇā saṅghātaṁ āpajjiṁsu, na rukkhā chijjiṁsu yūpatthāya, na dabbhā lūyiṁsu barihisatthāya.
Trong lễ tế đàn này, không có trâu bò bị giết, không có dê cừu bị giết… Tế đàn nay được hoàn tất chỉ với dầu, sanh tô, thục tô, mật và đường miếng.
And brahmin, in that sacrifice no cattle were killed, no goats or sheep were killed, and no chickens or pigs were killed. There was no slaughter of various kinds of creatures. No trees were felled for the sacrificial post. No grass was reaped to strew over the place of sacrifice.
DN 5.18.2–18.5
Yepissa ahesuṁ dāsāti vā pessāti vā kammakarāti vā, tepi na daṇḍatajjitā na bhayatajjitā na assumukhā rudamānā parikammāni akaṁsu. … Sappitelanavanītadadhimadhuphāṇitena ceva so yañño niṭṭhānamagamāsi.
Những người gia bộc hay những người đem tin… không bị dọa nạt bởi hình phạt, không bị dọa nạt bởi sợ hãi và không làm việc trong than khóc với nước mắt tràn đầy mặt mày.
No bondservants, servants, or workers did their jobs under threat of punishment and danger, weeping with tearful faces. … The sacrifice was completed with just ghee, oil, butter, curds, honey, and molasses.
DN 5.23.2–23.4
Na kho, brāhmaṇa, evarūpaṁ yaññaṁ upasaṅkamanti arahanto vā arahattamaggaṁ vā samāpannā. Taṁ kissa hetu? Dissanti hettha, brāhmaṇa, daṇḍappahārāpi galaggahāpi.
Because neither perfected ones nor those who are on the path to perfection will attend such a sacrifice. Why is that? Because beatings and throttlings are seen there.
Lưu ý: chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt này với bản in.
DN 5.28.6
Esāhaṁ, bho gotama, satta ca usabhasatāni satta ca vacchatarasatāni satta ca vacchatarīsatāni satta ca ajasatāni satta ca urabbhasatāni muñcāmi, jīvitaṁ demi, haritāni ceva tiṇāni khādantu, sītāni ca pānīyāni pivantu, sīto ca nesaṁ vāto upavāyatūti.
Con xin trả tự do và sự sống cho bảy trăm con bò đực, bảy trăm con bò cái, bảy trăm con dê và bảy trăm con cừu. Mong chúng được ăn cỏ xanh và uống nước mát, mong chúng được hưởng gió mát.
And these bulls, bullocks, heifers, goats, and rams—seven hundred of each—I release them, I grant them life! Let them eat green grass and drink cool water, and may a cool breeze blow upon them!
DN 5.29.7
Yaṁ kiñci samudayadhammaṁ sabbaṁ taṁ nirodhadhammanti.
Phàm pháp gì được tập khởi lên đều bị tiêu diệt.
Everything that is liable to arise is liable to cease.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
yaññatế đàn, sự tế lễ; trong kinh này được chuyển nghĩa thành hạnh bố thí và tu tập
mahāyaññađại tế đàn
tividhā yaññasampadā soḷasaparikkhārāba cách tế tự và mười sáu tế vật (ba cách dứt trừ hối tiếc; mười sáu tế vật gồm 4 nhóm ưng thuận + 8 đức tính của vua + 4 đức tính của vị chủ tế)
purohitavị Bà-la-môn chủ tế / quốc sư của nhà vuaĐức Phật xác nhận chính Ngài là vị purohita trong câu chuyện tiền thân (DN 5.21.16)
yūpa (thūṇa)trụ tế lễ, cột buộc con vật để tế
pāṇātipātā veramaṇīgiới không sát sinh
niccadāna / anukulayaññabố thí thường xuyên, tế đàn theo truyền thống gia đình — dâng cúng cho người xuất gia trì giới
cātuddisa saṅghachúng Tăng bốn phương (cúng tinh xá cho Tăng chúng khắp bốn phương)
saraṇagamanaquy y (Phật – Pháp – Tăng)
sikkhāpadahọc giới; ở đây là năm giới
dassukhīlanạn trộm cướp, "gai trộm cướp" quấy nhiễu quốc độ
dhammacakkhuPháp nhãn — con mắt thấy pháp, dấu hiệu chứng quả Dự Lưu
sotāpattiphalaquả Dự Lưu (Tu-đà-hoàn)
anupubbikathāthứ lớp pháp thoại: bố thí, trì giới, sanh thiên, nguy hiểm của dục, lợi ích của xuất ly
kammavādī kiriyavādīchủ trương có nghiệp, có hành động (tin nhân quả)
jhānathiền (sơ thiền đến tứ thiền)

Ngài không cấm — Ngài kể chuyện. Nếu nói thẳng “giết vật là ác, đừng tế”, vị Bà-la-môn sẽ tự ái mà bỏ đi. Ngài kể chuyện một vị vua đời xưa cũng muốn tế đàn lớn — và vị quốc sư khuyên vua điều bất ngờ.

Lời khuyên ấy là về kinh tế, không phải về nghi lễ. Vị quốc sư nói: trong nước còn trộm cướp, đừng tăng thuế, đừng đàn áp — mà hãy cấp hạt giống và thực phẩm cho người làm ruộng, cấp vốn cho người buôn bán, cấp lương thực cho người làm công. Khi dân đủ ăn thì trộm cướp tự hết, và quốc độ được an cư lạc nghiệp. Đây là chỗ đáng kinh ngạc nhất của bài kinh.

Rồi mới tới tế đàn — và tế đàn ấy không giết gì cả. Kinh nói rõ: không có bò bị giết, không có dê cừu gà heo bị giết, không có cây bị chặt làm cột tế, không có cỏ bị cắt. Người làm không bị roi vọt hay doạ nạt, ai muốn làm thì làm, không muốn thì thôi. Tế đàn chỉ dùng bơ, dầu, sữa đông, mật và đường.

Chi tiết về người làm công là chỗ ít ai để ý. Kinh nhấn hai lần rằng người giúp việc không bị ép buộc. Nghĩa là: một buổi lễ có ép người thì đã hỏng rồi, dù không giết con vật nào.

Rồi Ngài xếp thứ bậc, từ thấp lên cao. Tế đàn không sát sinh chưa phải cao nhất. Cao hơn nữa là bố thí thường xuyên cho người có giới hạnh, rồi dựng tinh xá, rồi quy y Tam Bảo, rồi giữ năm giới — và cao nhất là tu tập cho tới giải thoát. Mỗi bậc đều được nói là có quả báo lớn hơn bậc dưới.

Kết cục. Vị Bà-la-môn thả hết số vật đã cột, nói “hãy cho chúng ăn cỏ xanh, uống nước mát, hưởng gió mát”. Không ai bắt ông thả.

Chỗ chúng tôi ghi rõ. Bài này có năm đoạn chúng tôi chưa đối chiếu được câu tiếng Việt với bản in. Lượt soi cũng chỉ ra một đoạn bản Việt kể bốn loại vật, trong khi Pāli kể năm (usabha, vacchatara, vacchatarī, aja, urabbha), và dịch vacchatara thành “bò cái” thay vì “nghé”. Chúng tôi giữ nguyên câu của Hoà thượng và ghi chú ở đây, không tự sửa lời ngài.

  • “Đức Phật cấm tế đàn.” Ngài không cấm. Ngài chỉ ra tế đàn nào có quả báo lớn hơn, và để vị Bà-la-môn tự chọn.
  • “Bài kinh chỉ nói về nghi lễ.” Phần dài nhất nói về cách trị nước cho dân đủ ăn.
  • “Không giết vật là đủ.” Kinh xếp tế đàn không sát sinh ở bậc thấp nhất trong sáu bậc.
  • Ngành Oanh. Đoạn cuối: thả hết các con vật ra, cho ăn cỏ xanh, uống nước mát.
  • Ngành Thiếu. Lời quốc sư: dân đói thì cấm cũng vô ích. Hỏi: muốn hết một việc xấu, phải sửa cái gì trước?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Sáu bậc từ thấp lên cao — bài rất tốt để bàn về bố thí và cúng dường thế nào cho đúng. Đọc kèm Cúng Dường Tam Bảo.
  • Vì sao Ngài kể chuyện thay vì cấm thẳng?
  • Vì sao lời khuyên lại về kinh tế chứ không về nghi lễ?
  • Vì sao kinh nhấn hai lần rằng người làm không bị ép?
  • Tế đàn không giết vật vẫn là bậc thấp nhất — vì sao?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.