G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 142
Ba Lần Xin · Ba Lần Được Chỉ Về Tăng Chúng

Kinh Phân Biệt Cúng Dường

Dakkhiṇāvibhaṅga Sutta — MN 142 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Phân Biệt Cúng Dường

Mahāpajāpati Gotamīngười đã nuôi Thái tử bằng sữa của chính mình khi thân mẫu mệnh chung — tự tay kéo sợi và dệt một cặp y đem dâng riêng cho Thế Tôn. Ba lần bà xin, ba lần Ngài chỉ về Tăng chúng. Từ đó là một bài kinh về cho như thế nào cho đúng.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 142
  • Nơi thuyết — Kapilavatthu, tinh xá Nigrodha
  • Nhân vật — bà Mahāpajāpati Gotamī, di mẫu của Thế Tôn
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh này ghi lại một câu chuyện rất gần gũi: bà Mahāpajāpati Gotamī, người di mẫu đã nuôi dưỡng Thái tử Tất-Đạt-Đa từ khi thân mẫu mệnh chung, tự tay kéo sợi và dệt một cặp y mới, đem đến dâng riêng cho Thế Tôn. Ba lần bà thưa thỉnh, cả ba lần Thế Tôn đều dạy: "Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy." Tôn giả Ānanda thương bà nên thưa xin Thế Tôn nhận, và kể lại công ơn nuôi dưỡng của bà. Nhân đó Thế Tôn dạy một điều rất đáng ghi nhớ: nếu nhờ một người mà một người khác được quy y Tam Bảo, giữ năm giới, có tịnh tín bất động nơi Phật – Pháp – Tăng, và hết nghi ngờ đối với Bốn Sự Thật, thì ơn ấy không thể đền đáp cho xứng chỉ bằng đảnh lễ, chấp tay, hay bằng y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm. Nghĩa là ơn Pháp lớn hơn mọi vật chất. Kế đến, Thế Tôn phân tích rành mạch ba phần: (1) mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người – từ cúng dường Như Lai, Độc Giác Phật, A-la-hán, các bậc đang trên đường chứng bốn quả, người ngoại học đã ly tham, phàm phu giữ giới, phàm phu ác giới, cho đến bố thí loài bàng sanh – kèm mức công đức tăng dần; (2) bảy loại cúng dường cho Tăng chúng, cao nhất là cúng dường cả hai bộ Tăng với đức Phật là vị cầm đầu; và Thế Tôn khẳng định cúng dường Tăng chúng là vô số vô lượng, không có sự bố thí cá nhân nào lớn hơn cúng dường Tăng chúng; (3) bốn sự thanh tịnh của cúng dường, tùy nơi người cho và người nhận có giới hay không có giới. Cuối kinh là bài kệ tóm lại bốn trường hợp ấy, và nêu bố thí cao nhất: người đã ly tham bố thí cho người ly tham, vật thí đúng pháp, tâm hoan hỷ, tin vào quả lớn của nghiệp — đó là "quảng đại tài thí". Bài kinh dạy đoàn sinh hai điều thiết thực: cúng dường nên hướng về Tăng chúng chứ không vì tình riêng, và giá trị của việc bố thí tùy thuộc rất nhiều vào giới hạnh cùng tấm lòng của chính người cho.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: bà Mahāpajāpati Gotamī dâng cặp y mới — Tại tinh xá Nigrodha ở Kapilavatthu, bà Mahāpajāpati Gotamī ba lần xin Thế Tôn nhận cặp y mới do chính bà cắt và dệt; ba lần Thế Tôn dạy hãy cúng dường Tăng chúng.
  • 2. Tôn giả Ānanda thưa thỉnh và nói công ơn hai bên — Ānanda thưa xin Thế Tôn nhận, kể công ơn dưỡng dục của bà; đồng thời nêu rằng chính nhờ Thế Tôn mà bà được quy y Tam Bảo, giữ giới, có tịnh tín bất động và không còn nghi ngờ đối với Bốn Sự Thật.
  • 3. Ơn Pháp không dễ đền đáp — Thế Tôn xác nhận: nhờ một người mà người khác quy y Tam Bảo, giữ năm giới, đầy đủ tịnh tín bất động, hết nghi đối với Bốn Sự Thật — ơn ấy không thể đền xứng bằng đảnh lễ, chấp tay, hay bằng bốn món cúng dường.
  • 4. Mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người — Liệt kê mười bốn hạng người thọ thí, từ Như Lai bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác xuống đến loài bàng sanh.
  • 5. Mức công đức theo từng hạng người thọ thí — Bố thí bàng sanh có hy vọng trăm phần công đức, phàm phu ác giới ngàn phần, phàm phu giữ giới trăm ngàn, ngoại học ly tham trăm ngàn ức, còn bố thí cho vị trên con đường chứng quả Dự lưu trở lên là vô số vô lượng.
  • 6. Bảy loại cúng dường cho Tăng chúng — Từ cúng dường cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu, cho đến chỉ định một số Tỷ-kheo hoặc Tỷ-kheo ni từ Tăng chúng.
  • 7. Cúng dường Tăng chúng trong đời sau, và lời khẳng định — Tương lai sẽ có hạng chuyển tánh mang cà-sa mà theo ác giới; dù vậy cúng dường cho Tăng chúng vẫn là vô số vô lượng, và không có bố thí cá nhân nào có kết quả lớn hơn cúng dường Tăng chúng.
  • 8. Bốn sự thanh tịnh của cúng dường — Thanh tịnh bởi người cho; bởi người nhận; không bởi cả hai; bởi cả hai — tùy người cho và người nhận giữ giới theo thiện pháp hay theo ác giới ác pháp.
  • 9. Bài kệ kết thúc — Năm bài kệ tóm lại bốn trường hợp thanh tịnh, và nêu bố thí của người ly tham cho người ly tham là quảng đại tài thí.

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 142.2 (SC 3–5)
“idaṁ me, bhante, navaṁ dussayugaṁ bhagavantaṁ uddissa sāmaṁ kantaṁ sāmaṁ vāyitaṁ. Taṁ me, bhante, bhagavā paṭiggaṇhātu anukampaṁ upādāyā”ti. … “saṅghe, gotami, dehi. Saṅghe te dinne ahañceva pūjito bhavissāmi saṅgho cā”ti.
—Bạch Thế Tôn, cặp y mới này do con cắt và dệt đặc biệt cho Thế Tôn. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn vì lòng từ mẫn hãy nhận lấy cho con. … —Này Gotama, hãy cúng dường Tăng chúng. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.
“Sir, I have spun and woven this new pair of garments specially for the Buddha. May the Buddha please accept this from me out of sympathy.” … “Give it to the Saṅgha, Gotamī. When you give to the Saṅgha, both the Saṅgha and I will be honored.”
MN 142.3 (SC 15)
Bahūpakārā, bhante, mahāpajāpati gotamī bhagavato mātucchā āpādikā posikā khīrassa dāyikā; bhagavantaṁ janettiyā kālaṅkatāya thaññaṁ pāyesi.
Bạch Thế Tôn, Mahāpajāpati Gotama đã giúp ích nhiều cho Thế Tôn, là thúc mẫu, là dưỡng mẫu, đã nuôi dưỡng Thế Tôn, đã cho Thế Tôn bú sữa, vì rằng sau khi sanh, thân mẫu của Thế Tôn mệnh chung, chính bà đã cho Thế Tôn bú sữa.
Sir, Mahāpajāpati was very helpful to the Buddha. As his aunt, she raised him, nurtured him, and gave him her milk. When the Buddha’s birth mother passed away, she nurtured him at her own breast.
MN 142.4 (SC 16)
Yaṁ hānanda, puggalo puggalaṁ āgamma buddhaṁ saraṇaṁ gato hoti, dhammaṁ saraṇaṁ gato hoti, saṅghaṁ saraṇaṁ gato hoti, imassānanda, puggalassa iminā puggalena na suppatikāraṁ vadāmi, yadidaṁ—abhivādanapaccuṭṭhānaañjalikammasāmīcikammacīvarapiṇḍapātasenāsanagilānappaccayabhesajjaparikkhārānuppadānena.
Này Ānanda, nếu do nhờ một người, mà một người khác được quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, thời này Ānanda, Ta nói rằng người này không có một đền ơn nào xứng đáng đối với người kia về đảnh lễ, đứng đậy, chấp tay, về làm những việc thích hợp và về dâng cúng các sự cúng dường như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
When someone has enabled you to go for refuge, it’s not easy to repay them by bowing down to them, rising up for them, greeting them with cupped palms, and observing proper etiquette for them; or by providing them with robes, almsfood, lodgings, and medicines and supplies for the sick.
MN 142.5 (SC 20)
Cuddasa kho panimānanda, pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Katamā cuddasa? Tathāgate arahante sammāsambuddhe dānaṁ deti—ayaṁ paṭhamā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. Paccekasambuddhe dānaṁ deti—ayaṁ dutiyā pāṭipuggalikā dakkhiṇā. … Tiracchānagate dānaṁ deti—ayaṁ cuddasamī pāṭipuggalikā dakkhiṇāti.
Này Ānanda, có mười bốn loại cúng dường phân loại theo hạng người. Bố thí các đức Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, là cúng dường thứ nhất, phân loại theo hạng người. Bố thí các vị Ðộc Giác Phật, là cúng dường thứ hai, phân loại theo hạng người. … Bố thí các loại bàng sanh là cúng dường thứ mười bốn, phân loại theo hạng người.
Ānanda, there are these fourteen religious donations to individuals. What fourteen? One gives a gift to the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha. This is the first religious donation to an individual. One gives a gift to an independent Buddha. This is the second religious donation to an individual. … One gives a gift to an animal. This is the fourteenth religious donation to an individual.
MN 142.7 (SC 22)
Satta kho panimānanda, saṅghagatā dakkhiṇā. Katamā satta? Buddhappamukhe ubhatosaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ paṭhamā saṅghagatā dakkhiṇā. Tathāgate parinibbute ubhatosaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ dutiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhusaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ tatiyā saṅghagatā dakkhiṇā. Bhikkhunisaṅghe dānaṁ deti—ayaṁ catutthī saṅghagatā dakkhiṇā.
Này Ānanda, có bảy loại cúng dường cho Tăng chúng. Bố thí cho cả hai Tăng chúng với đức Phật là vị cầm đầu là cúng dường Tăng chúng thứ nhất. Bố thí cho cả hai Tăng chúng, sau khi đức Phật đã nhập diệt là cúng dường Tăng chúng thứ hai. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo Tăng là cúng dường Tăng chúng thứ ba. Bố thí cho chúng Tỷ-kheo ni là cúng dường Tăng chúng thứ tư.
But there are, Ānanda, seven religious donations bestowed on a Saṅgha. What seven? One gives a gift to the communities of both monks and nuns headed by the Buddha. This is the first religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the communities of both monks and nuns after the Buddha has finally become quenched. This is the second religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the Saṅgha of monks. This is the third religious donation bestowed on a Saṅgha. One gives a gift to the Saṅgha of nuns. This is the fourth religious donation bestowed on a Saṅgha.
MN 142.8 (SC 23)
Tadāpāhaṁ, ānanda, saṅghagataṁ dakkhiṇaṁ asaṅkheyyaṁ appameyyaṁ vadāmi. Na tvevāhaṁ, ānanda, kenaci pariyāyena saṅghagatāya dakkhiṇāya pāṭipuggalikaṁ dānaṁ mahapphalataraṁ vadāmi.
Nhưng này Ānanda, khi Ta nói rằng cúng dường cho Tăng chúng là vô số và vô lượng, thời này Ānanda, Ta không có muốn nói rằng bất cứ phương tiện gì, một sự bố thí phân loại theo cá nhân lại có kết quả to lớn hơn đối với cúng dường cho Tăng chúng.
Then too, I say, a religious donation bestowed on the Saṅgha is incalculable and immeasurable. But in any case, there is no way a personal offering can be more fruitful than one bestowed on a Saṅgha, I say.
MN 142.9 (SC 24)
Catasso kho imā, ānanda, dakkhiṇā visuddhiyo. Katamā catasso? Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā paṭiggāhakato visujjhati no dāyakato. Atthānanda, dakkhiṇā neva dāyakato visujjhati no paṭiggāhakato. Atthānanda, dakkhiṇā dāyakato ceva visujjhati paṭiggāhakato ca.
Này Ānanda, có bốn sự thanh tịnh của các loại cúng dường. Thế nào là bốn? Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho, nhưng không bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người nhận, nhưng không bởi người cho. Này Ānanda, có loại cúng dường không được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận. Này Ānanda, có loại cúng dường được thanh tịnh bởi người cho và cũng bởi người nhận.
Ānanda, there are these four ways of purifying a religious donation. What four? There’s a religious donation that’s purified by the giver, not the recipient. There’s a religious donation that’s purified by the recipient, not the giver. There’s a religious donation that’s purified by neither the giver nor the recipient. There’s a religious donation that’s purified by both the giver and the recipient.
MN 142.14 (SC 34–35)
Yo sīlavā sīlavantesu dadāti dānaṁ, / Dhammena laddhaṁ supasannacitto; / Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, / Taṁ ve dānaṁ vipulapphalanti brūmi. // Yo vītarāgo vītarāgesu dadāti dānaṁ, / Dhammena laddhaṁ supasannacitto; / Abhisaddahaṁ kammaphalaṁ uḷāraṁ, / Taṁ ve dānaṁ āmisadānānamaggan”ti.
Ai đầy đủ giới luật, / Bố thí cho thiện giới; / Vật thí được đúng pháp, / Với tâm khéo hoan hỷ, / Với lòng tin vững vàng, / Vào quả lớn của nghiệp, / Ta nói bố thí ấy / Chắc chắn có quả lớn. // Ai xuất ly tham ái / Bố thí không tham ái, / Vật thí được đúng pháp. / Với tâm khéo hoan hỷ, / Với lòng tin vững vàng, / Vào quả lớn của nghiệp, / Ta nói bố thí ấy / Là quảng đại tài thí.
When an ethical person with trusting heart / gives a proper gift to ethical persons, / trusting in the ample fruit of deeds, / I declare that gift is abundantly fruitful. // But when a passionless one gives to the passionless / a proper gift with trusting heart, / trusting in the ample fruit of deeds, / that’s truly the best of material gifts.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
dakkhiṇācúng dường, vật cúng dườngBản Việt dịch là "cúng dường"; bản Anh: religious donation.
vibhaṅgaphân biệt, phân tíchTên kinh Dakkhiṇāvibhaṅga = phân biệt cúng dường.
dānabố thí
pāṭipuggalikā dakkhiṇācúng dường phân loại theo hạng người (bố thí cho cá nhân)
saṅghagatā dakkhiṇācúng dường cho Tăng chúng
ubhatosaṅghacả hai Tăng chúng (Tỷ-kheo Tăng và Tỷ-kheo ni)
dāyakangười cho
paṭiggāhakangười nhận
sīlavā / dussīlangười giữ giới / người theo ác giới
aveccappasādatịnh tín bất động (lòng tin không lay chuyển nơi Phật, Pháp, Tăng)
gotrabhū (gotrabhuno)hạng chuyển tánhTrong kinh chỉ những người mang cà-sa mà theo ác giới, ác pháp trong đời tương lai.
bāhirakangoại học (người ngoài giáo pháp)Bản Việt giữ nguyên chữ (bahiraka) trong ngoặc.
vītarāgađã ly tham
asaṅkheyya, appameyyavô số, vô lượng
kammaphalaquả của nghiệp
āmisadānatài thí (bố thí vật chất)
paccekasambuddhaÐộc Giác Phật
parinibbutađã nhập diệt (nhập Niết-bàn)

Xin thưa hoàn cảnh trước, vì hoàn cảnh làm nên sức nặng của bài kinh. Người đến dâng y là bà Mahāpajāpati Gotamīdi mẫu của Thế Tôn. Khi thân mẫu Ngài mệnh chung sau khi sanh, chính bà đã cho Ngài bú sữa của mình.

Và cặp y ấy không phải mua.tự tay kéo sợi và tự tay dệtlàm riêng cho Thế Tôn.

Xin ghi một chỗ chữ nghĩa để bác đọc ba cột khỏi ngỡ. Bản Việt ghi “do con CẮT và dệt”; Pāli sāmaṁ kantaṁkantaṁ nghĩa đen là KÉO SỢI, nên bản Anh dịch “I have SPUN and woven”. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng trong ô trích. Chi tiết ấy làm câu chuyện càng cảm động: bà làm từ sợi.

Bà thưa xin ba lần. Và cả ba lần, Thế Tôn đều đáp cùng một câu: “Này Gotamī, hãy cúng dường TĂNG CHÚNG. Bà cúng dường Tăng chúng, thời Ta sẽ được cung kính, và cả Tăng chúng cũng vậy.”

Xin dừng lại, vì cảnh này rất khó. Đây là người đã nuôi Ngài bằng sữa của mình, tự tay làm một món quà, xin ba lần — và ba lần bị chỉ sang chỗ khác. Bài kinh không làm cho chuyện ấy nhẹ đi.

Nhưng xin để ý Ngài KHÔNG từ chối bà. Ngài nói: cúng dường Tăng chúng thì TA CŨNG ĐƯỢC cung kính. Nghĩa là bà không mất phần cúng dường Ngàibà được thêm cả Tăng chúng.

Và Tôn giả Ānanda làm một việc rất người: ngài THƯA XIN GIÙM. Ngài kể lại công ơn dưỡng dục của bànhắc rằng bà đã cho Thế Tôn bú sữa.

Nhưng Tôn giả nói cả HAI CHIỀU, và đây mới là chỗ khéo. Ngài cũng nêu rằng chính nhờ Thế Tôn mà bà được quy y Tam Bảo, giữ giới, có tịnh tín bất động, và hết nghi ngờ đối với Bốn Sự Thật.

Và Thế Tôn nhân đó dạy một điều rất lớn, xin bác đọc chậm. Nếu nhờ một người mà một người khác được quy y Tam Bảo, giữ năm giới, có tịnh tín bất động, hết nghi đối với Bốn Sự Thật — thì ơn ấy KHÔNG THỂ đền đáp cho xứng bằng đảnh lễ, đứng dậy, chấp tay, hay bằng y phục, đồ ăn khất thực, sàng toạ, dược phẩm.

Xin thưa vì sao điều này quan trọng cho nhà mình. Ơn PHÁP lớn hơn mọi thứ vật chất. Anh chị Huynh Trưởng dạy một em biết quy y, biết giữ giớicái ơn ấy các em không trả bằng quà cáp được. Mà ngược lại cũng vậy: ai đã dạy mình biết đạo thì mình không trả xong bằng vật chất.

Rồi Thế Tôn phân tích rành mạch BA phần, và phần đầu là MƯỜI BỐN loại cúng dường theo hạng người thọ nhận. Từ cúng dường Như Lai, Độc Giác Phật, A-la-hán, các bậc đang trên đường chứng bốn quả, người ngoại học đã ly tham, phàm phu giữ giới, phàm phu ác giới — cho tới bố thí loài bàng sanh.

Và mức công đức thì tăng dần: bố thí loài bàng sanh — trăm phần; phàm phu ác giới — ngàn phần; phàm phu giữ giới — trăm ngàn; ngoại học đã ly tham — trăm ngàn ức; còn từ vị đang trên đường chứng quả Dự lưu trở lênvô số vô lượng.

Xin để ý điều rất từ bi ở đầu danh sách: BỐ THÍ CHO LOÀI VẬT VẪN CÓ CÔNG ĐỨC. Kinh không nói cho vật ăn là uổng. Nó ghi hẳn một mức. Cho ai cũng có phần cả.

Phần hai là BẢY loại cúng dường cho TĂNG CHÚNG, cao nhất là cúng dường cả hai bộ Tăng với đức Phật là vị cầm đầu, xuống tới chỉ định một số Tỷ-kheo hoặc Tỷ-kheo-ni từ Tăng chúng.

Và Thế Tôn khẳng định một câu rất dứt khoát: cúng dường Tăng chúng là VÔ SỐ VÔ LƯỢNG, và KHÔNG có sự bố thí cá nhân nào lớn hơn cúng dường Tăng chúng.

Có một chi tiết ở đây rất đáng suy nghĩ, và cũng rất thẳng thắn. Thế Tôn nói trong tương lai sẽ có hạng “chuyển tánh” mang cà-sa mà theo ác giớidù vậy, cúng dường cho TĂNG CHÚNG vẫn là vô số vô lượng.

Xin thưa chỗ này giải được một nỗi băn khoăn rất thật. Nhiều người ngại: “cúng vào chùa mà gặp người không tốt thì sao?” Bài kinh trả lời: khi cho VỀ TĂNG CHÚNGtức cho về một tập thể, một truyền thống — thì giá trị không rơi theo một cá nhân nào.

Phần ba là BỐN SỰ THANH TỊNH của cúng dường, và đây là phần thiết thực nhất cho người tại gia. Vật thí được thanh tịnh: bởi NGƯỜI CHO; bởi NGƯỜI NHẬN; KHÔNG bởi cả hai; hoặc bởi CẢ HAI — tuỳ ở chỗ người cho và người nhận có giữ giới hay không.

Xin thưa điều này rất công bằng và rất an ủi. Nghĩa là phần của mình nằm trong tay mình: dù người nhận thế nào, nếu MÌNH giữ giới và cho với tâm lành thì vật thí vẫn được thanh tịnh về phía mình.

Và bài kệ cuối nêu chỗ cao nhất: người ĐÃ LY THAM bố thí cho người LY THAM, vật thí đúng pháp, tâm hoan hỷ, tin vào quả lớn của nghiệp — đó là “quảng đại tài thí”.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kinh này cho hai điều rất thiết thực. Một: cúng dường nên hướng về TĂNG CHÚNG, đừng vì tình riêngđây là điều chính Đức Phật nói với người nuôi Ngài từ nhỏ, nên không ai có thể nói là quá khắt khe. Hai: giá trị của việc cho tuỳ rất nhiều ở GIỚI HẠNH và TẤM LÒNG của chính người chochứ không chỉ ở món quà.

  • “Thế Tôn từ chối di mẫu là vô tình.” Ngài không từ chối — Ngài nói cúng dường Tăng chúng thì Ngài CŨNG được cung kính. Bà không mất gì, mà được thêm.
  • “Cúng cho cá nhân là vô ích.” Kinh liệt kê mười bốn hạng người thọ thí và mức công đức của từng hạng, kể cả bố thí loài vật. Điều được nói là không có bố thí cá nhân nào LỚN HƠN cúng dường Tăng chúng.
  • “Gặp người nhận không tốt thì mất phước.” Bốn sự thanh tịnh nói rõ: vật thí có thể được thanh tịnh BỞI NGƯỜI CHO. Phần của mình nằm trong tay mình.
  • Ngành Oanh. Kể chuyện bà nội của Đức Phật tự tay kéo sợi dệt áo — rồi hỏi: món quà tự tay làm có khác món mua không?
  • Ngành Thiếu. Bàn về bốn sự thanh tịnh: phần của mình khi cho là phần nào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc lời “ơn Pháp không đền được bằng vật chất” và nghĩ về người đã dạy mình biết đạo.
  • Vì sao Thế Tôn ba lần chỉ bà cúng dường Tăng chúng?
  • Ơn nào không thể đền đáp bằng vật chất?
  • Bốn sự thanh tịnh của cúng dường là gì?
  • Vì sao cúng dường Tăng chúng vẫn lớn dù người nhận không tốt?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.