G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 144
Một Bài Kinh Khó · Xin Đọc Kỹ Lời Thưa Đầu Trang

Kinh Giáo Giới Channa

Channovāda Sutta — MN 144 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Giáo Giới Channa

Xin thưa trước khi bác đọc: đây là một bài kinh khó, nói về một vị Tỷ-kheo bệnh nặng đã tự kết liễu đời mình. Con xin đề nghị anh chị Huynh Trưởng cân nhắc rất kỹ trước khi đưa cho các em nhỏ. Và xin đọc cho hết phần giảng — vì chỗ dễ hiểu lầm nhất nằm ở câu cuối bài kinh.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 144
  • Nơi xảy ra — núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu), thành Vương Xá
  • Nhân vật — Tôn giả Channa, Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahācunda
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Giáo giới Channa (MN 144) ghi lại một câu chuyện rất người và cũng rất sâu. Tôn giả Channa mang trọng bệnh, đau đớn dữ dội, đang trú ở núi Linh Thứu. Tôn giả Sāriputta cùng Tôn giả Mahācunda đến thăm và hỏi han bệnh tình theo lời hỏi thăm quen thuộc trong Tăng đoàn: mong Hiền giả kham nhẫn, mong khổ thọ giảm thiểu chứ không gia tăng. Tôn giả Channa đáp thẳng rằng ngài không thể kham nhẫn, thống khổ mỗi lúc một tăng, và ngài nói sẽ "đem dao lại", không còn muốn sống nữa. Tôn giả Sāriputta hết lòng ngăn cản: xin đừng đem dao, hãy tiếp tục sống; nếu thiếu món ăn tốt lành, thiếu dược phẩm, thiếu người thị giả, ngài sẽ lo liệu cho. Tôn giả Channa trả lời rằng ngài không thiếu những thứ ấy; suốt một thời gian dài ngài đã hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho bậc Ðạo Sư được đẹp lòng, và ngài xin Tôn giả Sāriputta thọ trì rằng "Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội". Kế đó Tôn giả Sāriputta hỏi một câu hỏi mang tính khảo nghiệm chứng ngộ: Hiền giả có xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức — cho đến ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức — là "cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi" chăng? Tôn giả Channa đáp: không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi. Ðược hỏi do thấy gì mà nói như vậy, ngài đáp: chính vì thấy sự diệt (nirodha), chứng tri sự diệt trong sáu căn, sáu thức và các pháp ấy. Tôn giả Mahācunda nhắc lại lời dạy của Thế Tôn cần thường trực tác ý: ai có chấp trước là có dao động; không chấp trước thì không dao động, có khinh an, không hy cầu, không khứ lai, không tử sanh — như vậy là sự đoạn tận đau khổ. Hai vị ra đi; không bao lâu Tôn giả Channa đem dao lại cho mình. Khi Tôn giả Sāriputta bạch hỏi Thế Tôn về sanh xứ của vị ấy, Thế Tôn dạy: ai quăng bỏ thân này mà chấp thủ thân khác thì có phạm tội; Tỷ-kheo Channa không như vậy, nên đem con dao lại mà không có phạm tội.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: Thế Tôn ở Trúc Lâm, ba tôn giả trú ở Linh Thứu — Nêu chỗ Thế Tôn trú và việc Tôn giả Sāriputta, Tôn giả Mahācunda, Tôn giả Channa cùng trú ở núi Gijjhakūṭa.
  • Tôn giả Channa trọng bệnh — hai vị đến thăm và hỏi thăm bệnh trạng — Tôn giả Channa bị bệnh, đau khổ, bị trọng bệnh. Tôn giả Sāriputta rủ Tôn giả Mahācunda cùng đi thăm bệnh và hỏi han theo cách hỏi thăm quen thuộc.
  • Lời đáp của Tôn giả Channa: không kham nhẫn được, sẽ đem dao — Tôn giả Channa nói khổ thọ gia tăng không giảm thiểu (bản Pali kèm bốn thí dụ về các cơn đau), và tuyên bố sẽ đem dao, không còn muốn sống.
  • Tôn giả Sāriputta khuyên can, hứa lo món ăn, dược phẩm, thị giả — Tôn giả Sāriputta hai lần xin đừng đem dao — mở đầu và kết lại lời khuyên (mn144:6.1 và 6.6, chúng tôi đã tải lại và đếm tận đoạn), hãy tiếp tục sống, và hứa tìm các món ăn tốt lành, dược phẩm tốt lành, người thị giả thích đáng.
  • Tôn giả Channa tuyên bố sự không phạm tội — Ngài không thiếu bốn thứ ấy; ngài đã hầu hạ bậc Ðạo Sư trong thời gian dài, và xin Tôn giả Sāriputta thọ trì rằng Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội.
  • Cuộc vấn đáp về sáu căn, sáu thức và các pháp: 'không phải của tôi' — Tôn giả Sāriputta xin hỏi một vấn đề đặc biệt; Tôn giả Channa đáp rằng ngài xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức, cho đến ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức, là 'không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi'.
  • Do thấy sự diệt (nirodha) mà quán như vậy — Ðược hỏi đã thấy gì, chứng tri gì, Tôn giả Channa đáp: chính vì thấy sự diệt, chứng tri sự diệt trong sáu căn, sáu thức và các pháp ấy.
  • Tôn giả Mahācunda nhắc lời dạy của Thế Tôn về chấp trước và dao động — Lời dạy phải thường trực tác ý: ai có chấp trước là có dao động… như vậy là sự đoạn tận đau khổ.
  • Hai vị ra đi; Tôn giả Channa đem dao lại — Sau khi giáo giới xong, hai vị từ chỗ ngồi đứng dậy ra đi; không bao lâu Tôn giả Channa đem dao lại cho mình.
  • Tôn giả Sāriputta bạch hỏi Thế Tôn về sanh xứ — Thế Tôn xác nhận không phạm tội — Thế Tôn dạy: ai quăng bỏ thân này và chấp thủ thân khác thì có phạm tội; Tỷ-kheo Channa không có như vậy, nên đem con dao lại không có phạm tội. Tôn giả Sāriputta hoan hỷ tín thọ.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 144.1 (bản Việt SC 1)
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā rājagahe viharati veḷuvane kalandakanivāpe.
Một thời, Thế Tôn ở Rājagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc-lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Rājagaha in the Bamboo Grove, the squirrels’ feeding ground.
MN 144.5 (bản Việt SC 6)
“Na me, āvuso sāriputta, khamanīyaṁ na yāpanīyaṁ. Bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti; abhikkamosānaṁ paññāyati, no paṭikkamo. … Satthaṁ, āvuso sāriputta, āharissāmi, nāvakaṅkhāmi jīvitan”ti.
—Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi không có thể kham nhẫn, tôi không có thể chịu đựng. Sự thống khổ của tôi gia tăng không có giảm thiểu, và sự gia tăng rõ rệt, không có giảm thiểu. Thưa Hiền giả Sāriputta, tôi sẽ đem dao (cho tôi). Tôi không còn muốn sống.
“Reverend Sāriputta, I’m not keeping well, I’m not getting by. My pain is terrible and growing, not fading; its growing is evident, not its fading. … Reverend Sāriputta, I shall commit suicide. I don’t wish to live.”
MN 144.7 (bản Việt SC 8)
“Napi me, āvuso sāriputta, natthi sappāyāni bhojanāni; napi me natthi sappāyāni bhesajjāni; napi me natthi patirūpā upaṭṭhākā; api cāvuso sāriputta, pariciṇṇo me satthā dīgharattaṁ manāpeneva no amanāpena. Etañhi, āvuso sāriputta, sāvakassa patirūpaṁ yaṁ satthāraṁ paricareyya manāpeneva no amanāpena. ‘Anupavajjaṁ channo bhikkhu satthaṁ āharissatī’ti evametaṁ, āvuso sāriputta, dhārehī”ti.
—Thưa Hiền giả Sāriputta, không phải tôi không có các món ăn tốt lành, cũng không phải tôi không có các dược phẩm tốt lành. Cũng không phải tôi không có thị giả thích đáng. Thưa Hiền giả Sāriputta, trong một thời gian dài, tôi đã hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo sư) được đẹp lòng, không phải không được đẹp lòng. Thưa Hiền giả Sāriputta, thật là thích đáng cho người đệ tử hầu hạ bậc Ðạo Sư, làm cho (bậc Ðạo Sư) được đẹp lòng, không phải không được đẹp lòng. Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội. Thưa Hiền giả Sāriputta, hãy thọ trì như vậy!
“Reverend Sāriputta, it’s not that I don’t have suitable food, or suitable medicine, or a capable carer. Moreover, for a long time now I have served the Teacher with love, not without love. For it is proper for a disciple to serve the Teacher with love, not without love. You should remember this: ‘The mendicant Channa will commit suicide blamelessly.’”
MN 144.9 (bản Việt SC 12)
“Cakkhuṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi. Sotaṁ, āvuso sāriputta …pe… ghānaṁ, āvuso sāriputta … jivhaṁ, āvuso sāriputta … kāyaṁ, āvuso sāriputta … manaṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
—Hiền giả Sāriputta, tôi xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Hiền giả Sāriputta, tôi xem tai, nhĩ thức. Hiền giả Sāriputta, tôi xem mũi, tỷ thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem lưỡi, thiệt thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem thân, thân thức … Hiền giả Sāriputta, tôi xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
“Reverend Sāriputta, I regard the eye, eye consciousness, and things knowable by eye consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’ I regard the ear … nose … tongue … body … mind, mind consciousness, and things knowable by mind consciousness in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’.”
MN 144.10 (bản Việt SC 14)
“Cakkhusmiṁ, āvuso sāriputta, cakkhuviññāṇe cakkhuviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya cakkhuṁ cakkhuviññāṇaṁ cakkhuviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmi. Sotasmiṁ, āvuso sāriputta, sotaviññāṇe … ghānasmiṁ, āvuso sāriputta, ghānaviññāṇe … jivhāya, āvuso sāriputta, jivhāviññāṇe … kāyasmiṁ, āvuso sāriputta, kāyaviññāṇe … manasmiṁ, āvuso sāriputta, manoviññāṇe manoviññāṇaviññātabbesu dhammesu nirodhaṁ disvā nirodhaṁ abhiññāya manaṁ manoviññāṇaṁ manoviññāṇaviññātabbe dhamme ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti samanupassāmī”ti.
—Thưa Hiền giả Sāriputta, chính vì tôi thấy sự diệt (nirodha), chứng tri sự diệt trong mắt, trong nhãn thức và trong các pháp do mắt nhận thức, mà tôi xem mắt, nhãn thức, và các pháp do mắt nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”. Thưa Hiền giả Sāriputta, chính vì tôi thấy sự diệt, chứng tri sự diệt trong tai, trong nhĩ thức … trong mũi, trong tỷ thức … trong lưỡi, trong thiệt thức … trong thân, trong thân thức … trong ý, trong ý thức và trong các pháp do ý nhận thức mà tôi xem ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
“Reverend Sāriputta, after seeing cessation, after directly knowing cessation in these things I regard them in this way: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self’.”
MN 144.11 (bản Việt SC 16)
“tasmātiha, āvuso channa, idampi tassa bhagavato sāsanaṁ, niccakappaṁ manasi kātabbaṁ: ‘nissitassa calitaṁ, anissitassa calitaṁ natthi. Calite asati passaddhi, passaddhiyā sati nati na hoti. Natiyā asati āgatigati na hoti. Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti. Cutūpapāte asati nevidha na huraṁ na ubhayamantarena. Esevanto dukkhassā’”ti.
—Do vậy, này Hiền giả Channa, lời dạy này của Thế Tôn phải được thường trực tác ý: “Ai có chấp trước là có dao động. Ai không chấp trước là không có dao động. Không có dao động, thời có khinh an; có khinh an thời không có hy cầu (nati); không có hy cầu thời không có khứ lai; không có khứ lai thời không có tử sanh; không có tử sanh thời không có đời này, không có đời sau, không có giữa hai đời. Như vậy là sự đoạn tận đau khổ”.
“So, Reverend Channa, you should regularly apply your mind to this instruction of the Buddha: ‘For the dependent there is quivering. For the independent there’s no quivering. When there’s no quivering, there is tranquility. When there is tranquility, there’s no inclination. When there’s no inclination, there’s no coming and going. When there’s no coming and going, there’s no passing away and reappearing. When there’s no passing away and reappearing, there’s no this life or the next or between the two. Just this is the end of suffering.’”
MN 144.13 (bản Việt SC 21)
“Honti hete, sāriputta, channassa bhikkhuno mittakulāni suhajjakulāni upavajjakulāni. Nāhaṁ, sāriputta, ettāvatā ‘saupavajjo’ti vadāmi. Yo kho, sāriputta, imañca kāyaṁ nikkhipati aññañca kāyaṁ upādiyati tamahaṁ ‘saupavajjo’ti vadāmi. Taṁ channassa bhikkhuno natthi. ‘Anupavajjo channo bhikkhu satthaṁ āharesī’ti evametaṁ, sāriputta, dhārehī”ti.
—Này Sāriputta, có những gia đình ấy là những gia đình thân hữu, những gia đình hộ trì Tỷ-kheo Channa, những gia đình cần được viếng thăm. Này Sāriputta, cho đến nay, Ta không nói rằng Tỷ-kheo Channa có phạm tội. Này Sāriputta, ai quăng bỏ thân này, và chấp thủ thân khác, Ta nói rằng người ấy có phạm tội. Tỷ-kheo Channa không có (chấp thủ) như vậy. Tỷ-kheo Channa đem con dao lại (cho mình), không có phạm tội.
“The mendicant Channa did indeed have such families. But, Sāriputta, this is not enough for me to call someone ‘blameworthy’. When someone lays down this body and takes up another body, I call them ‘blameworthy’. But the mendicant Channa did no such thing. You should remember this: ‘The mendicant Channa committed suicide blamelessly.’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
ChannovādaGiáo giới Channa — lời giáo giới dành cho Tôn giả ChannaTên kinh; Channa được phiên âm là Xiển-đà trong bản Việt.
satthaṁ āharatiđem dao lại (cho mình)Bản Việt HT. Thích Minh Châu dịch sát là 'đem dao lại (cho mình)'; bản Anh của Sujato dịch là 'commit suicide'.
anupavajjakhông có phạm tội, không bị khiển tráchTrái nghĩa: saupavajja — có phạm tội.
nirodhasự diệtChính bản Việt cũng để nguyên chữ Pali trong ngoặc: 'sự diệt (nirodha)'.
anattāvô ngã — 'không phải tự ngã của tôi' (na meso attā)
cakkhuviññāṇanhãn thức
manoviññāṇaý thức
nissita / anissitacó chấp trước / không chấp trước (có nương tựa / không nương tựa)
calitadao động
passaddhikhinh an
natihy cầu, khuynh hướng nghiêng vềBản Việt ghi 'hy cầu (nati)'.
āgatigatikhứ lai — đi và đến
cutūpapātatử sanh — chết đi và tái sanh
upaṭṭhākathị giả, người chăm sóc người bệnh
gilānapucchakangười đến hỏi thăm bệnh

Xin thưa một lời trước, vì đây là bài kinh nhạy cảm nhất trong cả Trung Bộ. Bài kinh kể việc một vị Tỷ-kheo bệnh nặng đã tự kết liễu đời mình, và cuối kinh Thế Tôn nói vị ấy “không có phạm tội”. Câu ấy rất dễ bị đọc lệch, nên con xin giải cho thật rõ ở cuối.

Câu chuyện bắt đầu rất giản dị: đi thăm bệnh. Tôn giả Channa đang trọng bệnh ở núi Linh Thứu. Tôn giả Sāriputta rủ Tôn giả Mahācunda cùng đi thăm.

Và lời hỏi thăm là lời quen thuộc trong Tăng đoàn: mong Hiền giả kham nhẫn, mong khổ thọ giảm thiểu chứ không gia tăng.

Tôn giả Channa trả lời rất thẳng, không giấu. Ngài không thể kham nhẫn; thống khổ mỗi lúc một tăng. Rồi ngài nói: “Tôi sẽ đem dao. Tôi không còn muốn sống.”

Và đây là chỗ con muốn bác để ý TRƯỚC TIÊN, trước cả câu kết của bài kinh. Tôn giả Sāriputta KHÔNG đồng ý. Ngài hết lòng ngăn cản.

Ngài nói: “Xin Hiền giả Channa ĐỪNG đem dao. Hãy tiếp tục sống. CHÚNG TÔI MUỐN Hiền giả tiếp tục sống.” Và ngài lặp lại câu ấy hai lầnmở đầu và kết lại lời khuyên.

Rồi ngài đi vào những việc rất cụ thể, và chỗ này mới cảm động. Nếu Hiền giả thiếu món ăn tốt lànhtôi sẽ đi tìm cho. Nếu thiếu dược phẩmtôi sẽ đi tìm cho. Nếu thiếu người thị giảCHÍNH TÔI sẽ hầu hạ Hiền giả.

Xin dừng lại ở câu cuối ấy. Tôn giả Sāriputta là bậc trí tuệ đệ nhất, tướng quân Chánh pháp. Và điều ngài đề nghị là đích thân đi hầu bệnh. Đây là điều bài kinh dạy chúng ta làm khi gặp người muốn buông xuôikhông phải giảng đạo lý, mà hỏi xem người ta đang thiếu gì và đi tìm cho.

Tôn giả Channa đáp rằng ngài KHÔNG thiếu những thứ ấy. Ngài nói: “trong một thời gian dài, tôi đã hầu hạ bậc Đạo Sư, làm cho bậc Đạo Sư được đẹp lòng”, và xin Tôn giả Sāriputta thọ trì rằng “Tỷ-kheo Channa đem lại con dao không có phạm tội”.

Bấy giờ Tôn giả Sāriputta làm một việc rất khéo: ngài KHÔNG tranh cãi nữa, mà ĐẶT MỘT CÂU HỎI. Đó là một câu hỏi khảo nghiệm chứng ngộ: Hiền giả có xem mắt, nhãn thức và các pháp do mắt nhận thức — cho tới ý, ý thức và các pháp do ý nhận thức — là “cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi” chăng?

Tôn giả Channa đáp: KHÔNG phải của tôi, KHÔNG phải là tôi, KHÔNG phải tự ngã của tôi.

Được hỏi “do THẤY gì mà nói như vậy”, ngài đáp một chữ: SỰ DIỆT. Ngài thấy sự diệt (nirodha), chứng tri sự diệt trong sáu căn, sáu thức và các pháp ấy.

Rồi Tôn giả Mahācunda nhắc lại một lời dạy của Thế Tôn, và lời ấy rất đáng thuộc: ai có CHẤP TRƯỚC là có DAO ĐỘNG; không chấp trước thì không dao động, có khinh an, không hy cầu, không khứ lai, không tử sanhnhư vậy là sự đoạn tận đau khổ.

Hai vị ra đi. Không bao lâu, Tôn giả Channa đem dao lại cho mình.

Và bây giờ tới phần quan trọng nhất — xin bác đọc thật chậm. Tôn giả Sāriputta đến bạch hỏi Thế Tôn về sanh xứ của vị ấy. Ngài còn nêu một chi tiết: Tôn giả Channa có những gia đình thân hữu ở làng Pubbajira.

Và Thế Tôn trả lời bằng một câu ĐỊNH NGHĨA — đây là chìa khoá của cả bài kinh: “Ai quăng bỏ thân này VÀ CHẤP THỦ THÂN KHÁC, Ta gọi người ấy là CÓ PHẠM TỘI. Tỷ-kheo Channa KHÔNG có như vậy.”

Xin thưa cho thật rõ câu ấy nghĩa là gì, vì đây là chỗ dễ đọc lệch nhất. Lời “không phạm tội” KHÔNG dựa trên chuyện đau đớn. Nó KHÔNG dựa trên chuyện bệnh nặng. Nó KHÔNG dựa trên chuyện ngài đã hầu hạ Thế Tôn lâu năm. Nó dựa trên MỘT sự thật duy nhất: Tôn giả Channa KHÔNG CÒN THỌ THÂN NÀO NỮAtức đã đoạn tận lậu hoặc ngay lúc ấy.

Nghĩa là lời ấy nói về một TRẠNG THÁI ĐÃ CHỨNG, không phải một sự CHO PHÉP. Thế Tôn không nói “ai đau quá thì được làm vậy”. Ngài nói về chỗ đến của một người cụ thể — và chỗ đến ấy là điều không ai tự tuyên bố thay mình được.

Và xin để ý điều này nữa, vì nó rất quan trọng. Bài kinh KHÔNG nêu việc ấy thành gương cho ai. Người được bài kinh cho tiếng nói dài nhất, tha thiết nhấtTôn giả Sāriputta — người đã hai lần xin đừng làm. Đó mới là thái độ mà bài kinh dạy.

Xin thưa lời cuối, và con nói thật lòng. Nếu bác hay em nào đang thấy đời sống quá nặng, xin đừng lấy bài kinh này làm chỗ dựa. Điều bài kinh cho thấy rõ nhất là người ta cần được hỏi “bạn đang thiếu gì?”cần có người nói “để tôi đi tìm cho”. Xin nói với người thân, với quý Thầy quý Sư cô, hoặc với người có chuyên mônđừng ngồi một mình với ý nghĩ ấy.

Và với anh chị Huynh Trưởng. Con xin đề nghị KHÔNG đưa bài này cho ngành Oanh và ngành Thiếu. Với ngành Thanh và Huynh Trưởng, nếu có đọc, xin đọc kèm phần giải câu cuối — vì đọc thiếu chỗ ấy thì hiểu ngược hẳn.

  • “Đức Phật cho phép tự kết liễu khi đau quá.” KHÔNG. Câu của Ngài là một định nghĩa: “ai quăng bỏ thân này VÀ CHẤP THỦ THÂN KHÁC thì có phạm tội”. Lời “không phạm tội” dành cho Tôn giả Channa dựa trên việc vị ấy KHÔNG CÒN THỌ THÂN NÀO NỮAmột trạng thái đã chứng, không phải một điều kiện ai cũng viện ra được.
  • “Bài kinh nêu Tôn giả Channa làm gương.” Bài kinh không hề nói vậy. Nó dành phần dài nhất cho lời Tôn giả Sāriputta khẩn khoản xin ngài ĐỪNG làm, và hứa đích thân đi hầu bệnh.
  • “Đau đớn là lý do chính đáng.” Thế Tôn không nhắc tới cơn đau một lần nào trong lời xác nhận của Ngài. Tiêu chuẩn Ngài nêu hoàn toàn là chuyện chấp thủ và tái sanh.
  • Ngành Oanh. Xin ĐỪNG dạy bài này. Nếu muốn lấy một ý, chỉ nên kể: khi bạn ốm, mình đi thăm và hỏi bạn đang cần gì.
  • Ngành Thiếu. Xin cân nhắc rất kỹ. Nếu có nói, chỉ nên nói phần Tôn giả Sāriputta hứa đi tìm thuốc, tìm người săn sóckhông nói phần sau.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Nếu đọc, bắt buộc đọc kèm phần giải câu cuối. Và bàn một điều rất thực: khi gặp người muốn buông xuôi, mình nói đạo lý hay mình hỏi “bạn đang thiếu gì?”
  • Tôn giả Sāriputta đã làm gì khi nghe Tôn giả Channa nói?
  • Ngài đề nghị giúp những gì?
  • Lời “không phạm tội” của Thế Tôn dựa trên tiêu chuẩn nào?
  • Vì sao câu ấy KHÔNG phải một sự cho phép chung?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.