G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 152
Trung Bộ · Bài Kinh Cuối Cùng

Kinh Căn Tu Tập

Indriyabhāvanā Sutta — MN 152 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Căn Tu Tập

Một thanh niên nói: tu tập các căn nghĩa là mắt không thấy sắc, tai không nghe tiếng. Đức Phật đáp bằng một câu làm cả hội chúng im lặng: vậy thì người mù và người điếc đều là bậc có căn tu tập cả sao? Đây là bài kinh cuối cùng của Trung Bộ.

  • Bộ — Trung Bộ, bài 152 — bài cuối cùng
  • Người hỏi — thanh niên Uttara, đệ tử Bà-la-môn Pārāsariya
  • Nơi chốn — làng Kajaṅgalā, rừng Mukhelu
  • Cấu trúc — ba hạng: bậc hữu học, bậc Thánh có căn tu tập, và bậc vô thượng

Kinh Căn Tu Tập là bài kinh cuối của Trung Bộ, dạy về cách tu tập sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Mở đầu, thanh niên Bà-la-môn Uttara thưa rằng thầy mình, Bà-la-môn Pārāsariya, dạy căn tu tập là "không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai". Thế Tôn liền chỉ ra chỗ sai: nếu vậy thì người mù, người điếc đều là người có căn tu tập, vì họ cũng không thấy, không nghe. Uttara ngồi im lặng, hổ thẹn, không nói năng gì. Thế Tôn quay sang Tôn giả Ānanda và giảng thế nào là "vô thượng căn tu tập trong giới luật bậc Thánh". Không phải bịt mắt che tai, mà là: khi mắt thấy sắc (rồi lần lượt tai nghe tiếng, mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân cảm xúc, ý nhận thức pháp), nơi vị Tỷ-kheo khởi lên khả ý (thích), bất khả ý (ghét), hoặc cả hai. Vị ấy tuệ tri: cái khởi lên đó là hữu vi nên thô, do duyên sinh; còn "cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả". Nhờ vậy, thích và ghét đoạn diệt, xả tồn tại. Kinh dùng sáu ví dụ về tốc độ: mở mắt rồi nhắm mắt, lực sĩ búng tay, giọt nước trượt khỏi lá sen, nhổ cục đờm trên đầu lưỡi, co duỗi cánh tay, và giọt nước rơi trên chậu sắt nung nóng. Kế đó Thế Tôn phân biệt ba hạng: (1) vô thượng căn tu tập (bậc đã thành tựu); (2) đạo lộ của vị hữu học — còn khởi thích ghét nên "ưu não, tàm quý, ghét bỏ"; (3) bậc Thánh các căn được tu tập (A-la-hán) — có thể tùy ý an trú với tưởng không yếm ly nơi vật yếm ly, hoặc ngược lại, hoặc từ bỏ cả hai mà an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác. Kinh khép lại bằng lời sách tấn nổi tiếng: "đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống… hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau." Với Huynh trưởng GĐPT, đây là bài kinh dạy tu giữa đời sống: vẫn thấy, vẫn nghe, nhưng không bị cuốn theo thích – ghét.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở Kajangalā, tại Mukheluvana. Thanh niên Bà-la-môn Uttara, đệ tử của Pārāsariya, đến hầu Thế Tôn (đoạn 1–2).
  • 2. Quan niệm sai về căn tu tập bị bác bỏ — Uttara nói thầy mình dạy "không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai". Thế Tôn chỉ ra: như vậy người mù, người điếc là người có căn tu tập. Uttara im lặng, hổ thẹn (đoạn 2).
  • 3. Thế Tôn gọi Tôn giả Ānanda và nhận lời thuyết giảng — "Bà-la-môn Pārāsariya thuyết căn tu tập một cách khác; trong giới luật các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy." Ānanda thỉnh, Thế Tôn nhận lời (đoạn 3).
  • 4. Vô thượng căn tu tập qua sáu căn, với sáu ví dụ về tốc độ — Mắt thấy sắc – ví dụ mở/nhắm mắt (đoạn 4); tai nghe tiếng – lực sĩ búng tay (5); mũi ngửi hương – giọt nước trên lá sen (6); lưỡi nếm vị – nhổ cục đờm trên đầu lưỡi (7); thân cảm xúc – co duỗi cánh tay (8); ý nhận thức pháp – giọt nước trên chậu sắt nung nóng (9). Mỗi trường hợp: tuệ tri cái khởi lên là hữu vi, thô, do duyên sinh; xả là an tịnh, thù diệu; thích ghét đoạn diệt, xả tồn tại.
  • 5. Đạo lộ của vị hữu học (sekha) — Khi khả ý, bất khả ý khởi lên qua sáu căn, vị hữu học "ưu não, tàm quý, ghét bỏ" đối với chúng (đoạn 10).
  • 6. Bậc Thánh, các căn được tu tập (ariyo bhāvitindriyo) — Có thể tùy ước muốn mà an trú với tưởng không yếm ly nơi vật yếm ly, tưởng yếm ly nơi vật không yếm ly, hai cách phối hợp, hoặc từ bỏ cả hai mà an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác — đối với cả sáu căn (đoạn 11–16).
  • 7. Kết luận và lời sách tấn — Thế Tôn tóm lại ba điều đã giảng (đoạn 17); rồi sách tấn: "đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống… hãy Thiền tư, chớ có phóng dật" (đoạn 18). Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ. Kinh kết thúc Trung Bộ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 152, đoạn 2 (mn152:2.6–2.7)
"Idha, bho gotama, cakkhunā rūpaṁ na passati, sotena saddaṁ na suṇāti—evaṁ kho, bho gotama, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanan"ti.
-- Ở đây, thưa Tôn giả Gotama, không nên thấy sắc với mắt, không nên nghe tiếng với tai. Như vậy, thưa Tôn giả Gotama, Bà-la-môn Pārāsariya thuyết căn tu tập cho các đệ tử.
“Worthy Gotama, it’s when the eye sees no sight and the ear hears no sound. That’s how Pārāsariya teaches his disciples the development of the faculties.”
MN 152, đoạn 2 (mn152:2.8–2.10)
"Evaṁ sante kho, uttara, andho bhāvitindriyo bhavissati, badhiro bhāvitindriyo bhavissati; yathā pārāsiviyassa brāhmaṇassa vacanaṁ. Andho hi, uttara, cakkhunā rūpaṁ na passati, badhiro sotena saddaṁ na suṇātī"ti.
-- Nếu là như vậy, này Uttara, theo như lời nói của Bà-la-môn Pārāsariya, người mù sẽ là người có căn tu tập, người điếc sẽ là người có căn tu tập. Này Uttara, người mù không thấy sắc với mắt, người điếc không nghe tiếng với tai.
“In that case, Uttara, a blind person and a deaf person will have developed faculties according to what Pārāsariya says. For a blind person sees no sight with their eyes and a deaf person hears no sound with their ears.”
MN 152, đoạn 3 (mn152:3.2)
"Aññathā kho, ānanda, deseti pārāsiviyo brāhmaṇo sāvakānaṁ indriyabhāvanaṁ, aññathā ca panānanda, ariyassa vinaye anuttarā indriyabhāvanā hotī"ti.
-- Này Ānanda, Bà-la-môn Pārāsariya thuyết cho các đệ tử căn tu tập một cách khác; nhưng trong giới luật các bậc Thánh, vô thượng căn tu tập khác như vậy.
“Ānanda, the development of the faculties taught by Pārāsariya is quite different from the supreme development of the faculties in the training of the Noble One.”
MN 152, đoạn 4 (mn152:4.2–4.7)
Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So evaṁ pajānāti: 'uppannaṁ kho me idaṁ manāpaṁ, uppannaṁ amanāpaṁ, uppannaṁ manāpāmanāpaṁ. Tañca kho saṅkhataṁ oḷārikaṁ paṭiccasamuppannaṁ. Etaṁ santaṁ etaṁ paṇītaṁ yadidaṁ—upekkhā'ti.
Ở đây, này Ānanda, vị Tỷ-kheo, mắt thấy sắc, khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khả ý này khởi lên nơi ta, bất khả ý này khởi lên nơi ta, khả ý và bất khả ý này khởi lên nơi ta. Cái này khởi lên, vì là hữu vi nên thô. Nhưng cái này là an tịnh, cái này là thù diệu, tức là xả".
When a mendicant sees a sight with their eyes, in them arises what is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated. But this is peaceful and sublime, namely
MN 152, đoạn 4 (mn152:4.10–4.11)
Seyyathāpi, ānanda, cakkhumā puriso ummīletvā vā nimīleyya, nimīletvā vā ummīleyya; evameva kho, ānanda, yassa kassaci evaṁsīghaṁ evaṁtuvaṭaṁ evaṁappakasirena uppannaṁ manāpaṁ uppannaṁ amanāpaṁ uppannaṁ manāpāmanāpaṁ nirujjhati, upekkhā saṇṭhāti.
Này Ānanda, như một người có mắt, sau khi mở mắt, lại nhắm mắt lại, hay sau khi nhắm mắt, lại mở mắt ra; cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên, khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy), và xả tồn tại.
It’s like how a person with clear eyes might open their eyes then shut them; or might shut their eyes then open them. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
MN 152, đoạn 9 (mn152:9.9–9.11)
Seyyathāpi, ānanda, balavā puriso divasaṁsantatte ayokaṭāhe dve vā tīṇi vā udakaphusitāni nipāteyya. Dandho, ānanda, udakaphusitānaṁ nipāto, atha kho naṁ khippameva parikkhayaṁ pariyādānaṁ gaccheyya; evameva kho, ānanda… upekkhā saṇṭhāti.
Này Ānanda, như một người cho nhỏ hai ba giọt nước trong một cái chậu bằng sắt đun nóng mỗi ngày, này Ānanda, các giọt nước rơi rất chậm nhưng chúng bị tiêu diệt, biến đi rất mau, cũng vậy, như vậy là tốc độ, như vậy là sự mau chóng, như vậy là sự dễ dàng đối với cái gì đã khởi lên khả ý, bất khả ý hay khả ý và bất khả ý, (tất cả) đều đoạn diệt (trong vị ấy) và xả tồn tại.
It’s like how a strong person could let two or three drops of water fall onto an iron cauldron that had been heated all day. The drops would be slow to fall, but they’d quickly dry up and evaporate. Such is the speed, the swiftness, the ease with which anything agreeable, disagreeable, and both agreeable and disagreeable that arose in them cease, and equanimity becomes stabilized.
MN 152, đoạn 10 (mn152:10.2–10.10)
Idhānanda, bhikkhuno cakkhunā rūpaṁ disvā uppajjati manāpaṁ, uppajjati amanāpaṁ, uppajjati manāpāmanāpaṁ. So tena uppannena manāpena uppannena amanāpena uppannena manāpāmanāpena aṭṭīyati harāyati jigucchati… Evaṁ kho, ānanda, sekho hoti pāṭipado.
Ở đây, này Ānanda, Tỷ-kheo mắt thấy sắc khởi lên khả ý, khởi lên bất khả ý, khởi lên khả ý và bất khả ý. Vì rằng có khả ý khởi lên, có bất khả ý khởi lên, có khả ý và bất khả ý khởi lên, vị ấy ưu não, tàm quý, ghét bỏ. […] Như vậy, này Ānanda là đạo lộ của vị hữu học.
When a mendicant sees a sight with their eyes, in them arises what is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable. They understand: ‘What is agreeable, what is disagreeable, and what is both agreeable and disagreeable have arisen in me. That’s conditioned, crude, and dependently originated.
MN 152, đoạn 11–15 (mn152:11-15.7)
Sace ākaṅkhati: 'paṭikūlañca appaṭikūlañca tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako vihareyyaṁ sato sampajāno'ti, upekkhako tattha viharati sato sampajāno.
Nếu vị ấy khởi lên ước muốn: "Mong rằng, tôi sau khi từ bỏ cả hai yếm ly và không yếm ly, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác", thời ở đây, vị ấy an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
MN 152, đoạn 18 (mn152:18.1–18.2)
Yaṁ kho, ānanda, satthārā karaṇīyaṁ sāvakānaṁ hitesinā anukampakena anukampaṁ upādāya, kataṁ vo taṁ mayā. Etāni, ānanda, rukkhamūlāni, etāni suññāgārāni, jhāyathānanda, mā pamādattha, mā pacchā vippaṭisārino ahuvattha. Ayaṁ vo amhākaṁ anusāsanī"ti.
Này Ānanda, những gì một bậc Ðạo sư phải làm, vì lòng từ mẫn, mưu cầu hạnh phúc cho các đệ tử, những điều ấy Ta đã làm cho các Ông. Này Ānanda, đây là những gốc cây, đây là những chỗ trống. Này Ānanda, hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là những lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Out of sympathy, I’ve done what a teacher should do who wants what’s best for their disciples. Here are these roots of trees, and here are these empty huts. Practice absorption, Ānanda! Don’t be negligent! Don’t regret it later! This is my instruction to you.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
indriyabhāvanācăn tu tập — sự tu tập các giác quan (sáu căn)indriya = căn, giác quan; bhāvanā = tu tập, phát triển
anuttarā indriyabhāvanāvô thượng căn tu tậptrong giới luật bậc Thánh (ariyassa vinaye)
manāpakhả ý — cái vừa ý, dễ chịu
amanāpabất khả ý — cái không vừa ý
manāpāmanāpakhả ý và bất khả ý — vừa vừa ý vừa không vừa ýNghĩa đen: vừa khả ý vừa bất khả ý. Cách hiểu "tương ứng trạng thái trung tính" là theo Chú giải, không phải nghĩa đen của chữ.
upekkhāxả — tâm quân bình, không thiên lệchChú giải (MA) gọi đây là xả của tuệ quán (vipassan'upekkhā)
saṅkhatahữu vi — cái do các duyên tạo thành
oḷārikathô
paṭiccasamuppannado duyên sinh, duyên khởi
santa / paṇītaan tịnh / thù diệuhai chữ tán thán xả
sekha (pāṭipada)hữu học — vị còn đang tu học trên đạo lộchưa phải bậc vô học (A-la-hán)
ariyo bhāvitindriyobậc Thánh, các căn được tu tậpChú giải: chỉ bậc A-la-hán
paṭikūla / appaṭikūlayếm ly / không yếm ly (đáng ghê tởm / không đáng ghê tởm)
sato sampajānochánh niệm, tỉnh giác
cakkhuviññeyya rūpacác sắc do mắt nhận thứctương tự: sotaviññeyya sadda, ghānaviññeyya gandha, jivhāviññeyya rasa, kāyaviññeyya phoṭṭhabba, manoviññeyya dhamma
jhāyatha, mā pamādatthahãy thiền tư, chớ có phóng dậtlời sách tấn thường gặp cuối nhiều bài kinh

Câu trả lời của Ngài không phải để chê. Ngài chỉ đẩy chủ trương ấy tới cùng: nếu không thấy không nghe là tu tập các căn, thì người mù và người điếc đã thành tựu cả rồi. Uttara im lặng, hổ ngươi, cúi đầu.

Rồi Ngài dạy điều khác hẳn. Tu tập các căn không phải là chặn cửa giác quan. Khi thấy sắc, vẫn khởi lên khả ý, bất khả ý, hoặc cả haiđiều ấy không tránh được. Chỗ tu là ở cái xảy ra tiếp theo.

Và Ngài tả tốc độ bằng ba ví dụ rất đời. Cái khởi lên ấy diệt đi nhanh như: người mắt sáng chớp mắt; giọt nước rơi trên chảo sắt nung cả ngày; cây thốt nốt bị chặt ngọn. Ba ví dụ, ba tốc độ khác nhau — cho mắt, cho tai mũi lưỡi thân, và cho ý.

Rồi tới chỗ ít ai để ý, và đây mới là điểm. Bậc hữu học thì xấu hổ, nhàm chán khi cái ấy khởi lên — nghĩa là vẫn còn phản ứng. Bậc Thánh có căn tu tập thì làm chủ được: muốn an trú với tưởng ghê tởm trên vật không ghê tởm cũng được, ngược lại cũng được, hoặc an trú xả, chánh niệm tỉnh giác.

Chỗ này lật ngược cách hiểu thông thường. Người ta tưởng tu cao là không còn thấy gì đẹp xấu. Kinh nói ngược: bậc Thánh có thêm lựa chọn, chứ không phải mất khả năng cảm nhận. Tự do, không phải tê liệt.

Vì sao bài này đặt ở cuối Trung Bộ. Cả bộ kinh dài dạy đủ thứ, và bài cuối quay lại chỗ đơn giản nhất: mắt thấy, tai nghe, mỗi ngày. Không có chỗ tu nào khác ngoài chỗ ấy.

Một chỗ chúng tôi ghi rõ. Chữ manāpāmanāpa nghĩa đen là “vừa khả ý vừa bất khả ý”. Cách hiểu “tương ứng trạng thái trung tính”theo Chú giải, không phải nghĩa đen — chúng tôi ghi rõ để quý anh chị phân biệt được đâu là kinh, đâu là lời giải đời sau.

  • “Tu là không nhìn, không nghe.” Kinh bác thẳng: vậy người mù người điếc đã thành tựu.
  • “Bậc Thánh không còn thấy đẹp xấu.” Kinh nói bậc Thánh có thêm lựa chọn, không phải mất cảm nhận.
  • “Xấu hổ nhàm chán là dấu hiệu tu cao.” Đó là bậc hữu học — còn đang trên đường.
  • Ngành Oanh. Chớp mắt — cho các em thử. Cái khó chịu qua nhanh như vậy.
  • Ngành Thiếu. Hỏi: tu có phải là không được thích cái gì nữa không? Rồi đọc đoạn người mù người điếc.
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Phân biệt bậc hữu họcbậc có căn tu tập — rất hữu ích để bớt tự trách khi còn phản ứng.
  • Vì sao câu người mù người điếc lại dứt khoát đến vậy?
  • Ba ví dụ về tốc độ khác nhau ra sao?
  • Bậc hữu học khác bậc có căn tu tập chỗ nào?
  • Vì sao bài này đặt ở cuối Trung Bộ?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.