G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trường Bộ · DN 1
Trường Bộ · Bài Kinh Mở Đầu Tạng Kinh

Kinh Phạm Võng

Brahmajāla Sutta — DN 1 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrường BộKinh Phạm Võng

Đây là bài kinh mở đầu Trường Bộ, cũng là bài mở đầu toàn bộ Tạng Kinh. Duyên khởi rất đời thường: một thầy ngoại đạo chê Phật, còn học trò của ông lại khen Phật, hai người đi sau lưng Thế Tôn mà nói ngược nhau. Nhân đó Ngài dạy bài học đầu tiên — không phải về giáo lý, mà về cách đối với lời khen và lời chê.

  • Vị tríbài số một của Trường Bộ và của cả Tạng Kinh
  • Nơi chốn — trên đường giữa RājagahaNāḷandā, cùng khoảng năm trăm vị Tỳ-kheo
  • Nhân vật — du sĩ Suppiya chê, học trò Brahmadatta khen
  • Phần chính62 luận chấp: 18 về quá khứ tối sơ, 44 về tương lai
  • Năm tên kinh — Lợi Võng, Pháp Võng, Phạm Võng, Kiến Võng, Vô Thượng Chiến Thắng

Kinh Phạm Võng là bài kinh mở đầu Trường Bộ, cũng là bài mở đầu toàn bộ Tạng Kinh. Duyên khởi rất đời thường: một thầy ngoại đạo chê Phật, còn học trò của ông lại khen Phật, hai người đi sau lưng Thế Tôn mà nói ngược nhau. Nhân đó Đức Phật dạy chư Tỷ-kheo bài học đầu tiên về thái độ trước khen và chê: khi bị hủy báng thì chớ sanh lòng công phẫn, tức tối, phiền muộn, vì như vậy chỉ có hại cho chính mình và làm mình không còn biết được lời kia đúng hay sai; khi được tán thán cũng chớ hoan hỷ, vui mừng, thích thú. Điều cần làm là bình tĩnh nói rõ điều nào không đúng sự thật là không đúng sự thật, điều nào đúng sự thật là đúng sự thật. Kế đó Phật dạy: những gì kẻ phàm phu thường dùng để tán thán Như Lai chỉ là những vấn đề nhỏ nhặt thuộc giới luật — Tiểu Giới, Trung Giới, Đại Giới (không sát sanh, không trộm cắp, không nói láo, không xem bói toán, tà mạng…). Còn có những pháp khác sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm luận lý suông, mới thật đáng tán thán Như Lai. Phần chính của kinh là sự trình bày 62 luận chấp (tà kiến): 18 luận chấp về quá khứ tối sơ và 44 luận chấp về tương lai. Với mỗi luận chấp, Như Lai đều tuệ tri nhưng không chấp thủ, nhờ vậy nội tâm chứng được tịch tịnh và giải thoát. Cuối kinh, Phật ví tất cả các nhà chấp kiến ấy như đàn cá trong hồ nhỏ bị người đánh cá lành nghề vung tấm lưới mắt sít sao bao phủ: dầu nhảy vọt lên vẫn bị hạn cuộc trong lưới ấy. Ngài Ānanda hỏi tên pháp môn, Phật cho năm tên: Lợi Võng, Pháp Võng, Phạm Võng, Kiến Võng (Kiếm Võng theo bản Việt) và Vô thượng Chiến thắng.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Tụng phẩm thứ nhất — Duyên khởi (Paribbājakakathā: chuyện du sĩ Suppiya và thanh niên Brahmadatta) — Thầy trò ngoại đạo, một bên hủy báng, một bên tán thán Phật–Pháp–Tăng, đi sau lưng Thế Tôn; chư Tỷ-kheo bàn tán; Thế Tôn đến và hỏi.
  • Lời dạy về thái độ trước hủy báng và tán thán — Bị hủy báng: chớ công phẫn, tức tối, phiền muộn; phải nói rõ điều không đúng sự thật là không đúng sự thật. Được tán thán: không nên hoan hỷ, vui mừng, thích thú; hãy công nhận điều đúng sự thật là đúng sự thật.
  • Ba phần Giới: Tiểu Giới, Trung Giới, Ðại Giới — Những vấn đề "không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật" mà kẻ phàm phu dùng để tán thán Như Lai: từ bỏ sát sanh, trộm cắp, tà hạnh, nói láo, hai lưỡi, ác khẩu, ỷ ngữ; từ bỏ cất chứa, du hí, trang sức, tạp thoại, tranh luận, làm môi giới; từ bỏ các tà mạng như xem tướng, bói toán, chú thuật, đoán nhật thực nguyệt thực, chọn ngày lành…
  • Chuyển mạch: những pháp sâu kín, mỹ diệu mới thật đáng tán thán Như Lai — Các pháp "sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông" mà Như Lai tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết.
  • 18 luận chấp về quá khứ tối sơ — bắt đầu với Thường trú luận (4 luận chấp) — Bốn luận chấp cho rằng bản ngã và thế giới là thường trú, ba luận chấp đầu do túc mạng minh giới hạn, luận chấp thứ tư do suy luận và thẩm sát. Kết thúc mỗi nhóm là đoạn "Như Lai tuệ tri… không chấp trước… nội tâm chứng được tịch tịnh".
  • Tụng phẩm thứ hai — Một phần Thường trú luận một phần Vô thường luận (4), Hữu biên Vô biên luận (4), Ngụy biện luận (4), Vô nhân luận (2), rồi Hữu tưởng luận sau khi chết (16) trong 44 luận chấp về tương lai — Gồm chuyện Ðại Phạm thiên sanh trước tưởng mình là Sáng tạo chủ; chư Thiên Khiddāpadosikā và Manopadosikā; các nhà 'trườn uốn như con lươn'; hai luận chấp vô nhân sanh; và mười sáu luận chấp về bản ngã có tưởng sau khi chết.
  • Tụng phẩm thứ ba — Vô tưởng luận (8), Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận (8), Ðoạn diệt luận (7), Hiện tại Niết Bàn luận (5) — Hoàn tất 44 luận chấp về tương lai, cộng 18 luận chấp về quá khứ tối sơ thành 62 luận chấp.
  • Kết luận: các chủ trương ấy do xúc, do thọ, đưa đến ái–thủ–hữu–sanh–già chết; ví dụ tấm lưới; thân Như Lai; năm tên của kinh — Tất cả 62 luận chấp đều là cảm thọ do xúc chạm qua sáu xúc xứ, duyên khởi tiếp nối; ai như thật biết sáu xúc xứ thì hiểu biết vượt ra ngoài. Ví dụ người đánh cá vung lưới mắt sít sao; ví dụ chùm xoài bị chặt cuống; Ānanda hỏi tên, Phật đặt năm tên; một ngàn thế giới rung động.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (dn1:1.1.1–1.1.2)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā antarā ca rājagahaṁ antarā ca nāḷandaṁ addhānamaggappaṭipanno hoti mahatā bhikkhusaṅghena saddhiṁ pañcamattehi bhikkhusatehi.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn đang đi trên con đường giữa Rājagaha (Vương Xá) và Nalandà, cùng với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị.
So I have heard. At one time the Buddha was traveling along the road between Rājagaha and Nāḷandā together with a large Saṅgha of five hundred mendicants.
DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (dn1:1.5.1–1.5.3)
Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, dhammassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, saṅghassa vā avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ, tatra tumhehi na āghāto na appaccayo na cetaso anabhiraddhi karaṇīyā.
Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi chớ có vì vậy sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn. Này các Tỷ-kheo, nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi sanh lòng công phẫn, tức tối, tâm sanh phiền muộn, thời như vậy sẽ có hại cho các ngươi. Nếu có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, và nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng?
Mendicants, if others criticize me, the teaching, or the Saṅgha, don’t make yourselves resentful, bitter, and exasperated. You’ll get angry and upset, which would be an obstacle for you alone. … would you be able to understand whether they spoke well or poorly?
DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (dn1:1.6.1–1.6.2)
Mamaṁ vā, bhikkhave, pare avaṇṇaṁ bhāseyyuṁ … tatra tumhehi abhūtaṁ abhūtato nibbeṭhetabbaṁ: ‘itipetaṁ abhūtaṁ, itipetaṁ atacchaṁ, natthi cetaṁ amhesu, na ca panetaṁ amhesu saṁvijjatī’ti.
Này các Tỷ-kheo, khi có người hủy báng Ta, hủy báng Pháp hay hủy báng Tăng, các ngươi phải nói rõ những điểm không đúng sự thật là không đúng sự thật: “Như thế này, điểm này không đúng sự thật; như thế này, điểm này không chính xác; việc này không có giữa chúng tôi; việc này không xảy ra giữa chúng tôi”.
If others criticize me, the teaching, or the Saṅgha, you should explain that what is untrue is in fact untrue: ‘This is why that’s untrue, this is why that’s false. There’s no such thing in us, it’s not found among us.’
DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (bản Việt, đoạn ngay sau; đối chiếu dn1:1.6.3–1.6.4)
Này các Tỷ-kheo, nếu có người tán thán Ta, tán thán Pháp, hay tán thán Tăng, thời các ngươi không nên hoan hỷ, vui mừng, tâm không nên thích thú. … thời các ngươi hãy công nhận những gì đúng sự thật là đúng sự thật: “Như thế này, điểm này đúng sự thật, như thế này, điểm này chính xác, việc này có giữa chúng tôi, việc này đã xảy ra giữa chúng tôi”.
If others praise me, the teaching, or the Saṅgha, don’t make yourselves thrilled, elated, and excited. … you should acknowledge what is true as true: ‘This is why that’s true, this is why that’s correct. There is such a thing in us, it is found among us.’
DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (dn1:1.7.1)
Appamattakaṁ kho panetaṁ, bhikkhave, oramattakaṁ sīlamattakaṁ, yena puthujjano tathāgatassa vaṇṇaṁ vadamāno vadeyya.
Này các Tỷ-kheo, thật chỉ thuộc các vấn đề không quan trọng, nhỏ nhặt, chỉ thuộc giới luật mà kẻ phàm phu tán thán Như Lai.
When an ordinary person speaks praise of the Realized One, they speak only of trivial, trifling details of mere ethics.
DN 1 — Tụng phẩm thứ nhất (dn1:1.28.1)
Atthi, bhikkhave, aññeva dhammā gambhīrā duddasā duranubodhā santā paṇītā atakkāvacarā nipuṇā paṇḍitavedanīyā, ye tathāgato sayaṁ abhiññā sacchikatvā pavedeti, yehi tathāgatassa yathābhuccaṁ vaṇṇaṁ sammā vadamānā vadeyyuṁ.
Này các Tỷ-kheo, lại có những pháp khác, sâu kín, khó thấu, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị chỉ những người trí mới nhận hiểu. Những pháp ấy Như Lai đã tự chứng tri, giác ngộ và tuyên thuyết. Và chính những pháp ấy những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến.
There are other principles—deep, hard to see, hard to understand, peaceful, sublime, beyond the scope of logic, subtle, comprehensible to the astute—which the Realized One makes known after realizing them with his own insight. Those who genuinely praise the Realized One would rightly speak of these things.
DN 1 — Tụng phẩm thứ ba (dn1:3.72.3–3.72.4)
Seyyathāpi, bhikkhave, dakkho kevaṭṭo vā kevaṭṭantevāsī vā sukhumacchikena jālena parittaṁ udakadahaṁ otthareyya … sabbe te imeheva dvāsaṭṭhiyā vatthūhi antojālīkatā ettha sitāva ummujjamānā ummujjanti.
Này các Tỷ-kheo, cũng ví như người đánh cá lành nghề hay người học đánh cá vung lưới trên mặt hồ nước nhỏ có mắt sít sao. Người ấy nghĩ: “Những con cá lớn ở trong hồ nước nhỏ này, tất cả chúng đều bị bao phủ trong tấm lưới này, dầu chúng có nhảy vọt lên, chúng vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây”. Cũng như vậy này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào, luận bàn về quá khứ tối sơ, hay luận bàn về tương lai … tất cả những vị này đều bị bao phủ trong lưới của sáu mươi hai luận chấp này; dầu có nhảy vọt lên, những vị này vẫn bị hạn cuộc bao phủ ở nơi đây.
Suppose a deft fisherman or his apprentice were to cast a fine-meshed net over a small pond … In the same way, all of these ascetics and brahmins who speculate and theorize about the first beginning or the final end are trapped in the net of these sixty-two grounds, so that wherever they emerge they are caught and trapped in this very net.
DN 1 — Tụng phẩm thứ ba (dn1:3.73.1–3.73.3 và 3.74.3, 3.74.6)
Ucchinnabhavanettiko, bhikkhave, tathāgatassa kāyo tiṭṭhati. Yāvassa kāyo ṭhassati, tāva naṁ dakkhanti devamanussā … ‘Tasmātiha tvaṁ, ānanda, imaṁ dhammapariyāyaṁ atthajālantipi naṁ dhārehi, dhammajālantipi naṁ dhārehi, brahmajālantipi naṁ dhārehi, diṭṭhijālantipi naṁ dhārehi, anuttaro saṅgāmavijayotipi naṁ dhārehī’ti … Imasmiñca pana veyyākaraṇasmiṁ bhaññamāne dasasahassī lokadhātu akampitthāti.
Này các Tỷ-kheo, thân của Như Lai còn tồn tại, nhưng cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt. Khi thân của vị này còn tồn tại thời chư Thiên và loài Người còn có thể thấy thân ấy. Khi thân hoại mạng chung, thời chư Thiên và loài Người không thể thấy được. … Này Ānanda, pháp môn này gọi là “Lợi Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Pháp Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Phạm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Kiếm Võng”, hãy như vậy mà phụng trì; gọi là “Vô thượng Chiến thắng”, hãy như vậy mà phụng trì. … Trong khi kinh này được truyền thuyết, một ngàn thế giới đều rung động.
The Realized One’s body remains, but his leash to existence has been cut off. As long as his body remains he will be seen by gods and humans. But when his body breaks up, after life has ended, gods and humans will see him no more. … ‘Well then, Ānanda, you may remember this exposition of the teaching as “The Net of Meaning”, or else “The Net of the Teaching”, or else “The Divine Net”, or else “The Net of Views”, or else “The Supreme Victory in Battle”.’ … And while this discourse was being spoken, the ten-thousandfold galaxy shook.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
BrahmajālaPhạm Võng — "lưới Phạm thiên", tấm lưới bao trùm mọi tà kiếnKinh có năm tên: atthajāla (Lợi Võng), dhammajāla (Pháp Võng), brahmajāla (Phạm Võng), diṭṭhijāla (Kiến Võng — bản Việt dịch "Kiếm Võng"), anuttaro saṅgāmavijayo (Vô thượng Chiến thắng)
diṭṭhikiến, tà kiến, sở kiến — quan điểm chấp thủ
dvāsaṭṭhi vatthūnisáu mươi hai luận chấp (62 căn cứ tà kiến)18 về quá khứ tối sơ + 44 về tương lai
pubbantakappika / aparantakappikaluận bàn về quá khứ tối sơ / luận bàn về tương lai
sassatavādaThường trú luận — chấp bản ngã và thế giới là thường còn (4 luận chấp)
ekaccasassatika ekaccaasassatikamột phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận (4 luận chấp)
antānantikaHữu biên Vô biên luận — chấp thế giới là hữu biên hay vô biên (4 luận chấp)
amarāvikkhepikaNgụy biện luận — "trườn uốn như con lươn", né tránh trả lời (4 luận chấp)
adhiccasamuppannikaVô nhân luận — chấp bản ngã và thế giới do vô nhân sanh (2 luận chấp)
saññīvāda / asaññīvāda / nevasaññīnāsaññīvādaHữu tưởng luận (16), Vô tưởng luận (8), Phi Hữu tưởng Phi Vô tưởng luận (8) sau khi chết
ucchedavādaÐoạn diệt luận — chấp sự đoạn diệt, tiêu mất, hủy hoại của loài hữu tình (7 luận chấp)
diṭṭhadhammanibbānavādaHiện tại Niết Bàn luận (5 luận chấp)
phassāyatana (cha phassāyatanāni)xúc xứ — sáu chỗ tiếp xúc; mọi luận chấp đều phát khởi do sự xúc chạm
upādāna / taṇhā / bhavathủ / tham ái / hữu — mắt xích duyên khởi nêu ở phần kết
bhavanetti (ucchinnabhavanettiko)sợi dây dẫn đến tái sanh; "cái khiến đưa đến đời sống khác đã bị chấm dứt"
puthujjanaphàm phu — người chưa chứng thánh quả
sīla (cūḷa/majjhima/mahā-sīla)giới — Tiểu Giới, Trung Giới, Ðại Giới
dhammapariyāyapháp môn — bài pháp, cách trình bày giáo pháp

Bài đầu tiên của Tạng Kinh không dạy giáo lý — nó dạy thái độ. Trước cả Tứ Diệu Đế, trước cả Bát Chánh Đạo, điều Đức Phật dạy là: khi bị chê thì đừng công phẫn, khi được khen thì đừng thích thú. Vị trí của bài kinh này không phải ngẫu nhiên.

Lý do Ngài đưa ra rất thực tế. Không phải “giận là xấu”. Ngài nói: nếu các ngươi công phẫn và phiền muộn, thời các ngươi có thể biết được lời nói của những kẻ ấy là đúng hay sai lạc chăng? Nghĩa là — giận lên thì mất khả năng thẩm định. Đó là lý do kỹ thuật, không phải lý do đạo đức.

Và Ngài không bảo im lặng. Ngài dạy phải nói rõ: “điểm này không đúng sự thật, điểm này không chính xác, việc này không có giữa chúng tôi.” Không giận, nhưng cũng không nhận bừa. Hai vế phải đi cùng nhau.

Vế được khen còn khó hơn vế bị chê. Ngài dạy chớ hoan hỷ, vui mừng, thích thú khi được tán thán. Rồi Ngài nói thêm điều bất ngờ: những gì người thường dùng để khen Như Lai chỉ là chuyện nhỏ nhặt thuộc giới luật — không sát sanh, không nói láo, không xem bói. Ngài coi lời khen về đức hạnh của mình là chuyện vặt.

62 luận chấp — vì sao kể ra hết. Ngài không bác bỏ từng cái. Với mỗi luận chấp, kinh lặp một câu: Như Lai tuệ tri, nhưng không chấp trước, nhờ vậy nội tâm chứng được tịch tịnh. Biết mà không nắm — đó mới là chỗ khác.

Ví dụ tấm lưới, chỗ đặt tên kinh. Người đánh cá lành nghề vung tấm lưới mắt sít sao phủ khắp hồ nhỏ; đàn cá dầu nhảy vọt lên vẫn còn hạn cuộc trong lưới ấy. Cũng vậy, mọi nhà chấp kiến dầu nghĩ ra bao nhiêu chủ thuyết cũng không ra khỏi 62 luận chấp này. Bị bao vây bởi chính cái mình nghĩ ra.

Kết luận sắc nhất nằm ở cuối. Tất cả 62 luận chấp ấy đều là cảm thọ do xúc chạm, rồi ái, thủ, hữu, sanh, già chết. Ai như thật biết sáu xúc xứ thì hiểu biết vượt ra ngoài tất cả. Không cãi lại quan điểm nào — chỉ chỉ ra chúng từ đâu mà ra.

Một chỗ hai ấn bản chia khác nhau. Mười sáu luận chấp Hữu tưởng luận: bản Việt Hoà thượng Minh Châu xếp vào Tụng phẩm thứ hai, còn ấn bản Pāli chia khác. Không phải ai sai — các ấn bản Tam Tạng vốn chia tụng phẩm không hoàn toàn giống nhau. Chúng tôi theo bản Việt và ghi rõ chỗ này.

  • “Không được vui khi người ta khen.” Kinh nói chớ để lời khen làm mình hoan hỷ thích thú — và dạy vẫn phải công nhận điều đúng là đúng.
  • “Bị chê thì im lặng cho qua.” Ngài dạy phải nói rõ chỗ nào không đúng sự thật.
  • “62 luận chấp là để học thuộc.” Chúng được kể ra để thấy mọi chủ thuyết đều nằm trong lưới, không phải để nhớ tên.
  • Ngành Oanh. Chỉ lấy ví dụ cá trong lưới. Và một câu: được khen thì đừng vội mừng.
  • Ngành Thiếu. Câu “giận lên thì còn biết được lời ấy đúng hay sai chăng?”rất hợp lứa tuổi hay bị chọc.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Bài này nên đọc khi đoàn có chuyện tranh cãi. Hai vế: không giận, nhưng vẫn nói rõ sự thật.
  • Vì sao bài mở đầu Tạng Kinh lại nói về khen chê?
  • Vì sao giận làm mất khả năng thẩm định?
  • Vì sao Ngài coi lời khen về giới hạnh của mình là chuyện nhỏ nhặt?
  • Biết mà không nắm — em hiểu thế nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 4 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.