G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 132
Hôm Nay Nhiệt Tâm Làm · Ai Biết Chết Ngày Mai?

Kinh A-nan Nhất Dạ Hiền Giả

Ānandabhaddekaratta Sutta — MN 132 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh A-nan Nhất Dạ Hiền Giả

Đây là bài kệ nổi tiếng nhất về sống với hiện tại: “Quá khứ không truy tìm / Tương lai không ước vọng… Hôm nay nhiệt tâm làm, / Ai biết chết ngày mai?” Lần này chính Tôn giả A-nan giảng, và Thế Tôn đến nghe rồi khen “Lành thay”rồi tự Ngài lặp lại y nguyên.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 132
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, Kỳ-đà-lâm, tại hội trường
  • Người giảng — Tôn giả Ānanda; Thế Tôn ấn khả
  • Cùng bài kệ — MN 131, 133, 134

Kinh này là bản "Nhất dạ hiền giả" do chính Tôn giả A-nan giảng. Khi Thế Tôn ở tinh xá Cấp Cô Ðộc, Tôn giả A-nan tại hội trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo, và giảng Nhứt Dạ Hiền Giả cả phần tổng thuyết (bài kệ) lẫn phần biệt thuyết (giải thích từng ý). Buổi chiều, Thế Tôn đi đến hội trường, hỏi ai đã giảng, rồi bảo Tôn giả A-nan trình bày lại. Phần tổng thuyết là bài kệ nổi tiếng: "Quá khứ không truy tìm / Tương lai không ước vọng… Chỉ có pháp hiện tại / Tuệ quán chính ở đây… Hôm nay nhiệt tâm làm, / Ai biết chết ngày mai?" Ý chính: quá khứ đã đoạn tận, tương lai chưa đến, việc tu tập phải làm ngay hôm nay, vì không ai điều đình được với thần chết. Phần biệt thuyết giải thích sáu điều: thế nào là truy tìm quá khứ và không truy tìm quá khứ; thế nào là ước vọng tương lai và không ước vọng tương lai; thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại và không bị lôi cuốn. Truy tìm quá khứ là nghĩ "sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tôi trong quá khứ là như vậy" rồi truy tìm sự hân hoan trong ấy; ước vọng tương lai cũng theo cách đó với năm uẩn ở tương lai. Bị lôi cuốn trong hiện tại là kẻ vô văn phàm phu quán năm uẩn là tự ngã, hoặc tự ngã có uẩn, hoặc uẩn ở trong tự ngã, hoặc tự ngã ở trong uẩn. Ngược lại, vị Ða văn Thánh đệ tử không quán như vậy nên không bị lôi cuốn. Sau khi nghe, Thế Tôn khen "Lành thay, lành thay, này Ānanda!" và tự Ngài lặp lại bài kệ cùng phần phân tích ấy. Kinh kết thúc: Tôn giả A-nan hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Đây là bài kinh rất thích hợp để nhắc đoàn sinh sống trọn vẹn với hiện tại và tinh tấn ngay hôm nay.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi tại hội trường — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tinh xá ông Anāthapiṇḍika. Tôn giả Ānanda giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết, cho các Tỷ-kheo; Thế Tôn đến hội trường và hỏi ai đã giảng (SC 1-7 / mn132:1.1-2.7).
  • Tổng thuyết: bài kệ Nhứt Dạ Hiền Giả — Tôn giả Ānanda đọc bài kệ: quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, tuệ quán pháp hiện tại, hôm nay nhiệt tâm làm (SC 8 / mn132:3.2-3.17).
  • Biệt thuyết: sáu phần giải thích — Thế nào là truy tìm quá khứ / không truy tìm quá khứ; ước vọng tương lai / không ước vọng tương lai; bị lôi cuốn / không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại, giải theo năm uẩn (SC 9-14 / mn132:4.1-9.8).
  • Lặp lại bài kệ và trình lên Thế Tôn — Tôn giả Ānanda đọc lại bài kệ và thưa rằng đã thuyết giảng như vậy (SC 15-16 / mn132:10.1-11.1).
  • Thế Tôn ấn khả và tự lặp lại — "Lành thay, lành thay, này Ānanda!" Thế Tôn khen ngợi rồi tự Ngài giảng lại bài kệ và toàn bộ phần biệt thuyết, lần này gọi thẳng "này Ānanda" (SC 17-25 / mn132:11.2-13-19.16).
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy (SC 26 / mn132:13-19.17-18).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

MN 132, SC 1 / mn132:1.1-1.2
Evaṁ me sutaṁ—ekaṁ samayaṁ bhagavā sāvatthiyaṁ viharati jetavane anāthapiṇḍikassa ārāme.
Như vầy tôi nghe. Một thời, Thế Tôn ở Sāvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tinh xá ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Ðộc).
So I have heard. At one time the Buddha was staying near Sāvatthī in Jeta’s Grove, Anāthapiṇḍika’s monastery.
MN 132, SC 2 / mn132:2.1
Tena kho pana samayena āyasmā ānando upaṭṭhānasālāyaṁ bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandasseti samādapeti samuttejeti sampahaṁseti, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca bhāsati.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ānanda (A-nan) tại hội trường thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Tôn giả giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.
Now at that time Venerable Ānanda was educating, encouraging, firing up, and inspiring the mendicants in the assembly hall with a Dhamma talk on the topic of the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.
MN 132, SC 8 (bài kệ, phần đầu) / mn132:3.2-3.9
Atītaṁ nānvāgameyya,
nappaṭikaṅkhe anāgataṁ;
Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ,
appattañca anāgataṁ.
Paccuppannañca yo dhammaṁ,
tattha tattha vipassati;
Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ,
taṁ vidvā manubrūhaye.
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
“Don’t run back to the past, don’t anticipate the future. What’s past is left behind, the future has not arrived; and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
MN 132, SC 8 (bài kệ, phần sau) / mn132:3.10-3.17
Ajjeva kiccamātappaṁ,
ko jaññā maraṇaṁ suve;
Na hi no saṅgaraṁ tena,
mahāsenena maccunā.
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ,
ahorattamatanditaṁ;
Taṁ ve bhaddekarattoti,
santo ācikkhate muni.
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
Today’s the day to keenly work— who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde. One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that’s who has one fine night— so declares the peaceful sage.
MN 132, SC 9 / mn132:4.1-4.3
‘Kathañca, āvuso, atītaṁ anvāgameti? Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁvedano ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁsañño ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁsaṅkhāro ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti, evaṁviññāṇo ahosiṁ atītamaddhānanti tattha nandiṁ samanvāneti—evaṁ kho, āvuso, atītaṁ anvāgameti.
Và này các Hiền giả, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là truy tìm quá khứ.
MN 132, SC 13 (trích đoạn mở đầu) / mn132:8.1-8.3
Kathañca, āvuso, paccuppannesu dhammesu saṁhīrati? Idha, āvuso, assutavā puthujjano ariyānaṁ adassāvī ariyadhammassa akovido ariyadhamme avinīto sappurisānaṁ adassāvī sappurisadhammassa akovido sappurisadhamme avinīto rūpaṁ attato samanupassati, rūpavantaṁ vā attānaṁ, attani vā rūpaṁ, rūpasmiṁ vā attānaṁ;
Và này các Hiền giả, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc
MN 132, SC 17 / mn132:11.2-11.3
“Sādhu sādhu, ānanda. Sādhu kho tvaṁ, ānanda, bhikkhūnaṁ dhammiyā kathāya sandassesi samādapesi samuttejesi sampahaṁsesi, bhaddekarattassa uddesañca vibhaṅgañca abhāsi:
—Lành thay, lành thay, này Ānanda! Lành thay, này Ānanda! Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Ông đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.
“Good, good, Ānanda. It’s good that you were inspiring the mendicants with a talk on the summary recital and the analysis of the one who has one fine night.”
MN 132, SC 26 / mn132:13-19.17-18
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā ānando bhagavato bhāsitaṁ abhinandīti.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ānanda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.
That is what the Buddha said. Satisfied, Venerable Ānanda approved what the Buddha said.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhaddekarattaNhứt dạ hiền giảHT. Thích Minh Châu dịch là "Nhứt Dạ Hiền Giả"; Sujato dịch "the one who has one fine night".
uddesatổng thuyếtPhần nêu tóm tắt, ở đây là bài kệ.
vibhaṅgabiệt thuyếtPhần phân tích, giải thích chi tiết bài kệ.
atītaquá khứ
anāgatatương lai
paccuppannahiện tại
vipassatituệ quán, quán chiếu
nandīsự hân hoan, hỷ ái
saṁhīratibị lôi cuốn (trong các pháp hiện tại)
attātự ngã
rūpa, vedanā, saññā, saṅkhārā, viññāṇasắc, thọ, tưởng, hành, thức (năm uẩn)
assutavā puthujjanokẻ vô văn phàm phu
sutavā ariyasāvakovị Ða văn Thánh đệ tử
ātāpīnhiệt tâm, tinh cần
maccuthần chết, sự chết
munibậc mâu-ni, bậc trầm lặng

Duyên khởi bài kinh rất đẹp và đáng kể cho rõ. Tôn giả A-nan đang giảng “Nhứt Dạ Hiền Giả” cho các Tỷ-kheo tại hội trường, cả phần tổng thuyết (bài kệ) lẫn phần biệt thuyết (giải từng ý).

Buổi chiều, Thế Tôn từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, ĐI ĐẾN hội trường và HỎI AI ĐÃ GIẢNG. Rồi Ngài bảo Tôn giả A-nan trình bày lại.

Xin để ý cử chỉ ấy. Ngài không giành lấy để giảng, cũng không nghe lỏm rồi thôi. Ngài hỏi cho ra người giảngmời người ấy nói lại trước mặt mình.

Bây giờ tới bài kệ, xin bác đọc chậm vì đây là một trong những bài kệ đẹp nhất của Trung Bộ. “Quá khứ không truy tìm / Tương lai không ước vọng… Chỉ có pháp hiện tại / Tuệ quán chính ở đây… Hôm nay nhiệt tâm làm, / Ai biết chết ngày mai?”

Ý chính rất gọn: quá khứ đã đoạn tận, tương lai chưa đến, việc tu tập phải làm NGAY HÔM NAY — vì không ai điều đình được với thần chết.

Xin thưa hai chữ “điều đình” cho rõ, vì nó rất thật. Với hầu hết mọi việc trong đời, ta xin hoãn được: xin thêm vài ngày, xin nộp trễ. Bài kệ nói: có một việc không xin hoãn được.

Phần biệt thuyết giải thích SÁU điều, ba cặp. Cặp một: thế nào là truy tìm quá khứkhông truy tìm quá khứ. Cặp hai: ước vọng tương laikhông ước vọng. Cặp ba: bị lôi cuốn trong các pháp hiện tạikhông bị lôi cuốn.

Và định nghĩa “truy tìm quá khứ” rất chính xác, xin để ý. Đó là nghĩ “sắc, thọ, tưởng, hành, thức của TÔI trong quá khứ là như vậy” — rồi TRUY TÌM SỰ HÂN HOAN trong ấy.

Xin dừng ở bốn chữ “truy tìm sự hân hoan”. Kinh KHÔNG cấm nhớ lại quá khứ. Nhớ là chuyện thường, và có khi rất cần. Cái bị nói tới là đi TÌM cái vui trong đó mà ở lạiquay về đó ở, thay vì sống ở đây.

Điều này cũng đúng với chiều ngược lại: nhiều người không truy tìm hân hoan mà truy tìm nỗi đau cũnhắc đi nhắc lại một chuyện buồn. Cũng là ở lại trong quá khứ.

“Ước vọng tương lai” cũng theo đúng cách ấy: mong “mong rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức của tôi trong tương lai sẽ như vậy” rồi truy tìm hân hoan trong ấy.

Và “bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại” được định nghĩa rất sâu, không phải chuyện lơ đãng. Đó là kẻ vô văn phàm phu quán năm uẩn LÀ TỰ NGÃ, hoặc tự ngã CÓ uẩn, hoặc uẩn Ở TRONG tự ngã, hoặc tự ngã Ở TRONG uẩn.

Xin thưa chỗ này để bác khỏi hiểu lệch bài kệ. “Sống với hiện tại” trong kinh KHÔNG chỉ có nghĩa là “đừng lo xa, đừng tiếc dĩ vãng”. Nó còn nghĩa là ngay trong cái đang xảy ra, đừng lấy nó làm TÔI. Đó là chỗ sâu hơn nhiều.

Và vị Đa văn Thánh đệ tử thì KHÔNG quán như vậy, nên KHÔNG bị lôi cuốn. Nghĩa là vẫn ở giữa cảnh, mà không bị cuốn theo.

Sau khi nghe, Thế Tôn khen “Lành thay, lành thay, này Ānanda!” — rồi TỰ NGÀI lặp lại y nguyên bài kệ và toàn bộ phần phân tích ấy.

Xin thưa cử chỉ lặp lại ấy là cách ấn chứng cao nhất. Ngài không sửa một chữ, không thêm ý nào. Ngài nói lại đúng lời học tròđể từ nay lời ấy đứng vững như lời chính Ngài.

Xin thưa lời cuối cho anh chị em. Bài kệ này rất nên dạy cho đoàn sinh, và rất nên treo ở đoàn quán. Nhưng xin dạy cả hai lớp nghĩa: lớp ngoài là đừng tiếc dĩ vãng, đừng mơ tương lai, làm việc hôm nay; lớp trong là ngay việc hôm nay cũng đừng lấy làm TÔI. Lớp ngoài giúp các em siêng; lớp trong giúp các em nhẹ.

  • “Không truy tìm quá khứ nghĩa là không được nhớ.” Kinh nói rõ là truy tìm SỰ HÂN HOAN trong đó rồi ở lại. Nhớ để học thì không saoquay về đó ở mới là chuyện khác.
  • “Không ước vọng tương lai nghĩa là không được lập kế hoạch.” Chính bài kệ dạy “hôm nay nhiệt tâm LÀM”rất chủ động. Cái bị nói tới là sống bằng cái chưa có.
  • “Bài kinh này do Đức Phật giảng.” Tôn giả A-nan giảng trước; Thế Tôn đến nghe, khen, rồi lặp lại. Cùng bài kệ ấy cũng có ở MN 131, 133, 134.
  • Ngành Oanh. Dạy thuộc hai câu cuối: “Hôm nay nhiệt tâm làm, ai biết chết ngày mai?” — rồi hỏi hôm nay em làm được việc lành gì?
  • Ngành Thiếu. Cho các em kể một chuyện cũ hay nhắc lạinhắc để học, hay nhắc để ở lại trong đó?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về lớp nghĩa thứ hai: “ngay việc hôm nay cũng đừng lấy làm tôi”áp dụng vào công việc đoàn thế nào?
  • Bài kệ Nhất Dạ Hiền Giả dạy điều gì?
  • “Truy tìm quá khứ” được định nghĩa thế nào?
  • “Bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại” nghĩa là gì?
  • Thế Tôn đã làm gì sau khi nghe Tôn giả A-nan giảng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.