G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 145
Bảy Bậc Nhẫn Nhục Của Người Đi Hoằng Pháp

Kinh Giáo Giới Phú-lâu-na

Puṇṇovāda Sutta — MN 145 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Giáo Giới Phú-lâu-na

Tôn giả Phú-lâu-na xin đi hoằng pháp ở một xứ nổi tiếng hung bạo. Thế Tôn hỏi dồn từng bậc: nếu họ mắng? nếu họ đánh? nếu họ đâm dao? nếu họ giết? — và mỗi lần Tôn giả đều có một câu đáp làm ta phải lặng người.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 145
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Nơi đi tới — Sunāparanta (Tây Phương Du-na Quốc)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Giáo giới Phú-lâu-na (MN 145) là một bài kinh ngắn nhưng rất nổi tiếng, thường được kể lại như tấm gương can đảm và nhẫn nhục của người đi hoằng pháp. Tại tịnh xá Cấp Cô Ðộc ở Xá-vệ, Tôn giả Puṇṇa (Phú-lâu-na) đến xin Thế Tôn một lời giáo giới vắn tắt để sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Thế Tôn dạy gọn trong một điểm then chốt: đối với các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khả ái khả ý liên hệ đến dục, nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy thì dục hỷ sanh, mà từ tập khởi của dục hỷ là tập khởi của khổ; ngược lại, nếu không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ thì dục hỷ diệt, và từ diệt tận dục hỷ là diệt tận đau khổ. Đó là toàn bộ lời dạy — sáu căn tiếp xúc sáu trần, chỗ khổ sanh và chỗ khổ diệt đều ở ngay đó. Kế đến Thế Tôn hỏi Tôn giả sẽ sống ở quốc độ nào. Tôn giả thưa sẽ đi Sunāparanta. Thế Tôn cảnh báo dân xứ ấy hung bạo, thô ác, rồi hỏi dồn từng bậc: nếu họ mắng nhiếc, đánh bằng tay, ném đất, đánh gậy, đâm dao, cho đến lấy dao sắc bén đoạt hại mạng thì Tôn giả nghĩ sao. Mỗi lần Tôn giả đều đáp rằng sẽ xem họ là hiền thiện, chí thiện, vì họ chưa làm điều nặng hơn; và ngay khi bị đoạt mạng, Tôn giả vẫn nghĩ mình khỏi cần đi tìm mà đã được con dao ấy. Thế Tôn khen "Lành thay, lành thay" và cho phép Tôn giả ra đi. Ngay trong một mùa an cư, Tôn giả nhiếp độ khoảng năm trăm nam cư sĩ, năm trăm nữ cư sĩ và chứng Tam minh; sau một thời gian thì mệnh chung. Khi các Tỷ-kheo hỏi về sanh thú của Tôn giả, Thế Tôn xác nhận Thiện nam tử Puṇṇa là bậc Hiền trí, thực hành pháp và tùy pháp, và đã nhập Niết-bàn.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Tôn giả Puṇṇa (Phú-lâu-na) buổi chiều từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đến đảnh lễ và xin Thế Tôn giáo giới vắn tắt để sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần (SC 1-6; mn145:1.1-2.4).
  • 2. Lời giáo giới vắn tắt: sáu căn và dục hỷ — Thế Tôn dạy về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khả ái khả hỷ liên hệ đến dục: nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú thì dục hỷ (nandī) sanh, và từ tập khởi của dục hỷ là tập khởi của khổ; nếu không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ thì dục hỷ diệt, và từ diệt tận dục hỷ là diệt tận đau khổ (SC 7-8; mn145:3.1-4.12).
  • 3. Hỏi đáp về xứ Sunāparanta — bảy bậc nhẫn nhục — Thế Tôn hỏi Puṇṇa sẽ sống ở quốc độ nào; Puṇṇa thưa sẽ đến Sunāparanta. Thế Tôn cảnh báo dân xứ ấy hung bạo, thô ác, rồi hỏi từng bậc: mắng nhiếc, đánh bằng tay, ném đất, đánh gậy, đánh dao, cho đến lấy dao sắc bén đoạt hại mạng. Mỗi lần Puṇṇa đều đáp sẽ xem họ là hiền thiện, chí thiện vì chưa làm điều nặng hơn (SC 9-22; mn145:5.1-5.34).
  • 4. Thế Tôn ấn khả — Thế Tôn khen "Lành thay, lành thay" và nói với sự nhiếp phục và an tịnh (damūpasama) như vậy, Puṇṇa có thể sống ở Sunāparanta; hãy làm những gì nghĩ là hợp thời (SC 23; mn145:6.1-6.3).
  • 5. Puṇṇa đi Sunāparanta và mệnh chung — Puṇṇa ra đi, đến Sunāparanta; ngay trong mùa an cư ấy nhiếp độ khoảng năm trăm nam cư sĩ, năm trăm nữ cư sĩ và chứng Tam minh (tisso vijjā). Sau một thời gian Tôn giả mệnh chung (SC 24; mn145:7.1-7.5).
  • 6. Các Tỷ-kheo hỏi sanh thú — Thế Tôn xác nhận Niết-bàn — Nhiều Tỷ-kheo hỏi Thế Tôn về sanh thú và đời sau của Puṇṇa. Thế Tôn dạy: Puṇṇa là bậc Hiền trí, thực hành pháp và tùy pháp, không phiền nhiễu Ngài với những câu hỏi về pháp; Thiện nam tử Puṇṇa đã nhập Niết-bàn. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 25-28; mn145:8.1-8.7).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 3 / mn145:2.1
“sādhu maṁ, bhante, bhagavā saṅkhittena ovādena ovadatu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
—Bạch Thế Tôn, tốt lành thay nếu Thế Tôn giáo giới với lời giáo giới vắn tắt cho con, để con có thể, sau khi nghe Thế Tôn, sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I've heard it, I'll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
SC 7 / mn145:3.1-3.4
“Santi kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ abhinandato abhivadato ajjhosāya tiṭṭhato uppajjati nandī. ‘Nandīsamudayā dukkhasamudayo, puṇṇā’ti vadāmi.
—Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy, thời do hoan hỷ tán thưởng, chấp thủ và an trú, dục hỷ sanh; và này Puñña, Ta nói rằng, từ sự tập khởi của dục hỷ, là sự tập khởi của khổ.
“Puṇṇa, there are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant approves, welcomes, and keeps clinging to them, this gives rise to relishing. Relishing is the origin of suffering, I say.
SC 8 / mn145:4.1-4.4
Santi ca kho, puṇṇa, cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā. Tañce bhikkhu nābhinandati nābhivadati nājjhosāya tiṭṭhati. Tassa taṁ anabhinandato anabhivadato anajjhosāya tiṭṭhato nandī nirujjhati. ‘Nandīnirodhā dukkhanirodho, puṇṇā’ti vadāmi.
Này Puñña, có những sắc do mắt nhận thức, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỷ-kheo không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ và an trú, thời dục hỷ diệt. Này Puñña, Ta nói rằng, từ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ.
There are sights known by the eye, which are likable, desirable, agreeable, pleasant, sensual, and arousing. If a mendicant doesn't approve, welcome, and keep clinging to them, relishing ceases. When relishing ceases, suffering ceases, I say.
SC 11-12 / mn145:5.3-5.7
“Caṇḍā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā; pharusā kho, puṇṇa, sunāparantakā manussā. Sace taṁ, puṇṇa, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha te, puṇṇa, kinti bhavissatī”ti? “Sace maṁ, bhante, sunāparantakā manussā akkosissanti paribhāsissanti, tattha me evaṁ bhavissati: ‘bhaddakā vatime sunāparantakā manussā, subhaddakā vatime sunāparantakā manussā, yaṁ me nayime pāṇinā pahāraṁ dentī’ti.
—Này Puñña, người nước Sunaparanta là hung bạo. Này Puñña, người nước Sunaparanta là thô ác. Này Puñña, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Puñña, tại đấy Ông sẽ như thế nào? —Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: “Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta”.
“The people of Sunāparanta are wild and rough, Puṇṇa. If they abuse and insult you, what will you think of them?” “If they abuse and insult me, I will think: ‘These people of Sunāparanta are gracious, truly gracious, since they don't hit me with their fists.’
SC 22 / mn145:5.32
‘santi kho bhagavato sāvakā kāye ca jīvite ca aṭṭīyamānā harāyamānā jigucchamānā satthahārakaṁ pariyesanti. Taṁ me idaṁ apariyiṭṭhaṁyeva satthahārakaṁ laddhan’ti.
—-Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: “Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy”.
‘There are disciples of the Buddha who looked for a suicide weapon because they were horrified, repelled, and disgusted with the body and with life. And I have found this without looking!’
SC 23 / mn145:6.1-6.3
“Sādhu sādhu, puṇṇa. Sakkhissasi kho tvaṁ, puṇṇa, iminā damūpasamena samannāgato sunāparantasmiṁ janapade viharituṁ. Yassadāni tvaṁ, puṇṇa, kālaṁ maññasī”ti.
—Lành thay, lành thay, này Puñña! Này Puñña, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Puñña, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.
“Good, good Puṇṇa! Having such self-control and peacefulness, you will be quite capable of living in Sunāparanta. Now, Puṇṇa, go at your convenience.”
SC 24 / mn145:7.4-7.5
Atha kho āyasmā puṇṇo tenevantaravassena pañcamattāni upāsakasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena pañcamattāni upāsikasatāni paṭivedesi, tenevantaravassena tisso vijjā sacchākāsi. Atha kho āyasmā puṇṇo aparena samayena parinibbāyi.
Rồi Tôn giả Puñña nội trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp được khoảng năm trăm nam cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, nhiếp độ khoảng năm trăm nữ cư sĩ; cũng trong mùa an cư mùa mưa ấy, chứng được Tam minh. Sau một thời gian, Tôn giả Puñña mệnh chung.
Within that rainy season he confirmed around five hundred male and five hundred female lay followers. And within that same rainy season he realized the three knowledges. Some time later he became fully extinguished.
SC 27 / mn145:8.4-8.5
“Paṇḍito, bhikkhave, puṇṇo kulaputto paccapādi dhammassānudhammaṁ, na ca maṁ dhammādhikaraṇaṁ viheṭhesi. Parinibbuto, bhikkhave, puṇṇo kulaputto”ti.
—Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Puñña là bậc Hiền trí. Vị ấy thực hành pháp và tùy pháp. Vị ấy không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp. Này các Tỷ-kheo, Thiện nam tử Puñña đã nhập Niết-bàn.
“Mendicants, Puṇṇa was astute. He practiced in line with the teaching, and did not trouble me about the teachings. Puṇṇa has become fully quenched.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ovādagiáo giới, lời dạy bảosaṅkhittena ovādena = lời giáo giới vắn tắt
nandīdục hỷ, sự hoan hỷ tham đắmBản Việt dịch là "dục hỷ"; bản Anh dịch là "relishing"
nandīsamudayā dukkhasamudayotừ sự tập khởi của dục hỷ là sự tập khởi của khổ
nandīnirodhā dukkhanirodhotừ sự diệt tận dục hỷ là sự diệt tận đau khổ
abhinandati abhivadati ajjhosāya tiṭṭhatihoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú
damūpasamasự nhiếp phục và an tịnhĐức tính Thế Tôn ấn khả nơi Tôn giả Puṇṇa (mn145:6.2)
tisso vijjāTam minh
parinibbāyi / parinibbutođã nhập Niết-bàn
dhammassānudhammaṁ paṭipannathực hành pháp và tùy pháp
appamatto ātāpī pahitattokhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
SunāparantaTây Phương Du-na QuốcQuốc độ Tôn giả Puṇṇa đến hoằng pháp
satthahārakacon dao (để tự sát)Theo cách dịch trong bản Việt SC 22

Bài kinh này ngắn mà nổi tiếng, và thường được kể như tấm gương của người đi hoằng pháp. Tôn giả Puṇṇa (Phú-lâu-na) đến xin Thế Tôn một lời giáo giới VẮN TẮT, để sống một mình, nhàn tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.

Và Thế Tôn dạy gọn trong MỘT điểm — không thêm gì cả. Đối với các sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp khả ái khả ý liên hệ đến dục: nếu Tỷ-kheo hoan hỷ, tán thưởng, chấp thủ và an trú trong ấy thì DỤC HỶ sanh; và từ tập khởi của dục hỷ là tập khởi của KHỔ.

Và ngược lại: nếu không hoan hỷ, không tán thưởng, không chấp thủ thì dục hỷ DIỆT; và từ diệt tận dục hỷ là diệt tận ĐAU KHỔ.

Xin thưa cả bài giáo giới chỉ có bấy nhiêu. Sáu căn tiếp xúc sáu trầnchỗ khổ SANH và chỗ khổ DIỆT đều ở ngay đó, không ở đâu xa. Đó là một lời dạy vắn tắt đúng nghĩa: đủ để mang đi cả đời.

Rồi Thế Tôn hỏi một câu rất bình thường: Ông sẽ sống ở quốc độ nào? Tôn giả thưa: Sunāparanta.

Và Thế Tôn cảnh báo thẳng: dân xứ ấy HUNG BẠO, THÔ ÁC. Rồi Ngài hỏi dồn từng bậc — và đây là phần đẹp nhất của bài kinh.

Bậc một: “Nếu họ MẮNG NHIẾC, nhục mạ Ông thì Ông nghĩ sao?” Tôn giả đáp: con sẽ nghĩ “những người này thật HIỀN THIỆN, thật CHÍ THIỆN — vì họ KHÔNG lấy tay đánh tôi.”

Bậc hai: “Nếu họ lấy TAY ĐÁNH?”“Thật hiền thiện, vì họ không ném đất vào tôi.” Bậc ba: “Nếu họ NÉM ĐẤT?”“Thật hiền thiện, vì họ không đánh tôi bằng gậy.”

Bậc bốn: GẬY — “vì họ không đâm tôi bằng dao.” Bậc năm: DAO — “vì họ chưa đoạt mạng tôi.” Bậc sáu: “Nếu họ lấy dao sắc bén ĐOẠT HẠI MẠNG SỐNG?”

Và câu đáp cuối cùng làm người đọc phải lặng người. Tôn giả thưa: con sẽ nghĩ có những đệ tử của Thế Tôn ĐI TÌM con dao ấychán ghét, hổ thẹn với thân này; còn con thì KHÔNG CẦN ĐI TÌM mà đã ĐƯỢC con dao ấy.

Xin dừng lại ở chỗ này. Câu ấy không phải lời liều lĩnh, cũng không phải muốn chết. Nó là lời của một người đã thấy rõ thân này là gánh nặng, nên không còn gì để mấtvà chính vì không còn gì để mất mà đi tới đâu cũng được.

Và xin để ý cấu trúc của bảy câu đáp ấy. Lần nào Tôn giả cũng nhìn ra chỗ người ta CHƯA làm, chứ không nhìn chỗ người ta ĐÃ làm. Đó là một thói quen của tâm, và là thói quen tập được.

Xin thưa điều này rất dùng được cho anh chị em, dù ta không đi tới xứ hung bạo nào. Khi bị một lời nặng, thử hỏi: người ta đã KHÔNG làm gì? Người ta có bỏ mình không? Có làm hại mình không?Cách nhìn ấy không phải tự dối, mà là đếm cho đủ.

Thế Tôn khen “Lành thay, lành thay” — và Ngài nói rõ lý do cho phép. Với sự nhiếp phục và an tịnh (damūpasama) như vậy, Ông CÓ THỂ sống ở Sunāparanta. Rồi Ngài dạy: hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời.

Xin để ý Thế Tôn KHÔNG cho phép ngay từ đầu. Ngài hỏi cho hết bảy bậc rồi mới cho đi. Nghĩa là: lòng can đảm phải được KIỂM trước khi được giao việc. Đây là điều rất đáng cho ban huynh trưởng khi giao việc cho một em.

Và kết quả thì rất đáng kể. Ngay TRONG MỘT MÙA AN CƯ, Tôn giả nhiếp độ được khoảng năm trăm nam cư sĩ và năm trăm nữ cư sĩ, và chứng Tam minh.

Xin để ý cả hai vế của câu ấy. Ngài vừa độ người, vừa chứng đạotrong cùng một mùa. Bài kinh không đặt hai việc ấy đối nghịch nhau: làm việc đạo không cản trở việc tu, nếu tâm đã đúng chỗ.

Sau một thời gian, Tôn giả mệnh chung. Các Tỷ-kheo hỏi về sanh thú; Thế Tôn dạy: Thiện nam tử Puṇṇa là bậc Hiền trí, thực hành pháp và tùy pháp, và đã nhập Niết-bàn.

Có một câu nhỏ trong lời Thế Tôn rất dễ thương, xin nhắc. Ngài nói Tôn giả Puṇṇa “không phiền nhiễu Ta với những câu hỏi về pháp” — nghĩa là xin một lời vắn tắt rồi ĐI LÀM, chứ không hỏi tới hỏi lui.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này cho hai điều. Một: xin một lời dạy VẮN TẮT rồi mang đi làmkhông cần biết nhiều mới bắt đầu được. Hai: bảy bậc nhẫn nhụctập nhìn chỗ người ta CHƯA làm. Cả hai đều không cần đi đâu xa mới dùng được.

  • “Tôn giả Puṇṇa muốn chết nên mới nói vậy.” Ngài nói có những vị ĐI TÌM con dao vì chán ghét thân này — và tự đặt mình KHÁC với các vị ấy: ngài không đi tìm. Đó là lời của người không còn sợ, không phải người muốn chết.
  • “Nhẫn nhục là cam chịu.” Bảy câu đáp đều là một cách NHÌNnhìn ra chỗ người ta chưa làm. Và Tôn giả vẫn đi làm việc, vẫn độ được ngàn người. Nhẫn ở đây rất chủ động.
  • “Làm việc đạo thì không tu được.” Kinh ghi ngài độ ngàn cư sĩ VÀ chứng Tam minh trong CÙNG một mùa an cư.
  • Ngành Oanh. Dạy một câu: khi bạn nói nặng, thử nghĩ “bạn ấy đã không đánh mình”.
  • Ngành Thiếu. Học bảy bậc nhẫn nhục và thử áp vào một chuyện bực mình trong tuần.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Để ý cách Thế Tôn HỎI HẾT BẢY BẬC rồi mới cho đi: khi giao việc khó cho một em, mình có hỏi cho đủ không?
  • Lời giáo giới vắn tắt của Thế Tôn gồm điều gì?
  • Bảy bậc câu hỏi của Thế Tôn đi từ đâu tới đâu?
  • Câu đáp cuối cùng của Tôn giả Puṇṇa là gì?
  • Trong một mùa an cư, Tôn giả làm được những gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.