G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 131
Trung Bộ Kinh · Bài Kệ Được Tụng Nhiều Nhất

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả

Bhaddekaratta Sutta — Trung Bộ 131 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Nhất Dạ Hiền Giả

Bài kinh rất ngắn nhưng chứa bài kệ được tụng nhiều nhất Trung Bộ. Và điều quý là chính Đức Phật giải nghĩa từng vế của bài kệ ấy — nên ta không phải đoán.

  • Bộ — Trung Bộ, MN 131
  • Nơi nói — Sāvatthī, Kỳ Viên, tịnh xá ông Cấp Cô Độc
  • Bố cục do chính kinh nêutổng thuyết (uddesa, bài kệ) rồi biệt thuyết (vibhaṅga, giải nghĩa)
  • Không có nhân duyên riêng — Đức Phật chủ động gọi chúng Tỳ-kheo mà dạy

Kinh Nhất Dạ Hiền Giả là một bài kinh rất ngắn nhưng nổi tiếng bậc nhất trong Trung Bộ, vì chứa bài kệ "Quá khứ không truy tìm, Tương lai không ước vọng…" mà nhiều chùa và đoàn thể vẫn thường tụng. Tại tịnh xá Cấp Cô Độc ở Xá-vệ, Đức Phật báo trước Ngài sẽ giảng cho các Tỷ-kheo về "Nhứt Dạ Hiền Giả" (Bhaddekaratta) theo hai phần: tổng thuyết (nói gọn bằng bài kệ) và biệt thuyết (giải thích từng vế của bài kệ). Đây chính là bố cục thật của kinh, không phải do người sau sắp đặt. Bài kệ dạy ba điều: đừng chạy theo quá khứ vì "Quá khứ đã đoạn tận"; đừng mong ngóng tương lai vì "Tương lai lại chưa đến"; chỉ có pháp hiện tại là nơi để "tuệ quán chính ở đây". Kèm theo là lời nhắc vô thường rất mạnh: "Hôm nay nhiệt tâm làm, Ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được, Với đại quân thần chết." Người sống được như vậy, tinh cần ngày đêm không mệt mỏi, mới xứng gọi là bậc Nhứt Dạ Hiền. Phần biệt thuyết, Đức Phật giải nghĩa cụ thể bằng năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Truy tìm quá khứ là khởi "sự hân hoan" khi nghĩ "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ"; ước vọng tương lai là hân hoan với ý "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai". Không khởi hân hoan trong ấy tức là không truy tìm, không ước vọng. Còn "bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại" là kẻ vô văn phàm phu quán năm uẩn là tự ngã (bốn cách: uẩn là tự ngã, tự ngã có uẩn, uẩn trong tự ngã, tự ngã trong uẩn); vị Đa văn Thánh đệ tử không quán như vậy nên không bị lôi cuốn. Điểm quan trọng cho huynh trưởng: "sống trong hiện tại" ở đây không phải là hưởng thụ hiện tại, mà là tuệ quán (vipassati) ngay nơi thân tâm hiện tại, không bám vào ngã. Cuối kinh, bài kệ được lặp lại nguyên vẹn, rồi Phật xác nhận "chính duyên ở đây mà nói vậy"; các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi — Thế Tôn ở Sāvatthi, Jetavana, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika, gọi các Tỷ-kheo (MN 131.1).
  • Lời tuyên bố đề tài: tổng thuyết và biệt thuyết — "Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: 'Nhứt Dạ Hiền Giả' (Bhaddekaratta), tổng thuyết (uddesa) và biệt thuyết (vibhaṅga)" (MN 131.2).
  • Tổng thuyết — bài kệ Nhất Dạ Hiền Giả — Bài kệ 16 dòng: quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, tuệ quán pháp hiện tại, tinh cần hôm nay vì cái chết không hẹn trước (MN 131.3).
  • Biệt thuyết 1 — thế nào là truy tìm / không truy tìm quá khứ — Giải theo năm uẩn: khởi hay không khởi "sự hân hoan" với ý "Như vậy là sắc… thọ… tưởng… hành… thức của tôi trong quá khứ" (MN 131.4–5).
  • Biệt thuyết 2 — thế nào là ước vọng / không ước vọng tương lai — "Mong rằng như vậy sẽ là sắc… thọ… tưởng… hành… thức của tôi trong tương lai", có hoặc không có truy tìm sự hân hoan trong ấy (MN 131.6–7).
  • Biệt thuyết 3 — thế nào là bị / không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại — Kẻ vô văn phàm phu quán năm uẩn là tự ngã theo bốn cách nên bị lôi cuốn; vị Đa văn Thánh đệ tử không quán như vậy nên không bị lôi cuốn (MN 131.8–9).
  • Lặp lại bài kệ — Bài kệ được tụng lại nguyên vẹn (MN 131.10).
  • Kết luận và hoan hỷ tín thọ — "Chính duyên ở đây mà nói vậy"; "Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn" (MN 131.11).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để quý anh chị đối chiếu được.

MN 131.2
bhaddekarattassa vo, bhikkhave, uddesañca vibhaṅgañca desessāmi. Taṁ suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết giảng cho các Ông: ‘Nhứt Dạ Hiền Giả’ (Bhaddekaratta), tổng thuyết và biệt thuyết. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ thuyết giảng.
I shall teach you the summary recital and the analysis of the one who has one fine night. Listen and apply your mind well, I will speak.
MN 131.3 (kệ, dòng 1–4)
Atītaṁ nānvāgameyya,
nappaṭikaṅkhe anāgataṁ;
Yadatītaṁ pahīnaṁ taṁ,
appattañca anāgataṁ.
Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Don't run back to the past, don't anticipate the future. What's past is left behind, the future has not arrived;
MN 131.3 (kệ, dòng 5–8)
Paccuppannañca yo dhammaṁ,
Tattha tattha vipassati;
Asaṁhīraṁ asaṅkuppaṁ,
Taṁ vidvā manubrūhaye.
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
and any present phenomenon you clearly discern in every case. The unfaltering, the unshakable: having known that, foster it.
MN 131.3 (kệ, dòng 9–12)
Ajjeva kiccamātappaṁ,
ko jaññā maraṇaṁ suve;
Na hi no saṅgaraṁ tena,
mahāsenena maccunā.
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Today's the day to keenly work— who knows, tomorrow may bring death! For there is no bargain to be struck with Death and his mighty horde.
MN 131.3 (kệ, dòng 13–16)
Evaṁvihāriṁ ātāpiṁ,
ahorattamatanditaṁ;
Taṁ ve bhaddekarattoti,
santo ācikkhate muni.
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.
One who keenly meditates like this, tireless all night and day: that's who has one fine night— so declares the peaceful sage.
MN 131.4
Kathañca, bhikkhave, atītaṁ anvāgameti? ‘Evaṁrūpo ahosiṁ atītamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti … evaṁ kho, bhikkhave, atītaṁ anvāgameti.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: “Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Như vậy là hành của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy, “Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là truy tìm quá khứ.
And how do you run back to the past? You muster delight there, thinking: 'I had such form in the past.' … 'I had such feeling … perception … choice … consciousness in the past.' That's how you run back to the past.
MN 131.6
Kathañca, bhikkhave, anāgataṁ paṭikaṅkhati? ‘Evaṁrūpo siyaṁ anāgatamaddhānan’ti tattha nandiṁ samanvāneti … evaṁ kho, bhikkhave, anāgataṁ paṭikaṅkhati.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: “Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy; “Mong rằng như vậy là tưởng của tôi … là hành của tôi … là thức của tôi trong tương lai”, và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là ước vọng trong tương lai.
And how do you anticipate the future? You muster delight there, thinking: 'May I have such form in the future.' … 'May I have such feeling … perception … choice … consciousness in the future.' That's how you anticipate the future.
MN 131.9
Kathañca, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati? Idha, bhikkhave, sutavā ariyasāvako … na rūpaṁ attato samanupassati … evaṁ kho, bhikkhave, paccuppannesu dhammesu na saṁhīrati.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ … không quán tưởng … không quán hành … không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
And how do you not falter amid presently arisen phenomena? It's when a learned noble disciple has seen the noble ones, and is skilled and trained in the teaching of the noble ones. They've seen true persons, and are skilled and trained in the teaching of the true persons. They don't regard form as self, self as having form, form in self, or self in form. They don't regard feeling … perception … choices … consciousness as self, self as having consciousness, consciousness in self, or self in consciousness. That's how you don't falter amid presently arisen phenomena.
Chữ PāliNghĩaGhi chú
bhaddekarattaNhứt Dạ Hiền Giả — người có "một đêm hiền thiện, tốt lành"HT. Thích Minh Châu dịch "Nhứt Dạ Hiền Giả"; Bhikkhu Sujato dịch "one who has one fine night". Đây là tên kinh.
uddesatổng thuyết — phần nói gọn (ở đây là bài kệ)
vibhaṅgabiệt thuyết — phần phân tích, giải rộng từng vế
atītaquá khứ
anāgatatương lai (cái chưa đến)
paccuppanna dhammapháp hiện tại
vipassatituệ quán, quán chiếu thấy rõTrong kệ: "Tattha tattha vipassati" — "Tuệ quán chính ở đây".
asaṁhīrakhông bị lôi cuốn, không động
asaṅkuppakhông rung chuyển, bất động
nandīsự hân hoan, hỷ tham (thích thú bám víu)
ātāpīnhiệt tâm, tinh cần
maccuthần chết, sự chết"mahāsenena maccunā" — "đại quân thần chết".
khandha (rūpa, vedanā, saññā, saṅkhāra, viññāṇa)uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức
attātự ngã
assutavā puthujjanakẻ vô văn phàm phu
sutavā ariyasāvakavị Đa văn Thánh đệ tử
sappurisabậc Chân nhân, bậc chân chánh
munibậc mâu-ni, bậc tịch tịnh trầm lặng

Bài kệ nói ba điều, không phải một. Không truy tìm quá khứ — vì quá khứ đã đoạn tận. Không ước vọng tương lai — vì tương lai lại chưa đến. Và tuệ quán pháp hiện tại. Ba vế, ba việc khác nhau.

“Sống hiện tại” ở đây không phải hưởng thụ hiện tại. Đây là chỗ hiểu lầm phổ biến nhất. Chữ trong kinh là vipassatituệ quán, tức nhìn cho thấy rõ. Không phải “cứ vui đi, đừng nghĩ ngợi”, mà là nhìn thẳng vào thân tâm đang có mặt.

Phật giải nghĩa bằng năm uẩn — chỗ quyết định. Truy tìm quá khứ không phải là nhớ lại, mà là khởi sự hân hoan khi nghĩ “như vậy là sắc của tôi trong quá khứ”. Chữ then chốt là “của tôi”. Nhớ thì không sao; bám vào cái “của tôi” trong ký ức mới là truy tìm.

Bị lôi cuốn trong hiện tại là gì. Là quán năm uẩn là tự ngã theo bốn cách. Vị Thánh đệ tử không quán như vậy nên không bị lôi cuốn. Vậy hiện tại cũng có cái bẫy của nó — không phải cứ ở hiện tại là an toàn.

Câu về cái chết — đừng đọc lướt. “Hôm nay nhiệt tâm làm, ai biết chết ngày mai? Không ai điều đình được với đại quân thần chết.” Chữ “điều đình” rất mạnh: không có cách nào thương lượng. Đây là lý do của cả bài kệ — không phải triết lý về thời gian, mà là chuyện gấp.

  • “Sống hiện tại là cứ vui, đừng lo nghĩ.” Chữ trong kinh là tuệ quán. Vui không phải nội dung của bài kệ.
  • “Không được nhớ chuyện cũ.” Kinh nói rõ: truy tìm là khởi hân hoan với cái “của tôi” trong ký ức, không phải việc nhớ.
  • “Không được lập kế hoạch.” Cũng vậy — ước vọng là hân hoan với “mong rằng sẽ là… của tôi”, khác với việc sắp xếp công việc.
  • “Ở hiện tại là an toàn.” Kinh nêu hẳn chuyện bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.
  • Ngành Oanh. Chỉ dạy hai dòng đầu, và cho các em thuộc lòng. Bài kệ này ngắn, các em thuộc rất nhanh.
  • Ngành Thiếu. Chữ “của tôi”. Hỏi: nhớ một chuyện cũ và tiếc một chuyện cũ khác nhau thế nào?
  • Ngành Thanh & Huynh Trưởng. Đây là bài kệ hợp để tụng đầu buổi sinh hoạt. Kèm phần Phật tự giải nghĩa để khỏi hiểu thành “sống buông thả cho vui”.
  • Vì sao nhớ thì không sao mà truy tìm lại có hại?
  • Không ai điều đình được với thần chết — câu ấy đổi gì trong hôm nay của em?
  • Ở hiện tại cũng có cái bẫy. Bẫy ấy là gì?
  • Vì sao Đức Phật phải giải nghĩa lại bài kệ của chính Ngài?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập — người soi tự tra lại nguồn gốc, không tin dữ liệu được đưa. Lượt soi ấy chỉ ra 2 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn Pāli–Anh. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.