G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 137
Buông Cả Chỗ Nương Cao Nhất

Kinh Phân Biệt Sáu Xứ

Saḷāyatanavibhaṅga Sutta — MN 137 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Phân Biệt Sáu Xứ

Thế Tôn nêu một bảng mục lục của đời sống qua sáu giác quan, rồi giảng từng mục. Phần cốt tuỷ là mười tám ý hànhbậc thang buông: nương cái cao hơn để bỏ cái thấp hơn — cho tới bậc cuối cùng, buông luôn cả chỗ nương cao nhất.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 137
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm
  • Đặc điểm — Thế Tôn tự nêu đề tài, không do ai hỏi
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh này Phật giảng một bảng "mục lục" của đời sống qua sáu giác quan, rồi lần lượt giải thích từng mục. Trước hết Ngài nêu tổng thuyết: cần phải biết sáu nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), sáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp), sáu thức thân, sáu xúc thân, mười tám ý hành, ba mươi sáu loại hữu tình; rồi "do y cứ cái này, đoạn tận cái này"; rồi ba niệm xứ mà bậc Thánh phải thực hành; sau cùng là vì sao Như Lai được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư. Phần cốt tủy cho người tu là mười tám ý hành và ba mươi sáu loại hữu tình. Sau khi mắt thấy sắc (tai nghe tiếng, v.v.), ý chạy theo ba hướng: hỷ, ưu, xả — sáu căn nhân ba thành mười tám. Mỗi loại hỷ, ưu, xả lại chia hai: "liên hệ tại gia" (gehasita — dựa trên việc được hay không được SÁU trần khả ái “liên hệ thế vật” (<em>lokāmisapaṭisaṁyutta</em>), tức kể cả PHÁP trần do ý nhận thức, chứ không phải chỉ năm dục) và "liên hệ xuất ly" (nekkhammasita, khởi lên khi thấy như thật rằng các pháp là vô thường, khổ, biến hoại) — sáu nhân sáu thành ba mươi sáu. Rồi Phật dạy cách tu tiến theo bậc thang: nương sáu hỷ xuất ly để bỏ sáu hỷ tại gia; nương sáu ưu xuất ly để bỏ sáu ưu tại gia; nương sáu xả xuất ly để bỏ sáu xả tại gia; nương hỷ xuất ly bỏ ưu xuất ly; rồi nương xả xuất ly bỏ luôn hỷ xuất ly. Tiếp nữa, nương xả nhứt diện (bốn vô sắc xứ) bỏ xả đa diện (xả với sắc, thanh, hương, vị, xúc); cuối cùng nương "không tham dục" (atammayatā) mà bỏ luôn xả nhứt diện — nghĩa là buông cả chỗ nương cao nhất. Ba niệm xứ nói về tâm bậc Ðạo sư: khi đệ tử không nghe, Như Lai không bực; khi kẻ nghe kẻ không, Ngài trú xả; khi đệ tử vâng làm, Ngài hoan hỷ — cả ba trường hợp đều chánh niệm tỉnh giác. Sau chót, thợ dạy voi, ngựa, bò chỉ dắt con vật chạy về một phương, còn người được Như Lai điều phục chạy cùng khắp tám phương, từ "có sắc thấy sắc" cho đến Diệt thọ tưởng định.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi và tổng thuyết (uddesa) — Tại Kỳ-đà Lâm, Phật nêu đề mục sẽ giảng: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức thân, sáu xúc thân, mười tám ý hành, ba mươi sáu loại hữu tình, 'do y cứ cái này đoạn tận cái này', ba niệm xứ, và danh hiệu Vô thượng Ðiều ngự sư (SC 1–5 / mn137:1.1–3.2).
  • Sáu nội xứ, sáu ngoại xứ, sáu thức thân, sáu xúc thân — Bốn nhóm sáu được kể tên theo công thức 'khi được nói đến … do duyên gì được nói đến như vậy?' (SC 6–9 / mn137:4–7).
  • Mười tám ý hành — Sau khi mắt thấy sắc … ý nhận thức pháp, ý chạy theo sắc (pháp) trú xứ của hỷ, của ưu, của xả: sáu hỷ hành, sáu ưu hành, sáu xả hành (SC 10 / mn137:8).
  • Ba mươi sáu loại hữu tình: hỷ, ưu, xả — tại gia và xuất ly — Sáu hỷ liên hệ tại gia, sáu hỷ liên hệ xuất ly; sáu ưu tại gia, sáu ưu xuất ly; sáu xả tại gia, sáu xả xuất ly — mỗi loại được định nghĩa riêng (SC 11–18 / mn137:9–15).
  • Do y cứ cái này, đoạn tận cái này — Bậc thang thay thế: xuất ly thay tại gia; hỷ xuất ly thay ưu xuất ly; xả xuất ly thay hỷ xuất ly (SC 19 / mn137:16).
  • Xả đa diện, xả nhứt diện và không tham dục (atammayatā) — Xả đối với sắc thanh hương vị xúc là xả đa diện; xả y cứ bốn vô sắc xứ là xả nhứt diện; nương nhứt diện bỏ đa diện, rồi nương không tham dục bỏ luôn nhứt diện (SC 20 / mn137:17–20).
  • Ba niệm xứ của bậc Thánh Ðạo sư — Ba trường hợp: đệ tử không nghe; kẻ nghe kẻ không; tất cả đều nghe — Như Lai lần lượt không dao động, trú xả, hoan hỷ, luôn chánh niệm tỉnh giác (SC 21–24 / mn137:21–24).
  • Vô thượng Ðiều ngự sư và tám phương — Voi, ngựa, bò được điều phục chỉ chạy một phương; người được Như Lai điều phục chạy cùng khắp tám phương, từ 'có sắc thấy các sắc pháp' đến Diệt thọ tưởng định. Kết kinh: các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ (SC 25–30 / mn137:25–28).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 5 (mn137:3.1–3.2)
‘Cha ajjhattikāni āyatanāni veditabbāni, cha bāhirāni āyatanāni veditabbāni, cha viññāṇakāyā veditabbā, cha phassakāyā veditabbā, aṭṭhārasa manopavicārā veditabbā, chattiṁsa sattapadā veditabbā, tatra idaṁ nissāya idaṁ pajahatha, tayo satipaṭṭhānā yadariyo sevati yadariyo sevamāno satthā gaṇamanusāsitumarahati, so vuccati yoggācariyānaṁ anuttaro purisadammasārathī’ti— ayamuddeso saḷāyatanavibhaṅgassa.
Có sáu nội xứ cần phải biết. Có sáu ngoại xứ cần phải biết. Có sáu thức thân cần phải biết. Có sáu xúc thân cần phải biết. Có mười tám ý hành cần phải biết. Có ba mươi sáu loại hữu tình cần phải biết. Tại đây, do y cứ cái này, đoạn tận cái này, có ba niệm xứ mà một bậc Thánh phải thực hành, và có thực hành (niệm xứ) ấy, bậc Thánh mới xứng là bậc Ðạo sư diễn giảng đồ chúng. Trong các bậc Huấn luyện sư, vị ấy được gọi là bậc Vô thượng Ðiều ngự sư, điều phục các hạng người đáng được điều phục. Ðây là tổng thuyết về phân biệt sáu xứ.
‘The six interior sense fields should be understood. The six exterior sense fields should be understood. The six classes of consciousness should be understood. The six classes of contact should be understood. The eighteen mental preoccupations should be understood. The thirty-six positions of sentient beings should be understood. Therein, relying on this, give up that. The Noble One cultivates the establishment of mindfulness in three cases, by virtue of which they are a Teacher worthy to instruct a group. Of all meditation tutors, it is he that is called the supreme guide for those fit for training.’ This is the summary recital for the analysis of the six sense fields.
SC 10 (mn137:8.3, 8.8–8.9)
‘Cakkhunā rūpaṁ disvā somanassaṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati, domanassaṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhānīyaṁ rūpaṁ upavicarati. … manasā dhammaṁ viññāya somanassaṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati, domanassaṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati, upekkhāṭṭhānīyaṁ dhammaṁ upavicarati. Iti cha somanassūpavicārā, cha domanassūpavicārā, cha upekkhūpavicārā, aṭṭhārasa manopavicārā veditabbā’ti—
Sau khi mắt thấy sắc, ý chạy theo sắc trú xứ của hỷ, chạy theo sắc trú xứ của ưu, chạy theo sắc trú xứ của xả; sau khi tai nghe tiếng …; sau khi mũi ngửi hương … sau khi lưỡi nếm vị … sau khi thân cảm xúc … sau khi ý nhận thức pháp, ý chạy theo pháp khởi lên hỷ, chạy theo pháp khởi lên ưu, chạy theo pháp khởi lên xả. Như vậy, có sáu hỷ hành, có sáu ưu hành, có sáu xả hành.
Seeing a sight with their eyes, one is preoccupied with a sight that’s a basis for happiness or sadness or equanimity. Hearing a sound with their ears … Smelling an odor with their nose … Tasting a flavor with their tongue … Encountering a touch with their body … Becoming conscious of an idea with their mind, one is preoccupied with an idea that’s a basis for happiness or sadness or equanimity. So there are six preoccupations with happiness, six preoccupations with sadness, and six preoccupations with equanimity. ‘The eighteen mental preoccupations should be understood.’
SC 13 (mn137:11.2–11.3)
Rūpānaṁ tveva aniccataṁ viditvā vipariṇāmavirāganirodhaṁ, ‘pubbe ceva rūpā etarahi ca sabbe te rūpā aniccā dukkhā vipariṇāmadhammā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya passato uppajjati somanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ somanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ somanassaṁ.
Sau khi biết các sắc pháp là vô thường, biến hoại, ly tham, biến diệt và nghĩ rằng: “Các sắc pháp xưa kia và các sắc pháp hiện tại, tất cả sắc pháp là vô thường, khổ, biến hoại”. Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, có hỷ khởi lên. Loại hỷ như vậy được gọi là hỷ liên hệ đến xuất ly.
When you’ve understood the impermanence of sights—their perishing, fading away, and cessation—happiness arises as you truly understand through right understanding that both formerly and now all those sights are impermanent, suffering, and perishable. Such happiness is called renunciate happiness.
SC 15 (mn137:13.2–13.4)
evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpeti: ‘kudāssu nāmāhaṁ tadāyatanaṁ upasampajja viharissāmi yadariyā etarahi āyatanaṁ upasampajja viharantī’ti iti anuttaresu vimokkhesu pihaṁ upaṭṭhāpayato uppajjati pihapaccayā domanassaṁ. Yaṁ evarūpaṁ domanassaṁ idaṁ vuccati nekkhammasitaṁ domanassaṁ.
Sau khi như thật thấy như vậy với chánh trí tuệ, vị ấy khởi lên ước muốn đối với vô thượng giải thoát, nghĩ rằng: “Khi nào ta có thể chứng đạt và an trú trong xứ (āyatana) mà các bậc Thánh đang chứng đạt và an trú?” Như vậy, do ước muốn đối với các vô thượng giải thoát, ưu khởi lên do duyên ước muốn. Loại ưu như vậy được gọi là ưu liên hệ xuất ly.
Upon seeing this, you give rise to longing for the supreme liberations: ‘Oh, when will I enter and remain in the same dimension that the noble ones enter and remain in today?’ When you give rise to longing for the supreme liberations like this, sadness arises because of the longing. Such sadness is called renunciate sadness.
SC 19 (mn137:16.3–16.12)
Tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni nissāya tāni āgamma yāni cha gehasitāni somanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. Evametesaṁ pahānaṁ hoti, evametesaṁ samatikkamo hoti. … Tatra, bhikkhave, yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni nissāya tāni āgamma yāni cha nekkhammasitāni domanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha. … Tatra, bhikkhave, yā cha nekkhammasitā upekkhā tā nissāya tā āgamma yāni cha nekkhammasitāni somanassāni tāni pajahatha, tāni samatikkamatha.
Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ tại gia. Như vậy là sự đoạn tận chúng; như vậy là sự vượt qua chúng. … Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên sáu hỷ liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu ưu liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng. Tại đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả liên hệ xuất ly, đoạn tận, vượt qua sáu hỷ liên hệ xuất ly. Như vậy là sự đoạn tận chúng, là sự vượt qua chúng.
Therein, by relying and depending on the six kinds of renunciate happiness, give up and go beyond the six kinds of domestic happiness. That’s how they are given up. … Therein, by relying on the six kinds of renunciate happiness, give up the six kinds of renunciate sadness. … Therein, by relying on the six kinds of renunciate equanimity, give up the six kinds of renunciate happiness. That’s how they are given up.
SC 20 (mn137:17.1–20.4)
Atthi, bhikkhave, upekkhā nānattā nānattasitā, atthi upekkhā ekattā ekattasitā. … Atthi, bhikkhave, upekkhā rūpesu, atthi saddesu, atthi gandhesu, atthi rasesu, atthi phoṭṭhabbesu— ayaṁ, bhikkhave, upekkhā nānattā nānattasitā. … Atthi, bhikkhave, upekkhā ākāsānañcāyatananissitā, atthi viññāṇañcāyatananissitā, atthi ākiñcaññāyatananissitā, atthi nevasaññānāsaññāyatananissitā— ayaṁ, bhikkhave, upekkhā ekattā ekattasitā. Tatra, bhikkhave, yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā taṁ nissāya taṁ āgamma yāyaṁ upekkhā nānattā nānattasitā taṁ pajahatha, taṁ samatikkamatha. … Atammayataṁ, bhikkhave, nissāya atammayataṁ āgamma yāyaṁ upekkhā ekattā ekattasitā taṁ pajahatha, taṁ samatikkamatha.
Này các Tỷ-kheo, có xả đa diện, y cứ đa diện; có xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. … Này các Tỷ-kheo, có xả đối với các sắc pháp, có xả đối với các tiếng, có xả đối với các hương, có xả đối với các vị, có xả đối với các xúc. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả đa diện, y cứ đa diện. … Có xả y cứ Hư không vô biên xứ, có xả y cứ Thức vô biên xứ, có xả y cứ Vô sở hữu xứ, có xả y cứ Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Như vậy, này các Tỷ-kheo là xả nhứt diện, y cứ nhứt diện. Ở đây, này các Tỷ-kheo, do y cứ, do duyên xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện, đoạn tận vượt qua xả đa diện, xả y cứ đa diện. … Này các Tỷ-kheo, do y cứ không tham dục, do duyên không tham dục, đoạn tận, vượt qua xả nhứt diện, xả y cứ nhứt diện ấy.
There is equanimity that is diversified, based on diversity, and equanimity that is unified, based on unity. … There is equanimity toward sights, sounds, smells, tastes, and touches. This is equanimity based on diversity. … There is equanimity based on the dimensions of infinite space, infinite consciousness, nothingness, and neither perception nor non-perception. This is equanimity based on unity. Therein, relying on equanimity based on unity, give up equanimity based on diversity. That’s how it is given up. Relying on not being determined by that, give up equanimity based on unity.
SC 22 (mn137:23.1–23.9)
Puna caparaṁ, bhikkhave, satthā sāvakānaṁ dhammaṁ deseti anukampako hitesī anukampaṁ upādāya: ‘idaṁ vo hitāya, idaṁ vo sukhāyā’ti. Tassa ekacce sāvakā na sussūsanti, na sotaṁ odahanti, na aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, vokkamma ca satthusāsanā vattanti; ekacce sāvakā sussūsanti, sotaṁ odahanti, aññā cittaṁ upaṭṭhapenti, na ca vokkamma satthusāsanā vattanti. Tatra, bhikkhave, tathāgato na ceva anattamano hoti, na ca anattamanataṁ paṭisaṁvedeti; na ca attamano hoti, na ca attamanataṁ paṭisaṁvedeti. Anattamanatā ca attamanatā ca— tadubhayaṁ abhinivajjetvā upekkhako viharati sato sampajāno.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, bậc Ðạo sư thuyết pháp cho các đệ tử, vì lòng từ mẫn, vì lo cho hạnh phúc của họ, vì thương tưởng họ, nói rằng: “Ðây là hạnh phúc cho các Ông, đây là an lạc cho các Ông”. Một số đệ tử bậc Ðạo sư ấy không có khéo nghe, không có lóng tai, không có an trú tâm vào chánh trí, và hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Có một số đệ tử khéo nghe, lóng tai, an trú tâm vào chánh trí, và không hành động ngược lại lời dạy của bậc Ðạo sư. Tại đây, này các Tỷ-kheo, Như Lai không có hoan hỷ, không có cảm giác hoan hỷ, không có không hoan hỷ, không có cảm giác không hoan hỷ; sau khi đoạn bỏ cả hai, hoan hỷ và không hoan hỷ, Như Lai trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
The next case is when the Teacher teaches Dhamma to his disciples out of kindness and sympathy: ‘This is for your welfare. This is for your happiness.’ And some of their disciples don’t want to listen. They don’t actively listen or try to understand. They proceed having turned away from the Teacher’s instruction. But some of their disciples do want to listen. They actively listen and try to understand. They don’t proceed having turned away from the Teacher’s instruction. In this case the Realized One is not unhappy, nor is he happy. Shunning both unhappiness and happiness, he remains equanimous, mindful and aware.
SC 26–27 (mn137:26.5, 27.1–27.16)
Tathāgatena hi, bhikkhave, arahatā sammāsambuddhena purisadammo sārito aṭṭha disā vidhāvati. Rūpī rūpāni passati— ayaṁ ekā disā; ajjhattaṁ arūpasaññī bahiddhā rūpāni passati— ayaṁ dutiyā disā; subhantveva adhimutto hoti— ayaṁ tatiyā disā; sabbaso rūpasaññānaṁ samatikkamā paṭighasaññānaṁ atthaṅgamā nānattasaññānaṁ amanasikārā ‘ananto ākāso’ti ākāsānañcāyatanaṁ upasampajja viharati— ayaṁ catutthī disā; … sabbaso nevasaññānāsaññāyatanaṁ samatikkamma saññāvedayitanirodhaṁ upasampajja viharati— ayaṁ aṭṭhamī disā.
Này các Tỷ-kheo, một người được điều phục do Như Lai, bậc A-La-Hán, Chánh Ðẳng Giác dắt dẫn, được chạy cùng khắp cả tám phương. Có sắc, thấy các sắc pháp; đó là phương thứ nhất. Không có tưởng nội sắc, thấy các ngoại sắc; đó là phương thứ hai. Nghĩ đến thanh tịnh, chú tâm trên ấy; đó là phương thứ ba. Vượt qua một cách hoàn toàn các sắc tưởng, diệt trừ đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng; và nghĩ rằng “Hư không là vô biên”, chứng đạt và an trú Không vô biên xứ; đó là phương thứ tư. … Vượt qua một cách hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng đạt và an trú Diệt thọ tưởng (định); đó là phương thứ tám.
But driven by the Realized One, the perfected one, the fully awakened Buddha, a person in training proceeds in eight directions: Having physical form, they see forms. This is the first direction. Not perceiving physical form internally, they see forms externally. This is the second direction. They’re focused only on beauty. This is the third direction. Going totally beyond perceptions of form, with the disappearance of perceptions of impingement, not focusing on perceptions of diversity, aware that ‘space is infinite’, they enter and remain in the dimension of infinite space. This is the fourth direction. … Going totally beyond the dimension of neither perception nor non-perception, they enter and remain in the cessation of perception and feeling. This is the eighth direction.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
saḷāyatanasáu xứ (sáu căn và sáu trần)Bản Việt: 'sáu nội xứ' và 'sáu ngoại xứ'.
vibhaṅgaphân biệt, phân tích
āyatanaxứ, chỗ (giác quan; cũng chỉ các định xứ vô sắc)
viññāṇakāyathức thân (sáu loại thức)
phassakāyaxúc thân (sáu loại xúc)
manopavicāraý hành; ý chạy theo, dò tìm đối tượngMười tám: sáu hỷ hành, sáu ưu hành, sáu xả hành.
somanassahỷ (vui thuộc tâm)
domanassaưu (buồn thuộc tâm)
upekkhāxả
gehasitaliên hệ tại gia; nương nơi đời sống thế tục
nekkhammasitaliên hệ xuất ly; nương nơi sự xuất ly
atammayatākhông tham dục (theo bản dịch HT. Thích Minh Châu); không bị cái ấy quy địnhBản Sujato dịch 'not being determined by that'.
nānatta / ekattađa diện / nhứt diệnChỉ xả đối với năm trần, so với xả nương bốn vô sắc xứ.
satipaṭṭhānaniệm xứ
sato sampajānochánh niệm, tỉnh giác
purisadammasārathīÐiều ngự trượng phu; bậc điều phục người đáng được điều phục
saññāvedayitanirodhaDiệt thọ tưởng định
assutavā puthujjanavô văn phàm phu; kẻ phàm phu không được nghe (Chánh pháp)

Bài kinh này có một hình thức rất gọn gàng, xin nói trước để bác dễ theo. Thế Tôn nêu một bảng MỤC LỤC — kể ra tất cả các đề mục sẽ giảngrồi mới lần lượt giải từng mục.

Bảng mục lục ấy gồm: sáu nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); sáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp); sáu thức thân; sáu xúc thân; mười tám ý hành; ba mươi sáu loại hữu tình; rồi “do y cứ cái này, đoạn tận cái này”; rồi ba niệm xứ; sau cùng là vì sao Như Lai được gọi là bậc Vô thượng Điều ngự sư.

Phần cốt tuỷ cho người tu là MƯỜI TÁM Ý HÀNH, và nó rất dễ hiểu. Sau khi mắt thấy sắc (tai nghe tiếng, v.v.), ý chạy theo BA hướng: HỶ (mừng), ƯU (buồn), XẢ (dửng dưng). Sáu căn nhân ba — thành mười tám.

Xin thưa đây là một bảng rất chính xác về đời sống hằng ngày. Mỗi lần mắt thấy gì, mỗi lần tai nghe gìtrong lòng liền nghiêng về một trong ba hướng ấy. Không có hướng thứ tư.

Rồi mỗi loại hỷ, ưu, xả lại chia LÀM HAI — và đây mới là chỗ quan trọng. Một là “LIÊN HỆ TẠI GIA” (gehasita); hai là “LIÊN HỆ XUẤT LY” (nekkhammasita). Sáu nhân sáu — thành ba mươi sáu.

“Liên hệ tại gia” là gì?hỷ, ưu, xả khởi lên do ĐƯỢC hay KHÔNG ĐƯỢC sáu trần khả ái “liên hệ thế vật”mừng vì được, buồn vì mất.

“Liên hệ xuất ly” là gì?hỷ, ưu, xả khởi lên khi THẤY NHƯ THẬT rằng các pháp là VÔ THƯỜNG, KHỔ, BIẾN HOẠI.

Xin dừng ở chỗ này vì nó rất tinh tế và rất an ủi. Kinh nói có “ƯU liên hệ xuất ly” — nghĩa là có một nỗi buồn thuộc về đường tu: buồn vì thấy mình chưa tới, buồn vì mong giải thoát mà chưa được. Nỗi buồn ấy KHÔNG bị xếp cùng loại với nỗi buồn vì mất của.

Rồi Thế Tôn dạy cách tu tiến theo BẬC THANG, và đây là phần đẹp nhất bài kinh. Nguyên tắc là “do y cứ cái này, đoạn tận cái này”nương cái cao hơn để bỏ cái thấp hơn.

Bậc thang ấy đi như sau. Nương sáu HỶ XUẤT LY để bỏ sáu hỷ tại gia. Nương sáu ƯU XUẤT LY để bỏ sáu ưu tại gia. Nương sáu XẢ XUẤT LY để bỏ sáu xả tại gia.

Rồi lên tiếp: nương HỶ xuất ly để bỏ ƯU xuất ly; rồi nương XẢ xuất ly để bỏ luôn HỶ xuất ly.

Xin thưa cách dạy này rất từ bi, và rất khác với “hãy bỏ hết đi”.không bắt ai nhảy một bước. Nó nói: hãy đổi cái thấp lấy cái cao hơn một bậc — và cứ thế mà lên. Cái cũ được thay, không bị giật mất.

Tiếp nữa là hai loại xả, xin phân biệt cho rõ. XẢ ĐA DIỆN là xả đối với sắc, thanh, hương, vị, xúcnhiều mặt. XẢ NHỨT DIỆN là xả y cứ bốn vô sắc xứmột mặt. Và nương nhứt diện để bỏ đa diện.

Và bậc CUỐI CÙNG mới là chỗ bài kinh dồn về. Nương “KHÔNG THAM DỤC” (atammayatā) mà bỏ luôn XẢ NHỨT DIỆN — nghĩa là buông cả chỗ nương cao nhất.

Xin thưa chữ atammayatā cho dễ hiểu, vì nó cũng có ở Kinh Chân Nhân (MN 113). Nghĩa đen là “không làm bằng cái đó”không đồng hoá mình với cái đó. Tới bậc này, người tu không còn lấy cả sự thanh tịnh của mình làm chỗ đứng.

Và đây chính là điều Kinh Bất Động Lợi Ích (MN 106) cảnh báo, nói bằng cách khác. Chấp vào cái xả cũng là chấp. Bài kinh này cho luôn lối ra: bậc thang cuối cùng là buông chính cái bậc thang.

Phần BA NIỆM XỨ nói về tâm bậc Đạo sư, và rất cảm động. Khi đệ tử KHÔNG nghe — Như Lai vẫn sống không dao động, chánh niệm tỉnh giác. Khi kẻ nghe kẻ không — Ngài trú xả. Khi tất cả đều vâng làm — Ngài hoan hỷ.

Xin thưa một chỗ hai bản diễn đạt khác chiều nhau, để bác đọc ba cột khỏi ngỡ. Ở trường hợp thứ nhất, bản Pāli na anattamano hoti nghĩa sát là “KHÔNG PHẬT Ý, không buồn phiền”; còn bản Việt của Hoà thượng ghi “Như Lai KHÔNG CÓ HOAN HỶ, không có cảm giác hoan hỷ, nhưng sống không có dao động”. Chúng tôi đã tải lại cả hai nguồn và kiểm tận đoạn. Cả hai đều nói lên sự KHÔNG DAO ĐỘNG — chỉ khác chỗ nhìn từ phía nào. Chúng tôi giữ nguyên chữ của Hoà thượng.

Xin để ý điều này về ba niệm xứ. Bậc Đạo sư KHÔNG phải là người không có cảm xúckhi đệ tử vâng làm thì Ngài HOAN HỶ thật. Điều bậc Thánh giữ được là không để chuyện người khác nghe hay không nghe làm mình dao động.

Và bài kinh kết bằng một hình ảnh rất đẹp về danh hiệu Vô thượng Điều ngự sư. Thợ dạy voi, dạy ngựa, dạy bò — dạy giỏi tới đâu cũng chỉ dắt con vật chạy về MỘT phương. Còn người được Như Lai điều phục thì chạy cùng khắp TÁM phương.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Nếu bài kinh này nghe còn nhiều thuật ngữ, xin giữ lấy một điều duy nhất: bậc thang buông. Không ai bỏ được cái gì bằng cách bị giật mấtchỉ bỏ được khi đã có cái tốt hơn để thay vào. Với các em cũng vậy: đừng cấm suông, hãy đưa cho các em một niềm vui cao hơn.

  • “Tu là phải dửng dưng với mọi thứ.” Kinh phân biệt xả liên hệ TẠI GIA (dửng dưng vì chai lì) với xả liên hệ XUẤT LY (bình thản vì thấy rõ vô thường). Hai thứ hoàn toàn khác nhau.
  • “Buồn là bất thiện.” Kinh nêu hẳn “ƯU liên hệ xuất ly”nỗi buồn vì thấy mình chưa tới. Nó được dùng làm bậc thang, rồi mới được thay bằng hỷ.
  • Một chỗ hai bản khác chiều, xin nói rõ chứ không dám bảo bên nào sai. Ở SC 21, Pāli là “không phật ý”, bản Việt là “không có hoan hỷ”. Đã tải lại cả hai nguồn và đối chiếu; cả hai đều diễn tả sự không dao động. Chữ của Hoà thượng được giữ nguyên.
  • Ngành Oanh. Dạy ba hướng của lòng: mừng — buồn — thường thường. Hỏi: hôm nay em nghiêng hướng nào nhiều nhất?
  • Ngành Thiếu. Bàn về bậc thang buông: muốn bỏ một thói quen, phải có gì thay vào?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc ba niệm xứ: khi các em không nghe mình, mình có dao động không?
  • Mười tám ý hành được tính ra sao?
  • “Liên hệ tại gia” khác “liên hệ xuất ly” chỗ nào?
  • Bậc thang buông đi lên theo thứ tự nào?
  • Ba niệm xứ của bậc Đạo sư là ba trường hợp nào?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.