G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 151
Suy Tư, Suy Tư · Thói Quen Tự Xét Mỗi Ngày

Kinh Khất Thực Thanh Tịnh

Piṇḍapātapārisuddhi Sutta — MN 151 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Khất Thực Thanh Tịnh

Thế Tôn nhìn sắc mặt Tôn giả Xá-lợi-phất mà biết có chuyện: “các căn sáng suốt, sắc da thanh tịnh trong sáng”. Từ câu trả lời “con đang an trú với KHÔNG TRÚ”, Ngài dạy một thói quen rất giản dị mà dùng được cả đời: suy tư, suy tư — tự xét lại mình sau mỗi việc.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 151 — bài CUỐI của Trung Bộ
  • Nơi thuyết — Rājagaha, Trúc Lâm
  • Nhân vật — Thế Tôn và Tôn giả Sāriputta
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Khất thực thanh tịnh là bài kinh ngắn, ghi lại cuộc đối đáp giữa Thế Tôn và Tôn giả Xá-lợi-phất tại Trúc Lâm, thành Vương Xá. Thấy các căn của Tôn giả sáng suốt, sắc da thanh tịnh trong sáng, Thế Tôn hỏi ngài đang phần lớn an trú với loại an trú nào. Tôn giả đáp: con đang phần lớn an trú với Không trú (suññatāvihāra). Thế Tôn tán thán "Lành thay, lành thay!" và xác nhận đó chính là sự an trú của bậc Ðại nhân. Từ đó, Thế Tôn dạy một pháp tu rất cụ thể cho người xuất gia: muốn phần lớn an trú với không tánh thì phải biết TỰ XÉT LẠI (paccavekkhitvā paccavekkhitvā - suy tư, suy tư). Vị Tỷ-kheo tự hỏi: trên con đường đi vào làng khất thực, tại chỗ khất thực, và trên con đường trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, nơi ta có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không? Nếu CÓ, phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nếu KHÔNG, thì an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp. Cùng một cách xét như vậy được lặp lại cho đủ sáu căn: tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý. Kế đến, Thế Tôn mở rộng việc tự xét sang toàn bộ lộ trình tu tập: đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? đã đoạn tận năm triền cái chưa? đã liễu tri năm thủ uẩn chưa? đã tu tập bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành chưa? đã tu tập Chỉ và Quán chưa? đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? Mỗi câu đều theo cùng một khuôn: chưa thì tinh tấn, rồi thì hoan hỷ mà tiếp tục học. Cuối kinh, Thế Tôn dạy rằng các Sa-môn, Bà-la-môn trong quá khứ, tương lai và hiện tại làm cho khất thực được thanh tịnh đều bằng cách suy tư, suy tư như vậy; và khuyên "Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh". Với Huynh trưởng và đoàn sinh, bài kinh dạy thói quen kiểm điểm chính mình mỗi ngày sau mỗi việc đã làm.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi tại Trúc Lâm — Thế Tôn ở Rājagaha, Veluvana, chỗ nuôi dưỡng sóc. Tôn giả Sāriputta buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đến đảnh lễ và ngồi một bên (SC 1-2; mn151:1.1-1.3).
  • 2. Câu hỏi về sự an trú và câu đáp "Không trú" — Thế Tôn hỏi vì sao các căn sáng suốt, sắc da thanh tịnh; Tôn giả đáp đang phần lớn an trú với Không trú. Thế Tôn tán thán đó là sự an trú của bậc Ðại nhân, tức là không tánh (SC 3-5; mn151:2.1-2.7).
  • 3. Tự xét sáu căn trước, trong và sau khi khất thực — Xét đối với sắc do mắt nhận thức, rồi tiếng, hương, vị, xúc, pháp: có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không? Có thì tinh tấn đoạn tận; không thì an trú với hỷ và hân hoan, ngày đêm tu học trong các thiện pháp (SC 5-8; mn151:3.1-4-8.10).
  • 4. Tự xét năm dục trưởng dưỡng và năm triền cái — "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa?" và "Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?" - chưa thì tinh tấn đoạn tận, rồi thì hoan hỷ tu học (SC 9-10; mn151:9.1-10.6).
  • 5. Tự xét việc liễu tri năm thủ uẩn — "Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?" - chưa thì tinh tấn liễu tri, rồi thì hoan hỷ tu học (SC 11; mn151:11.1-11.6).
  • 6. Tự xét ba mươi bảy phẩm trợ đạo — Bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành: đã tu tập chưa? - chưa thì tinh tấn tu tập, rồi thì hoan hỷ tu học (SC 12-13; mn151:12.1-18.6).
  • 7. Tự xét Chỉ - Quán, và minh - giải thoát — "Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa?" và "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa?" - theo cùng một khuôn tinh tấn hoặc hoan hỷ (SC 14-15; mn151:19.1-20.6).
  • 8. Kết luận: ba đời đều thanh tịnh khất thực bằng cách suy tư — Sa-môn, Bà-la-môn ba đời đều làm cho khất thực thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy; lời khuyên học tập. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ (SC 16-17; mn151:21.1-21.7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 1 (mn151:1.2)
ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
SC 3 (mn151:2.1-2.2)
“Vippasannāni kho te, sāriputta, indriyāni, parisuddho chavivaṇṇo pariyodāto. Katamena kho tvaṁ, sāriputta, vihārena etarahi bahulaṁ viharasī”ti?
—Này Sāriputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?
“Sāriputta, your faculties are so very clear, and your complexion is pure and bright. What kind of meditation are you usually practicing these days?”
SC 4 (mn151:2.3)
“Suññatāvihārena kho ahaṁ, bhante, etarahi bahulaṁ viharāmī”ti.
—Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.
“Sir, these days I usually practice the meditation on emptiness.”
SC 5, phần đầu (mn151:2.4-2.7)
“Sādhu sādhu, sāriputta. Mahāpurisavihārena kira tvaṁ, sāriputta, etarahi bahulaṁ viharasi. Mahāpurisavihāro eso, sāriputta, yadidaṁ—suññatā.
—Lành thay, lành thay! Này Sāriputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sāriputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh.
“Good, good, Sāriputta! It seems you usually practice the meditation of a great man. For emptiness is the meditation of a great man.
SC 5, phần sau (mn151:3.3)
‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, atthi nu kho me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti?
“Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?”
‘Along the path that I went for alms, or in the place I wandered for alms, or along the path that I returned from alms, was there any desire or greed or hate or delusion or aversion in my heart for sights known by the eye?’
SC 6, phần sau (mn151:3.7)
Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘yena cāhaṁ maggena gāmaṁ piṇḍāya pāvisiṁ, yasmiñca padese piṇḍāya acariṁ, yena ca maggena gāmato piṇḍāya paṭikkamiṁ, natthi me tattha cakkhuviññeyyesu rūpesu chando vā rāgo vā doso vā moho vā paṭighaṁ vāpi cetaso’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Nhưng này Sāriputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: “Trên con đường ta đã đi … ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
But suppose that, upon checking, a mendicant knows that there was no such desire or greed or hate or delusion or aversion in their heart, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
SC 11 (mn151:11.1-11.6)
Puna caparaṁ, sāriputta, bhikkhunā iti paṭisañcikkhitabbaṁ: ‘pariññātā nu kho me pañcupādānakkhandhā’ti? Sace, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘apariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā pañcannaṁ upādānakkhandhānaṁ pariññāya vāyamitabbaṁ. Sace pana, sāriputta, bhikkhu paccavekkhamāno evaṁ jānāti: ‘pariññātā kho me pañcupādānakkhandhā’ti, tena, sāriputta, bhikkhunā teneva pītipāmojjena vihātabbaṁ ahorattānusikkhinā kusalesu dhammesu.
Lại nữa, này Sāriputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: “Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?” Này Sāriputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: “Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sāriputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: “Ta đã liễu tri năm thủ uẩn”, thời này Sāriputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.
Furthermore, a mendicant should reflect: ‘Have I completely understood the five grasping aggregates?’ Suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have not completely understood them, they should make an effort to do so. But suppose that, upon checking, a mendicant knows that they have completely understood them, they should meditate with rapture and joy, training day and night in skillful qualities.
SC 16 (mn151:21.1-21.5)
Ye hi keci, sāriputta, atītamaddhānaṁ samaṇā vā brāhmaṇā vā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ, sabbe te evameva paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhesuṁ. […] Tasmātiha, sāriputta, ‘paccavekkhitvā paccavekkhitvā piṇḍapātaṁ parisodhessāmā’ti— evañhi vo, sāriputta, sikkhitabban”ti.
Này Sāriputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. […] Vậy này Sāriputta, các Ông cần phải học tập như sau: “Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh”. Này Sāriputta, các Ông phải tu tập như vậy.
Whether in the past, future, or present, all those who purify their almsfood do so by continually checking in this way. So, Sāriputta, you should all train like this: ‘We shall purify our almsfood by continually checking.’”
SC 17 (mn151:21.6-21.7)
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā sāriputto bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Sāriputta approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
piṇḍapātakhất thực; đồ ăn khất thựcBản Việt dịch là "khất thực"; bản Anh của Sujato dịch "almsfood".
pārisuddhisự thanh tịnh, trong sạchGhép với piṇḍapāta thành tên kinh: sự thanh tịnh của việc khất thực.
suññatā / suññatāvihārakhông tánh / Không trú (sự an trú trong không tánh)Bản Việt: "Không trú", "không tánh".
mahāpurisavihārasự an trú của bậc Ðại nhân
paccavekkhati / paccavekkhitvā paccavekkhitvāquán xét, xét lại / suy tư, suy tưChữ then chốt của bài kinh: tự kiểm điểm lặp đi lặp lại.
chando, rāgo, doso, moho, paṭighaṁdục, tham, sân, si, hận tâmNăm điều phải tự xét đối với mỗi căn.
pañca kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng
pañca nīvaraṇānăm triền cái
pañcupādānakkhandhānăm thủ uẩn
pariññā / pariññātāliễu tri, hiểu biết trọn vẹn
cattāro satipaṭṭhānābốn niệm xứ
cattāro sammappadhānābốn chánh cần
cattāro iddhipādābốn như ý túc
pañcindriyāni / pañca balāninăm căn / năm lực
satta bojjhaṅgābảy giác chi
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành
samatho ca vipassanāChỉ và Quán
vijjā ca vimuttiminh và giải thoát
pītipāmojjahỷ và hân hoanBản Việt: "an trú với hỷ và hân hoan".
ahorattānusikkhīngày đêm tu học

Xin thưa trước: đây là bài kinh CUỐI CÙNG của Trung Bộ — bài thứ 152 theo cách đánh số, và trang này khép lại trọn bộ 152 bài.

Và bài kinh mở đầu bằng một cảnh rất người: Thế Tôn NHÌN SẮC MẶT học trò mà biết có chuyện. Ngài thấy “các căn của Tôn giả rất sáng suốt, sắc da thanh tịnh trong sáng” — nên Ngài hỏi ngài đang phần lớn an trú với loại an trú nào.

Xin để ý chi tiết ấy. Bậc Đạo Sư để ý tới sắc mặt của học trò. Ngài không đợi ai thưa — Ngài thấy trước và hỏi trước. Đó là một điều rất đáng học cho anh chị Huynh Trưởng: nhìn mặt các em mà biết em nào hôm nay khác.

Tôn giả đáp rất gọn: “Con đang phần lớn an trú với KHÔNG TRÚ” (suññatāvihāra). Và Thế Tôn tán thán “Lành thay, lành thay!”, xác nhận đó chính là sự an trú của bậc ĐẠI NHÂN.

Rồi từ đó Thế Tôn dạy pháp tu rất cụ thể, và cả bài kinh nằm trong MỘT chữ được lặp đi lặp lại: SUY TƯ, SUY TƯ (paccavekkhitvā paccavekkhitvā) — tức TỰ XÉT LẠI, xét đi xét lại.

Và việc tự xét ấy bắt đầu từ chỗ rất bình thường: BỮA KHẤT THỰC hằng ngày. Vị Tỷ-kheo tự hỏi về BA chặng: trên con đường ĐI VÀO làng, tại chỗ khất thực, và trên con đường TRỞ VỀ.

Câu hỏi là: đối với các sắc do mắt nhận thức, nơi ta có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?

Và cách xử thì có HAI ngả, xin bác để ý cả hai đều được nói tới. Nếu — thì phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nếu KHÔNG — thì an trú với HỶ và HÂN HOAN, ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Xin thưa vế thứ hai mới là chỗ hiếm và rất đáng quý. Phần lớn chúng ta chỉ biết tự xét để BẮT LỖI mình. Bài kinh dạy: khi xét thấy KHÔNG có lỗi thì phải MỪNG“an trú với hỷ và hân hoan”. Tự xét mà chỉ để tự trách thì mới đi được một nửa.

Và cùng một cách xét ấy được lặp cho đủ SÁU CĂN: tiếng do tai, hương do mũi, vị do lưỡi, xúc do thân, pháp do ý.

Rồi Thế Tôn MỞ RỘNG việc tự xét ra toàn bộ lộ trình tu tập — và đây là phần rất đáng chép ra. Cùng một khuôn “chưa thì tinh tấn, rồi thì hoan hỷ”, vị ấy tự hỏi lần lượt:

“Ta đã đoạn tận NĂM DỤC TRƯỞNG DƯỠNG chưa?”“Ta đã đoạn tận NĂM TRIỀN CÁI chưa?”“Ta có LIỄU TRI NĂM THỦ UẨN chưa?”

Rồi tới các nhóm pháp trợ đạo: bốn niệm xứ, bốn chánh cần, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi, Thánh đạo Tám ngành“đã tu tập chưa?”

Và sau cùng là hai câu lớn nhất: “Ta đã tu tập CHỈ và QUÁN chưa?”“Ta đã chứng ngộ MINH và GIẢI THOÁT chưa?”

Xin thưa cái đẹp của bài kinh nằm ở chỗ KHUÔN MẪU KHÔNG ĐỔI. Từ một chuyện rất nhỏđi khất thực có khởi tâm tham không — cho tới chuyện lớn nhất là giải thoát, vẫn chỉ một cách hỏi ấy: chưa thì gắng, rồi thì mừng.

Nghĩa là bài kinh KHÔNG bắt ai phải đợi tới việc lớn mới tu. Cùng một thói quen ấy dùng cho bữa cơm hôm nay và dùng cho cả đời.

Xin ghi một chỗ chữ nghĩa cho đúng, vì chúng tôi đã nêu ở bài MN 103. Phần bố cục của trang này gọi gộp các nhóm pháp ấy là “ba mươi bảy phẩm trợ đạo” — đó là cách gọi quen của truyền thống; chính kinh chỉ kể tên từng nhóm, không nêu con số.

Và câu kết của bài kinh — cũng là câu kết của cả Trung Bộ — rất giản dị. Thế Tôn dạy: các Sa-môn, Bà-la-môn trong QUÁ KHỨ, TƯƠNG LAI và HIỆN TẠI làm cho khất thực được thanh tịnh, TẤT CẢ đều bằng cách suy tư, suy tư như vậy.

Rồi Ngài khuyên bằng một câu ở thể “chúng ta”: “Sau khi suy tư, suy tư, CHÚNG TA sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh.”

Xin để ý chữ “chúng ta” ấy. Ngài không nói “các ông hãy” — Ngài xếp mình vào cùng một hàng. Và đó là câu cuối cùng của bộ kinh.

Xin thưa lời cuối, cho anh chị em và cũng cho chính con. Trung Bộ có 152 bài, nói đủ mọi chuyện — từ vua chúa tới người chăn bò, từ bốn Thiền tới cách rửa bát. Và bài cuối cùng không dạy một pháp môn cao siêu nào. Nó dạy MỘT THÓI QUEN: làm xong một việc thì ngồi lại hỏi mình một câu — và nếu không có lỗi thì cho phép mình mừng.

  • “Tự xét là để bắt lỗi mình.” Kinh nêu CẢ HAI ngả: có lỗi thì tinh tấn; KHÔNG có lỗi thì an trú với HỶ và HÂN HOAN. Bỏ vế thứ hai là đi được một nửa.
  • “Khất thực thanh tịnh là chuyện của người xuất gia.” Cái được dạy là thói quen TỰ XÉT sau mỗi việc — và khuôn ấy áp cho mọi việc, từ bữa ăn tới cả lộ trình tu tập.
  • “Ba mươi bảy phẩm trợ đạo là chữ trong kinh.” Chính kinh chỉ kể tên từng nhóm, không nêu con số; “ba mươi bảy” là cách gọi gộp của truyền thống — như chúng tôi đã ghi ở MN 103.
  • Ngành Oanh. Dạy một câu hỏi trước khi ngủ: “Hôm nay em có làm ai buồn không?” — và nếu không thì cho em mừng.
  • Ngành Thiếu. Tập ba chặng: trước khi làm — trong khi làm — sau khi làm, áp vào một việc trong tuần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Sau mỗi buổi sinh hoạt, thử ngồi lại hai phút và hỏi đúng khuôn của kinh: có khởi tâm gì không? — chưa xong thì gắng, xong rồi thì mừng.
  • Thế Tôn nhận ra điều gì nơi Tôn giả Xá-lợi-phất?
  • Ba chặng cần tự xét khi khất thực là gì?
  • Nếu xét thấy KHÔNG có lỗi thì phải làm gì?
  • Câu cuối cùng của Trung Bộ dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.