G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 139
Nói Thế Nào Cho Khỏi Sinh Tranh Chấp

Kinh Vô Tránh Phân Biệt

Araṇavibhaṅga Sutta — MN 139 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Vô Tránh Phân Biệt

Đây là bài kinh rất nên đọc trước mỗi kỳ họp đoàn: Thế Tôn dạy bảy điều để sống và NÓI NĂNG sao cho không gây tranh chấp. Trong đó có ba câu hỏi trước khi mở miệng, và một điều ít ai ngờ: chớ chấp trước cách gọi tên.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 139
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Nghĩa tênaraṇa: “vô tránh”, không tranh chấp
  • Nêu gương — Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề)

MN 139 là bài kinh Phật dạy cách sống và cách nói năng sao cho KHÔNG gây tranh chấp (araṇa: vô tránh). Mở đầu, Thế Tôn nêu một bài "tổng thuyết" gồm bảy điều ngắn gọn, rồi lần lượt giải thích từng điều một, cuối cùng tổng kết lại thành hai loại pháp: pháp hữu tránh (gây tranh chấp, có đau khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não, thuộc tà đạo) và pháp vô tránh (không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não, thuộc chánh đạo). Bảy điều trong tổng thuyết là: (1) chớ hành trì dục lạc hạ liệt, cũng chớ hành trì tự kỷ khổ hạnh; (2) từ bỏ hai cực đoan ấy mà đi con đường Trung đạo — chính là Thánh đạo tám ngành; (3) nên biết tán thán và biết chỉ trích, nhưng sau khi biết rồi thì không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp; (4) nên biết phán xét về lạc, rồi chú tâm vào nội lạc; (5) không nên nói lời bí mật (nói sau lưng), mặt đối mặt không nên nói lời mất lòng; (6) nên nói thật từ từ, chớ vội vàng; (7) chớ chấp trước địa phương ngữ, chớ đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Phần giải thích rất thiết thực cho việc dạy dỗ và sinh hoạt đoàn thể. Về lời nói: dù là lời nói sau lưng hay lời nói thẳng trước mặt, tiêu chuẩn không phải là "nói hay không nói" mà là ba câu hỏi — có thật không, có hư vọng không, có liên hệ mục đích không; và nếu thật, không hư vọng, có lợi ích thì còn phải "biết thời" mới nói. Về cách nói: nói vội vàng thì thân mệt mỏi, tâm và tiếng bị tổn hại, cổ họng đau, lời nói không rõ ràng, khó nhận hiểu. Về danh từ: cùng một vật mà mỗi xứ gọi một tên, chớ khăng khăng "chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng". Về lạc: dục lạc do năm dục trưởng dưỡng là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc, nên sợ hãi; còn lạc của bốn Thiền là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc, nên tu tập, không nên sợ hãi.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Jetavana, tịnh xá ông Cấp Cô Ðộc, gọi các Tỷ-kheo và tuyên bố sẽ giảng về Vô tránh phân biệt (SC 1–5).
  • Tổng thuyết (uddesa) bảy điều — Bảy điều nêu vắn tắt: hai cực đoan cần tránh; Trung đạo; tán thán/chỉ trích; phán xét về lạc; lời bí mật và lời mất lòng; nói từ từ; địa phương ngữ (SC 6).
  • Giải thích điều 1: hai cực đoan — Dục lạc đam mê và tự kỷ khổ hạnh đều là pháp có đau khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não, thuộc tà đạo; không đam mê thì thuộc chánh đạo (SC 7–10).
  • Giải thích điều 2: Trung đạo — Trung đạo ấy chính là Thánh đạo tám ngành: chánh tri kiến … chánh định (SC 11).
  • Giải thích điều 3: tán thán và chỉ trích — Thế nào là có tán thán, có chỉ trích mà không thuyết pháp (nói 'những ai… tất cả những vị ấy…'), và thế nào là không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp (chỉ nói về pháp, không chỉ vào người) (SC 12–19).
  • Giải thích điều 4: phán xét về lạc — Năm dục trưởng dưỡng và dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc — nên sợ hãi; bốn Thiền là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc — nên tu tập (SC 20–23).
  • Giải thích điều 5: lời bí mật và lời mất lòng — Ba trường hợp cho mỗi loại lời: không thật/hư vọng/không lợi ích thì chớ nói; thật mà không lợi ích thì tập đừng nói; thật, không hư vọng, có lợi ích thì phải biết thời mà nói (SC 24–27).
  • Giải thích điều 6: nói từ từ — Tác hại của nói vội vàng đối với thân, tâm, tiếng, cổ họng và sự rõ ràng của lời nói; ngược lại là nói từ từ (SC 28–30).
  • Giải thích điều 7: địa phương ngữ — Cùng một vật, mỗi quốc độ gọi một tên khác nhau; chấp thủ 'chỉ như vậy là sự thật' là chấp trước địa phương ngữ; không chấp thủ mà hiểu ý người nói là không chấp trước (SC 31–34).
  • Tổng kết: pháp hữu tránh và pháp vô tránh — Rà lại toàn bộ các điều trên, mỗi điều được xác định là pháp hữu tránh hay pháp vô tránh (SC 35–53).
  • Lời khuyên tu học và kết kinh — Hãy tu học để biết hữu tránh pháp và vô tránh pháp rồi hành trì vô tránh đạo; nêu Thiện gia nam tử Subhūti; các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 54–55).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 139.3 (SC 6) — tổng thuyết
“Na kāmasukhamanuyuñjeyya hīnaṁ gammaṁ pothujjanikaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ, na ca attakilamathānuyogamanuyuñjeyya dukkhaṁ anariyaṁ anatthasaṁhitaṁ. Ete kho, bhikkhave, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā, cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati. Ussādanañca jaññā, apasādanañca jaññā; ussādanañca ñatvā apasādanañca ñatvā nevussādeyya, na apasādeyya, dhammameva deseyya. Sukhavinicchayaṁ jaññā; sukhavinicchayaṁ ñatvā ajjhattaṁ sukhamanuyuñjeyya. Rahovādaṁ na bhāseyya, sammukhā na khīṇaṁ bhaṇe. Ataramānova bhāseyya, no taramāno. Janapadaniruttiṁ nābhiniveseyya, samaññaṁ nātidhāveyyāti—ayamuddeso araṇavibhaṅgassa.
Chớ có hành trì dục lạc, hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Và cũng không nên hành trì tự kỷ khổ hạnh, đau khổ, không xứng bậc Thánh, không liên hệ mục đích. Từ bỏ hai cực đoan ấy, có con đường Trung đạo đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Nên biết tán thán và nên biết chỉ trích. Sau khi biết tán thán và sau khi biết chỉ trích, không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên thuyết pháp. Nên biết phán xét về lạc. Sau khi biết phán xét về lạc, nên chú tâm vào nội lạc. Không nên nói lên lời bí mật. Mặt đối mặt (với ai), không nên nói lời mất lòng. Nên nói thật từ từ, không có vội vàng. Chớ có chấp trước địa phương ngữ, chớ có đi quá xa ngôn ngữ thường dùng. Như vậy là tổng thuyết về Vô tránh phân biệt.
“Don’t indulge in sensual pleasure, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And don’t indulge in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless. Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment. Know what it means to flatter and to rebuke. Knowing these, avoid them, and just teach Dhamma. Know how to evaluate different kinds of pleasure. Knowing this, pursue inner pleasure. Don’t talk behind people’s backs, and don’t speak sharply in their presence. Don’t speak hurriedly. Don’t insist on popular definitions and don’t overstep normal labels. This is the summary recital for the analysis of no strife.
MN 139.5 (SC 11) — Trung đạo là Thánh đạo tám ngành
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājīvo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Ðây là con đường Thánh tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
It is simply this noble eightfold path, that is: right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
MN 139.9.12–9.13 (SC 21) — dục lạc
Yaṁ kho, bhikkhave, ime pañca kāmaguṇe paṭicca uppajjati sukhaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati kāmasukhaṁ mīḷhasukhaṁ puthujjanasukhaṁ anariyasukhaṁ. ‘Na āsevitabbaṁ, na bhāvetabbaṁ, na bahulīkātabbaṁ, bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.
Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục trưởng dưỡng này khởi lên lạc và hỷ, như vậy gọi là dục lạc, uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc. Ta nói loại lạc này không nên thực hành, không nên tu tập, không nên làm cho sung mãn, nên sợ hãi.
The pleasure and happiness that arise from these five kinds of sensual stimulation is called sensual pleasure—a filthy, common, ignoble pleasure. Such pleasure should not be cultivated or developed, but should be feared, I say.
MN 139.9.18–9.19 (SC 22) — lạc của Thiền
Idaṁ vuccati nekkhammasukhaṁ pavivekasukhaṁ upasamasukhaṁ sambodhisukhaṁ. ‘Āsevitabbaṁ, bhāvetabbaṁ, bahulīkātabbaṁ, na bhāyitabbaṁ etassa sukhassā’ti—vadāmi.
Như vậy gọi là xuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạc. Ta nói loại lạc này nên thực hành, nên tu tập, nên làm cho sung mãn, không nên sợ hãi.
This is called the pleasure of renunciation, the pleasure of seclusion, the pleasure of peace, the pleasure of awakening. Such pleasure should be cultivated and developed, and should not be feared, I say.
MN 139.10.4–10.6 (SC 25) — ba trường hợp của lời nói sau lưng
Tatra, bhikkhave, yaṁ jaññā rahovādaṁ abhūtaṁ atacchaṁ anatthasaṁhitaṁ sasakkaṁ taṁ rahovādaṁ na bhāseyya. Yampi jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ anatthasaṁhitaṁ tassapi sikkheyya avacanāya. Yañca kho jaññā rahovādaṁ bhūtaṁ tacchaṁ atthasaṁhitaṁ tatra kālaññū assa tassa rahovādassa vacanāya.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, biết được một lời bí mật là không thực, hư vọng, không liên hệ mục đích, nếu có thể được, chớ nói lên lời bí mật ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, nhưng không liên hệ mục đích, hãy tự tập đừng nói lời ấy. Và nếu biết được một lời bí mật là thực, không hư vọng, có liên hệ mục đích; ở đây nên biết thời nói lên lời bí mật ấy.
When you know that what you say behind someone’s back is untrue, false, and pointless, then to the best of your ability you should not speak. When you know that what you say behind someone’s back is true and correct, but pointless, then you should train yourself not to speak. When you know that what you say behind someone’s back is true, correct, and beneficial, then you should know the right time to speak.
MN 139.11.3–11.4 (SC 29–30) — nói vội vàng và nói từ từ
Tatra, bhikkhave, taramānassa bhāsato kāyopi kilamati, cittampi upahaññati, saropi upahaññati, kaṇṭhopi āturīyati, avisaṭṭhampi hoti aviññeyyaṁ taramānassa bhāsitaṁ. Tatra, bhikkhave, ataramānassa bhāsato kāyopi na kilamati, cittampi na upahaññati, saropi na upahaññati, kaṇṭhopi na āturīyati, visaṭṭhampi hoti viññeyyaṁ ataramānassa bhāsitaṁ.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nếu nói vội vàng, thời thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại và cổ họng bị đau. Lời nói một người vội vàng không được rõ ràng và không được nhận hiểu. Tại đây, này các Tỷ-kheo, nói lời từ từ, thân không mệt mỏi, tâm không tổn hại, tiếng không tổn hại và cổ họng không bị đau. Lời nói một người nói từ từ được rõ ràng và được nhận hiểu.
When speaking hurriedly, your body gets tired, your mind gets stressed, your voice gets stressed, your throat gets sore, and your words become unclear and hard to understand. When not speaking hurriedly, your body doesn’t get tired, your mind doesn’t get stressed, your voice doesn’t get stressed, your throat doesn’t get sore, and your words are clear and easy to understand.
MN 139.12.5–12.6 (SC 32) — chấp trước địa phương ngữ
Iti yathā yathā naṁ tesu tesu janapadesu sañjānanti tathā tathā thāmasā parāmāsā abhinivissa voharati: ‘idameva saccaṁ, moghamaññan’ti.
Như vậy, như họ biết trong các quốc độ ấy những chữ là như vậy, như vậy, có người lại làm như vậy, kiên trì chấp thủ, chấp trước và nói: “Chỉ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng”.
And however it is known among those various populations, you speak accordingly, obstinately sticking to that and insisting: ‘This is the only truth, anything else is futile.’
MN 139.14.1–14.3 (SC 54) — lời khuyên tu học
Tasmātiha, bhikkhave, ‘saraṇañca dhammaṁ jānissāma, araṇañca dhammaṁ jānissāma; saraṇañca dhammaṁ ñatvā araṇañca dhammaṁ ñatvā araṇapaṭipadaṁ paṭipajjissāmā’ti evañhi vo, bhikkhave, sikkhitabbaṁ. Subhūti ca pana, bhikkhave, kulaputto araṇapaṭipadaṁ paṭipanno”ti.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Ông phải tự tu học như sau: “Chúng ta sẽ biết hữu tránh pháp và chúng ta sẽ biết vô tránh pháp. Sau khi biết hữu tránh pháp và sau khi biết vô tránh pháp, chúng ta sẽ hành trì vô tránh đạo”. Và này các Tỷ-kheo, Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) đã hành trì vô tránh pháp.
So you should train like this: ‘We shall know the principles beset by strife and the principles free of strife. Knowing this, we will practice the way free of strife.’ And, mendicants, the gentleman Subhūti practices the way free of strife.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
araṇavô tránh — không có tranh chấp, không gây tranh cãiTrái với saraṇa (hữu tránh). Tên kinh: Araṇavibhaṅga = Vô tránh phân biệt.
saraṇahữu tránh — có tranh chấpTrong kinh này saraṇa mang nghĩa 'có tranh chấp', không phải nghĩa 'nương tựa/quy y'.
vibhaṅgaphân biệt, phân tích, giảng rộngThể loại kinh: nêu tổng thuyết (uddesa) rồi phân tích từng điều.
uddesatổng thuyết — phần nêu vắn tắt đề mụcSC 6 là uddesa của kinh này.
majjhimā paṭipadāTrung đạoỞ đây được xác định là ariyo aṭṭhaṅgiko maggo — Thánh đạo tám ngành.
attakilamathānuyogatự kỷ khổ hạnh — sự hành hạ thân xácMột trong hai cực đoan cần tránh.
kāmasukhallikānuyoga / kāmasukhadục lạc, sự đắm mê khoái lạc giác quanCực đoan thứ nhất; trong kinh gọi là uế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạc.
ussādanā / apasādanātán thán / chỉ tríchBiết rồi thì không tán thán, không chỉ trích, chỉ thuyết pháp.
sukhavinicchayaphán xét (thẩm định) về lạcPhân biệt loại lạc nên sợ hãi và loại lạc nên tu tập.
ajjhattaṁ sukhaṁnội lạc — an lạc bên trongChỉ lạc do ly dục, của thiền định.
nekkhammasukha, pavivekasukha, upasamasukha, sambodhisukhaxuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạcBốn tên gọi cho lạc của bốn Thiền.
pañca kāmaguṇānăm dục trưởng dưỡng — sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái
rahovādalời bí mật — lời nói sau lưng người khác
sammukhā khīṇaṁ (vacanaṁ)lời mất lòng nói thẳng trước mặt
atthasaṁhita / anatthasaṁhitacó liên hệ mục đích (lợi ích) / không liên hệ mục đíchTiêu chuẩn thứ ba để quyết định nói hay không nói.
kālaññūbiết thời — biết đúng lúc mà nói
janapadaniruttiđịa phương ngữ — tiếng nói, cách gọi tên của từng xứ
samaññāngôn ngữ thường dùng, danh xưng quy ước'Chớ đi quá xa ngôn ngữ thường dùng'.
bhavasaṁyojanahữu kiết sử — sợi dây trói buộc vào hiện hữuSC 15, 18.
SubhūtiTu-bồ-đềVị được Thế Tôn nêu là người hành trì vô tránh đạo.

Xin thưa ngay: đây là bài kinh con nghĩ nên đọc trước mỗi kỳ họp đoàn. Nó dạy cách sống và cách NÓI NĂNG sao cho không gây tranh chấparaṇa, “vô tránh”.

Thế Tôn nêu BẢY điều trong phần tóm tắt, rồi giải từng điều một. Xin kể đủ bảy: (1) chớ hành trì dục lạc hạ liệt, cũng chớ hành trì tự kỷ khổ hạnh; (2) đi con đường Trung đạo — chính là Thánh đạo tám ngành; (3) nên biết tán thán và biết chỉ trích, nhưng biết rồi thì không tán thán, không chỉ trích, chỉ nên THUYẾT PHÁP; (4) nên biết phán xét về lạc, rồi chú tâm vào nội lạc; (5) không nên nói lời bí mật, mặt đối mặt không nên nói lời mất lòng; (6) nên nói thật TỪ TỪ, chớ vội vàng; (7) chớ chấp trước địa phương ngữ, chớ đi quá xa ngôn ngữ thường dùng.

Điều thứ ba là điều con muốn thưa trước tiên, vì nó rất khó và rất quý. Kinh KHÔNG cấm biết ai đúng ai sai“nên biết tán thán và biết chỉ trích”. Nhưng biết rồi thì đừng làm cả hai việc ấychỉ nên THUYẾT PHÁP.

Và kinh giải rất cụ thể chỗ khác nhau. Chỉ trích là nói “NHỮNG AI… tất cả những vị ấy…”chỉ vào NGƯỜI. Thuyết phápchỉ nói về PHÁP, không chỉ vào người.

Xin thưa đây là chỗ dùng được ngay trong buổi họp đoàn. Cùng một việc, có hai cách nói: “Anh ấy hay đi trễ” — và “Đi đúng giờ là giữ lời hứa với các em”. Câu trước sinh tranh; câu sau sinh sửa.

Điều thứ năm nói về LỜI NÓI SAU LƯNG và LỜI NÓI THẲNG — và tiêu chuẩn thì rất bất ngờ. Kinh không nói “đừng nói sau lưng” hay “phải nói thẳng”. Nó đưa ra BA CÂU HỎI áp cho cả hai loại lời.

Ba câu hỏi ấy là: có THẬT không?có HƯ VỌNG không?có LIÊN HỆ MỤC ĐÍCH không?

Và cách xử theo ba mức, xin đọc chậm. Nếu không thật, hư vọng, không lợi íchCHỚ NÓI. Nếu thật, không hư vọng, NHƯNG không lợi íchTẬP ĐỪNG NÓI. Nếu thật, không hư vọng, CÓ lợi íchcòn phải BIẾT THỜI mới nói.

Xin dừng ở mức thứ hai, vì đó là mức khó nhất. Chuyện THẬT mà không ích gì thì vẫn không nên nói. Rất nhiều lời gây mất lòng trong đoàn đều là chuyện thật cảvà chính vì thật nên người ta thấy mình có quyền nói.

Và mức thứ ba còn thêm một điều kiện nữa: BIẾT THỜI. Nghĩa là thật, có ích, mà nói sai lúc thì cũng hỏng. Ba tầng lọc, không phải một.

Điều thứ sáu — “nói thật TỪ TỪ, chớ vội vàng” — nghe như chuyện nhỏ, mà kinh giải rất kỹ. Nói vội vàng thì: thân mệt mỏi, tâm bị tổn hại, tiếng bị tổn hại, cổ họng đau, và lời nói không rõ ràng, khó nhận hiểu.

Xin để ý kinh kể cả cái hại cho THÂN. Đây là chỗ rất người: mệt, khàn tiếng, đau họng. Đức Phật để ý tới cả cái cổ họng của người giảng.

Và điều thứ bảy là điều ít ai ngờ nhất: CHỚ CHẤP TRƯỚC ĐỊA PHƯƠNG NGỮ. Kinh nêu ví dụ rất giản dị: cùng MỘT cái bátmỗi xứ gọi một tên khác nhau — bản Việt phiên là Pati, Patta, Vittha, Sarava, Dharopa, Pona, Pisila.

Cái sai không phải ở chỗ gọi tên nào — mà ở chỗ KHĂNG KHĂNG. Kinh chỉ đích danh câu nói hỏng: “CHỈ như vậy là sự thật, ngoài ra là hư vọng.”

Và cách làm đúng thì rất nhẹ nhàng: hiểu Ý người ta muốn nói“chắc các vị ấy nói về cái này” — rồi dùng theo mà không chấp thủ.

Xin thưa điều này rất hợp với hoàn cảnh nhà mình. Trong Gia Đình Phật Tử ở hải ngoại, cùng một điều mà mỗi miền gọi một cách, các em thì quen tiếng Anh, các bác thì quen tiếng Việt. Bài kinh nói: đừng để cái TÊN thành chỗ tranh.

Điều thứ tư nói về LẠC, và kinh phân biệt rất rõ hai loại. Dục lạc do năm dục trưởng dưỡnguế lạc, phàm phu lạc, phi Thánh lạcnên sợ hãi. Còn lạc của bốn Thiềnxuất ly lạc, viễn ly lạc, an tịnh lạc, giác ngộ lạcnên tu tập, KHÔNG nên sợ hãi.

Xin thưa bốn chữ “không nên sợ hãi” rất đáng để ý. Có người tu sợ luôn cả cái vui trong sạch, thấy mình an lạc thì đâm nghi. Kinh nói rõ: thứ lạc ấy nên tu tập.

Và toàn bộ bảy điều được tổng kết thành HAI loại pháp. Pháp HỮU TRÁNH: có đau khổ, phiền lao, ưu não, nhiệt não — thuộc tà đạo. Pháp VÔ TRÁNH: không đau khổ, không phiền lao, không ưu não, không nhiệt não — thuộc chánh đạo.

Xin để ý cái thước ở đây rất giản dị và ai cũng dùng được. Không hỏi “tôi có lý không” — mà hỏi “cách này có sinh ra nhiệt não không”. Nhiều khi mình rất có lý, mà cách nói của mình vẫn thuộc pháp hữu tránh.

Kinh kết bằng cách nêu tên một người: Thiện gia nam tử Subhūti (Tu-bồ-đề) — vị đã hành trì vô tránh đạo.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Nếu chỉ dán MỘT thứ lên bảng đoàn quán, con xin đề nghị ba câu hỏi trước khi nói: Có thật không? — Có ích không? — Có đúng lúc không? Ba câu ấy đủ để dẹp phần lớn những chuyện buồn trong một đoàn thể.

  • “Vô tránh nghĩa là ai nói gì cũng nhịn.” Kinh vẫn dạy “nên BIẾT tán thán và biết chỉ trích”, và vẫn cho nói điều thật, có ích, đúng thời. Vô tránh là cách nói, không phải im lặng.
  • “Nói sau lưng là luôn luôn sai.” Kinh áp cùng BA câu hỏi cho cả lời sau lưng lẫn lời trước mặt. Tiêu chuẩn là thật — ích — đúng thời, không phải chỗ đứng.
  • “Mọi thứ lạc đều phải tránh.” Kinh nói lạc của bốn Thiền “nên tu tập, KHÔNG nên sợ hãi”. Chỉ dục lạc mới là thứ nên sợ.
  • Ngành Oanh. Dạy ba câu hỏi bằng lời rất giản dị: “Có thật không? Nói ra có giúp gì không? Bây giờ có phải lúc không?”
  • Ngành Thiếu. Chơi trò gọi tên một vật bằng nhiều thứ tiếng, rồi hỏi: tên nào mới đúng?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Tập đổi một câu chỉ trích thành một câu thuyết pháp: bỏ tên người, chỉ nói việc.
  • Bảy điều trong phần tổng thuyết là gì?
  • Ba câu hỏi trước khi nói là gì?
  • Vì sao “chuyện thật mà không ích” cũng không nên nói?
  • Ví dụ bảy tên gọi của cái bát dạy điều gì?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.