G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 149
Cả Con Đường · Gói Trong Mắt Thấy Tai Nghe

Đại Kinh Sáu Xứ

Mahāsaḷāyatanika Sutta — MN 149 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộĐại Kinh Sáu Xứ

Bài kinh ngắn mà gói trọn cả con đường tu, và bắt đầu từ chỗ rất gần: sáu giác quan của chính mình. Điểm đặc sắc nhất là chỗ Thế Tôn nói chính CÁI THẤY NHƯ CHƠN ấy LÀ chánh kiến — và từ đó Bát Chánh Đạo được tu tập viên mãn.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 149
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Đặc điểm — Thế Tôn tự nêu đề tài, không do ai hỏi
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Ðại kinh Sáu xứ là một bài kinh ngắn nhưng gói trọn cả con đường tu, đi từ chỗ rất gần gũi: sáu giác quan của chính mình. Thế Tôn dạy rằng với mỗi căn — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — có năm thứ đi liền nhau: chính căn ấy, đối tượng của nó (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), thức của nó, xúc của nó, và cảm thọ (lạc, khổ, hoặc bất khổ bất lạc) sanh khởi do duyên xúc ấy. Nếu người ta "không biết, không thấy như chơn" năm thứ đó, thì sanh ái trước. Kinh mô tả rất cụ thể hậu quả: người ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai; ái đưa đến tái sanh tăng trưởng; thân ưu não, tâm ưu não, thân nhiệt não, tâm khổ não đều tăng trưởng; và vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ. Ngược lại, nếu "thấy và biết như chơn" thì không ái trước. Khi ấy năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai, ái được đoạn tận, các ưu não nhiệt não khổ não đều được đoạn tận, và vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc. Ðiểm đặc sắc nhất của kinh nằm ở đoạn kế: cái thấy như chơn ấy chính là chánh kiến, tư duy ấy là chánh tư duy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn, niệm ấy là chánh niệm, định ấy là chánh định — thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng thì đã thanh tịnh từ trước. Như vậy Thánh đạo Tám ngành được tu tập viên mãn; kéo theo bốn niệm xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi cũng viên mãn. Và hai pháp Chỉ (samatha) với Quán (vipassanā) chuyển vận song hành. Cuối cùng Thế Tôn nêu bốn việc phải làm với thượng trí: liễu tri năm thủ uẩn, đoạn tận vô minh và hữu ái, tu tập Chỉ và Quán, chứng ngộ Minh và giải thoát. Với Huynh trưởng, đây là bài kinh cho thấy tu không phải ở đâu xa, mà ngay nơi mắt thấy tai nghe mỗi ngày.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi và lời tuyên bố đề tài — Thế Tôn ở Kỳ-đà Lâm, tinh xá Cấp Cô Ðộc, gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố: 'Ta sẽ giảng Ðại Kinh Sáu Xứ. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ.' Các Tỷ-kheo vâng đáp.
  • 2. Phần bất thiện: không biết không thấy như chơn về mắt — Không biết, không thấy như chơn mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc và cảm thọ do duyên nhãn xúc — nên ái trước. Do ái trước, năm thủ uẩn tích trữ trong tương lai, ái tăng trưởng, các ưu não – nhiệt não – khổ não nơi thân và tâm tăng trưởng, vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
  • 3. Lặp lại cho tai, mũi, lưỡi, thân, ý — Cùng một công thức được lặp cho năm căn còn lại. Xin nói rõ chỗ rút gọn: <strong>tai, mũi, lưỡi và thân</strong> thì bản Pāli và bản Việt đều rút gọn bằng <em>…pe…</em> / dấu ba chấm (mn149:4-7.1 đến 4-7.4); <strong>riêng phần Ý</strong> (ý, các pháp, ý thức, ý xúc) thì <strong>được nêu ĐẦY ĐỦ trong cả ba bản</strong> (Việt SC 8; Pāli mn149:4-7.5) — chúng tôi đã tải lại và đối chiếu tận đoạn, kết lại: vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
  • 4. Phần thiện: thấy và biết như chơn về mắt — Thấy và biết như chơn mắt, các sắc, nhãn thức, nhãn xúc và cảm thọ ấy — nên không ái trước. Năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai, ái được đoạn tận, các ưu não – nhiệt não – khổ não được đoạn tận, vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc.
  • 5. Thánh đạo Tám ngành và các pháp trợ đạo được tu tập viên mãn; Chỉ và Quán song hành — Kiến như chơn ấy là chánh kiến, tư duy ấy là chánh tư duy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn, niệm ấy là chánh niệm, định ấy là chánh định; thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng đã thanh tịnh. Thánh đạo Tám ngành tu tập viên mãn, kéo theo bốn niệm xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi. Hai pháp Chỉ và Quán chuyển vận song hành. Vị ấy liễu tri, đoạn tận, tu tập, chứng ngộ những pháp cần làm với thượng trí.
  • 6. Bốn nhóm pháp cần làm với thượng trí (abhiññā) — Cần liễu tri với thượng trí: năm thủ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Cần đoạn tận: vô minh và hữu ái. Cần tu tập: Chỉ và Quán. Cần chứng ngộ: Minh và giải thoát.
  • 7. Lặp lại phần thiện cho tai, mũi, lưỡi, thân, ý; và kết kinh — Toàn bộ phần thiện được lặp cho năm căn còn lại, rồi kết: 'Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.'

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 149.1 (Việt: SC 1–2; Pāli: mn149:1.1–1.5)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme. Tatra kho bhagavā bhikkhū āmantesi: “bhikkhavo”ti. “Bhadante”ti te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà Lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: “Này các Tỷ-kheo”, “Thưa vâng, bạch Thế Tôn”.
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery. There the Buddha addressed the mendicants, “Mendicants!” “Venerable sir,” they replied.
MN 149.2 (Việt: SC 3; Pāli: mn149:2.1–2.2)
“mahāsaḷāyatanikaṁ vo, bhikkhave, desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng Ðại Kinh Sáu Xứ. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
“Mendicants, I shall teach you the great discourse on what relates to the six sense fields. Listen and apply your mind well, I will speak.”
MN 149.3 (Việt: SC 6; Pāli: mn149:3.1)
“Cakkhuṁ, bhikkhave, ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, rūpe ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi ajānaṁ apassaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ sārajjati, rūpesu sārajjati, cakkhuviññāṇe sārajjati, cakkhusamphasse sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi sārajjati.
Này các Tỷ-kheo, không biết, không thấy như chơn mắt; không biết, không thấy như chơn các sắc; không biết, không thấy như chơn nhãn thức; không biết, không thấy như chơn nhãn xúc; do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ; không biết, không thấy như chơn cảm thọ ấy, vị ấy ái trước đối với mắt, ái trước đối với các sắc, ái trước đối với nhãn thức, ái trước đối với nhãn xúc.
“Mendicants, when you don’t truly know and see the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and what is felt as pleasant, painful, or neutral that arises dependent on eye contact, you’re aroused by these things.
MN 149.3 (Việt: SC 7; Pāli: mn149:3.2–3.7)
Tassa sārattassa saṁyuttassa sammūḷhassa assādānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā upacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pavaḍḍhati. Tassa kāyikāpi darathā pavaḍḍhanti, cetasikāpi darathā pavaḍḍhanti; kāyikāpi santāpā pavaḍḍhanti, cetasikāpi santāpā pavaḍḍhanti; kāyikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti, cetasikāpi pariḷāhā pavaḍḍhanti. So kāyadukkhampi cetodukkhampi paṭisaṁvedeti.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tích trữ trong tương lai. Và ái của vị ấy đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này, chỗ kia; ái ấy được tăng trưởng; những thân ưu não tăng trưởng; những tâm ưu não tăng trưởng; những thân nhiệt não tăng trưởng; những tâm khổ não tăng trưởng. Vị ấy cảm thọ thân khổ và tâm khổ.
Someone who lives aroused like this—fettered, confused, concentrating on gratification—accumulates the five grasping aggregates for themselves in the future. And their craving—which leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights—grows. Their physical and mental stress, torment, and fever grow. And they experience physical and mental suffering.
MN 149.9 (Việt: SC 9; Pāli: mn149:9.1)
Cakkhuñca kho, bhikkhave, jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, rūpe jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhuviññāṇaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusamphassaṁ jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tampi jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ, cakkhusmiṁ na sārajjati, rūpesu na sārajjati, cakkhuviññāṇe na sārajjati, cakkhusamphasse na sārajjati, yamidaṁ cakkhusamphassapaccayā uppajjati vedayitaṁ sukhaṁ vā dukkhaṁ vā adukkhamasukhaṁ vā tasmimpi na sārajjati.
Này các Tỷ-kheo, thấy và biết như chơn mắt, thấy và biết như chơn các sắc, thấy và biết như chơn nhãn thức, thấy và biết như chơn nhãn xúc. Do duyên nhãn xúc này khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ, thấy và biết như chơn cảm thọ ấy; vị ấy không ái trước đối với con mắt, không ái trước đối với các sắc, không ái trước đối với nhãn thức, không ái trước đối với nhãn xúc.
When you do truly know and see the eye, sights, eye consciousness, eye contact, and what is felt as pleasant, painful, or neutral that arises dependent on eye contact, you’re not aroused by these things.
MN 149.9 (Việt: SC 10; Pāli: mn149:9.2–9.7)
Tassa asārattassa asaṁyuttassa asammūḷhassa ādīnavānupassino viharato āyatiṁ pañcupādānakkhandhā apacayaṁ gacchanti. Taṇhā cassa ponobbhavikā nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī, sā cassa pahīyati. Tassa kāyikāpi darathā pahīyanti, cetasikāpi darathā pahīyanti; kāyikāpi santāpā pahīyanti, cetasikāpi santāpā pahīyanti; kāyikāpi pariḷāhā pahīyanti, cetasikāpi pariḷāhā pahīyanti. So kāyasukhampi cetosukhampi paṭisaṁvedeti.
Khi vị ấy trú, quán sát vị ngọt, không bị ái trước, hệ lụy và tham đắm, nên năm thủ uẩn đi đến tàn diệt trong tương lai. Và ái của vị ấy, đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia; ái ấy được đoạn tận; những thân ưu não của vị ấy được đoạn tận; những tâm ưu não được đoạn tận; những thân nhiệt não được đoạn tận; những tâm nhiệt não được đoạn tận; những thân khổ não được đoạn tận; những tâm khổ não được đoạn tận; vị ấy cảm thọ thân lạc và tâm lạc.
Someone who lives unaroused like this—unfettered, unconfused, concentrating on drawbacks—disperses the five grasping aggregates for themselves in the future. And their craving—which leads to future lives, mixed up with relishing and greed, taking pleasure there wherever it alights—is given up. Their physical and mental stress, torment, and fever are given up. And they experience physical and mental pleasure.
MN 149.10 (Việt: SC 11; Pāli: mn149:10.1–10.10)
Yā tathābhūtassa diṭṭhi sāssa hoti sammādiṭṭhi; yo tathābhūtassa saṅkappo svāssa hoti sammāsaṅkappo; yo tathābhūtassa vāyāmo svāssa hoti sammāvāyāmo; yā tathābhūtassa sati sāssa hoti sammāsati; yo tathābhūtassa samādhi svāssa hoti sammāsamādhi. Pubbeva kho panassa kāyakammaṁ vacīkammaṁ ājīvo suparisuddho hoti. Evamassāyaṁ ariyo aṭṭhaṅgiko maggo bhāvanāpāripūriṁ gacchati. Tassa evaṁ imaṁ ariyaṁ aṭṭhaṅgikaṁ maggaṁ bhāvayato cattāropi satipaṭṭhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi sammappadhānā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, cattāropi iddhipādā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi indriyāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, pañcapi balāni bhāvanāpāripūriṁ gacchanti, sattapi bojjhaṅgā bhāvanāpāripūriṁ gacchanti. Tassime dve dhammā yuganandhā vattanti—samatho ca vipassanā ca.
Kiến gì như chơn của vị ấy, kiến ấy là chánh kiến. Tư duy gì như chơn của vị ấy, tư duy ấy là chánh tư duy. Tinh tấn gì như chơn của vị ấy, tinh tấn ấy là chánh tinh tấn. Niệm gì như chơn của vị ấy, niệm ấy là chánh niệm. Ðịnh gì như chơn của vị ấy, định ấy là chánh định. Thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng của vị ấy được thanh tịnh tốt đẹp. Và Thánh đạo Tám ngành này đi đến tu tập và phát triển sung mãn cho vị ấy. Do sự tu tập Thánh đạo Tám ngành này như vậy, bốn niệm xứ đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn chánh tinh tấn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bốn như ý túc cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm căn cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; năm lực cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn; bảy giác chi cũng đi đến tu tập và phát triển sung mãn. Và nơi vị ấy, hai pháp này được chuyển vận song hành: Chỉ và Quán.
The view of such a person is right view. Their intention is right intention, their effort is right effort, their mindfulness is right mindfulness, and their immersion is right immersion. And their actions of body and speech, and their livelihood, have already been fully purified before. So this noble eightfold path is fully developed. When the noble eightfold path is developed, the following are fully developed: the four kinds of mindfulness meditation, the four right efforts, the four bases of psychic power, the five faculties, the five powers, and the seven awakening factors. And these two qualities proceed in conjunction: serenity and discernment.
MN 149.11 (Việt: SC 12–15; Pāli: mn149:11.1–11.13)
Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pariññeyyā? ‘Pañcupādānakkhandhā’ tissa vacanīyaṁ, seyyathidaṁ—rūpupādānakkhandho, vedanupādānakkhandho, saññupādānakkhandho, saṅkhārupādānakkhandho, viññāṇupādānakkhandho. Ime dhammā abhiññā pariññeyyā. Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā pahātabbā? Avijjā ca bhavataṇhā ca—ime dhammā abhiññā pahātabbā. Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā bhāvetabbā? Samatho ca vipassanā ca—ime dhammā abhiññā bhāvetabbā. Katame ca, bhikkhave, dhammā abhiññā sacchikātabbā? Vijjā ca vimutti ca—ime dhammā abhiññā sacchikātabbā.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí? Cần phải trả lời là năm thủ uẩn, tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Những pháp này là những pháp cần phải liễu tri với thượng trí. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải đoạn tận với thượng trí? Vô minh và hữu ái, những pháp này cần phải đoạn tận với thượng trí. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tu tập với thượng trí? Chỉ và Quán, những pháp này cần phải tu tập với thượng trí. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là những pháp cần phải chứng ngộ với thượng trí? Minh và giải thoát, những pháp này cần phải chứng ngộ với thượng trí.
And what are the things that should be completely understood by direct knowledge? You should say: ‘The five grasping aggregates.’ That is: form, feeling, perception, choices, and consciousness. These are the things that should be completely understood by direct knowledge. And what are the things that should be given up by direct knowledge? Ignorance and craving for continued existence. These are the things that should be given up by direct knowledge. And what are the things that should be developed by direct knowledge? Serenity and discernment. These are the things that should be developed by direct knowledge. And what are the things that should be realized by direct knowledge? Knowledge and freedom. These are the things that should be realized by direct knowledge.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saḷāyatanaSáu xứ (sáu nội xứ: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý)Tên kinh Mahāsaḷāyatanika nghĩa là 'thuộc về sáu xứ, bản lớn'; HT. Minh Châu dịch 'Ðại kinh Sáu xứ'.
yathābhūtaṁNhư chơn, đúng như thậtCụm 'jānaṁ passaṁ yathābhūtaṁ' được dịch 'thấy và biết như chơn'.
sārajjatiÁi trước, đắm nhiễmBản Việt: 'ái trước đối với...'.
vedayita / vedanāCảm thọBa loại: sukha (lạc thọ), dukkha (khổ thọ), adukkhamasukha (bất khổ bất lạc thọ).
samphassaXúccakkhusamphassa = nhãn xúc; manosamphassa = ý xúc.
pañcupādānakkhandhāNăm thủ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thứcPháp cần liễu tri với thượng trí.
upacaya / apacayaTích trữ / tàn diệtNăm thủ uẩn 'đi đến tích trữ' hay 'đi đến tàn diệt' trong tương lai.
taṇhā ponobbhavikāÁi đưa đến tái sanhKèm 'nandīrāgasahagatā tatratatrābhinandinī' — câu hữu với hỷ và tham, tìm sự hoan lạc chỗ này chỗ kia.
daratha / santāpa / pariḷāhaƯu não / nhiệt não / khổ nãoBản Việt dịch cả ba, mỗi thứ có phần thân (kāyika) và phần tâm (cetasika).
ariyo aṭṭhaṅgiko maggoThánh đạo Tám ngành
satipaṭṭhāna, sammappadhāna, iddhipāda, indriya, bala, bojjhaṅgaBốn niệm xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chiCác pháp trợ đạo được tu tập sung mãn khi Bát Chánh Ðạo viên mãn.
samatha ca vipassanā caChỉ và Quán'yuganandhā vattanti' — được chuyển vận song hành.
abhiññāThượng trí, thắng tríBốn phận sự: pariññeyya (liễu tri), pahātabba (đoạn tận), bhāvetabba (tu tập), sacchikātabba (chứng ngộ).
avijjā ca bhavataṇhā caVô minh và hữu áiHai pháp cần đoạn tận với thượng trí.
vijjā ca vimutti caMinh và giải thoátHai pháp cần chứng ngộ với thượng trí.

Bài kinh này ngắn mà gói trọn cả con đường tu — và nó bắt đầu từ chỗ rất gần: SÁU GIÁC QUAN của chính mình.

Thế Tôn dạy rằng với MỖI căn — mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý — có NĂM thứ đi liền nhau: chính căn ấy; đối tượng của nó; thức của nó; xúc của nó; và cảm thọ sanh khởi do duyên xúc ấy (lạc, khổ, hoặc bất khổ bất lạc).

Xin thưa năm thứ ấy chính là toàn bộ một khoảnh khắc sống. Mắt — cảnh — cái biết — sự chạm — và cảm giác dễ chịu hay khó chịu. Chỉ có bấy nhiêu, và nó xảy ra liên tục cả ngày.

Và bản lề của cả bài kinh chỉ nằm ở MỘT chữ: “NHƯ CHƠN”.

Vế thứ nhất — vế hỏng. Nếu người ta “KHÔNG biết, KHÔNG thấy như chơn” năm thứ đó thì sanh ÁI TRƯỚC. Và kinh mô tả hậu quả rất cụ thể, theo một chuỗi.

Chuỗi ấy như sau: người ấy trú, quán sát VỊ NGỌT, bị ái trước, hệ luỵ và tham đắmnăm thủ uẩn đi đến TÍCH TRỮ trong tương laiái đưa đến tái sanh tăng trưởngthân ưu não, tâm ưu não, thân nhiệt não, tâm khổ não đều tăng trưởngvị ấy cảm thọ THÂN KHỔ và TÂM KHỔ.

Xin để ý bốn chữ cuối: THÂN KHỔ và TÂM KHỔ. Bài kinh không nói tới địa ngục, không nói tới đời sau ở chỗ này. Nó nói tới cái khổ NGAY TRÊN THÂN NÀY, ngay trong lòng này.

Vế thứ hai — vế đúng — chỉ khác đúng một chữ. Nếu “THẤY và BIẾT như chơn” thì KHÔNG ái trước. Khi ấy năm thủ uẩn đi đến TÀN DIỆT trong tương lai, ái được đoạn tận, các ưu não nhiệt não khổ não đều được đoạn tận, và vị ấy cảm thọ THÂN LẠC và TÂM LẠC.

Xin thưa chỗ rất công bằng ở đây. Bài kinh không đòi ta bỏ mắt, bỏ tai, cũng không đòi ta ngừng cảm thấy. Cùng một con mắt, cùng một cảnh, cùng một cảm thọchỉ khác ở chỗ CÓ THẤY NHƯ CHƠN hay không.

Và bây giờ tới đoạn đặc sắc nhất của cả bài kinh, xin bác đọc thật chậm. Thế Tôn nói: cái THẤY như chơn ấy CHÍNH LÀ CHÁNH KIẾN; tư duy ấy là chánh tư duy; tinh tấn ấy là chánh tinh tấn; niệm ấy là chánh niệm; định ấy là chánh định. Còn thân nghiệp, ngữ nghiệp, sinh mạng thì ĐÃ thanh tịnh từ trước.

Xin thưa vì sao đoạn ấy làm người đọc phải dừng lại. Ta thường hình dung Bát Chánh Đạo là TÁM VIỆC phải làm, làm cho đủ tám. Bài kinh nói khác: khi cái thấy đã đúng thì bảy chi kia KHÔNG phải làm thêm — chúng CÓ MẶT SẴN trong đó.

Và Ngài nói tiếp: như vậy Thánh đạo Tám ngành được TU TẬP VIÊN MÃNkéo theo bốn niệm xứ, bốn chánh tinh tấn, bốn như ý túc, năm căn, năm lực, bảy giác chi cũng viên mãn.

Và hai pháp CHỈ (samatha) với QUÁN (vipassanā) “chuyển vận song hành”.

Xin thưa bốn chữ “chuyển vận song hành” rất đáng nhớ. Nhiều người hỏi “tu Chỉ trước hay tu Quán trước?” Bài kinh cho một câu trả lời rất gọn: tới chỗ này thì hai cái ĐI CÙNG NHAUnhư hai bánh xe, không phải hai chặng đường.

Và Thế Tôn kết bằng BỐN việc phải làm với thượng trí, rất gọn và rất dễ nhớ: cần LIỄU TRInăm thủ uẩn; cần ĐOẠN TẬNvô minh và hữu ái; cần TU TẬPChỉ và Quán; cần CHỨNG NGỘMinh và giải thoát.

Bốn việc ấy con xin đề nghị chép ra dán ở đoàn quán. Chúng cho thấy không phải pháp nào cũng làm cùng một cách: có thứ để HIỂU, có thứ để BỎ, có thứ để LÀM, có thứ để TỚI. Lẫn lộn bốn việc ấy là chỗ hỏng rất thường gặpchẳng hạn đem cái đáng hiểu ra mà bỏ, hoặc đem cái đáng bỏ ra mà nghiên cứu mãi.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này trả lời được câu hỏi “tu ở đâu?” mà nhiều em hay hỏi. Câu trả lời là: ngay nơi mắt thấy tai nghe mỗi ngày. Không cần đợi có thì giờ, không cần đợi lên chùa. Chỗ khổ sanh và chỗ khổ diệt đều ở cùng một chỗ — và chỗ ấy đang mở suốt ngày.

  • “Tu là phải tránh nhìn, tránh nghe.” Bài kinh không nói vậy một lời nào. Cùng một con mắt, cùng một cảnh — khác ở chỗ thấy như chơn hay không.
  • “Bát Chánh Đạo là tám việc phải làm cho đủ.” Kinh nói khi cái thấy đã đúng thì chánh tư duy, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định CÓ MẶT trong đó, và ba chi về hành vi thì đã thanh tịnh từ trước.
  • “Phải tu Chỉ xong rồi mới tu Quán.” Kinh nói hai pháp ấy “chuyển vận song hành”.
  • Ngành Oanh. Dạy năm thứ ở một khoảnh khắc bằng lời giản dị: mắt — cái em thấy — em biết — em chạm tới — em thấy thích hay không thích.
  • Ngành Thiếu. Học bốn việc: cái để HIỂU, cái để BỎ, cái để LÀM, cái để TỚI — rồi xếp thử vài chuyện trong đời mình.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về câu “tu ở đâu?”: vì sao không cần đợi có thì giờ mới tu được?
  • Năm thứ đi liền nhau ở mỗi căn là gì?
  • Chữ nào là bản lề của cả bài kinh?
  • Vì sao cái thấy như chơn lại chính là chánh kiến?
  • Bốn việc phải làm với thượng trí là gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.