G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 128
Hận Thù Diệt Hận Thù · Không Đời Nào Diệt Được

Kinh Tùy Phiền Não

Upakkilesa Sutta — MN 128 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh Tùy Phiền Não

Chúng Tỷ-kheo ở Kosambi cãi nhau tới mức “đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi”. Thế Tôn can ba lần, cả ba lần đều bị chối từ — rồi Ngài lặng lẽ bỏ đi. Bài kinh này chứa câu kệ nổi tiếng nhất về hận thù, và một chân dung ngược lại: ba vị sống hoà hợp “như nước với sữa”.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 128
  • Nơi thuyết — Kosambi, rồi Pācīnavaṁsadāya
  • Có câu kệ — cũng thấy trong Kinh Pháp Cú (Dhp 3–6)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh Tùy phiền não (MN 128) gồm hai mạch nối liền nhau: mạch hòa hợp trong Tăng chúng và mạch tu định. Mở đầu, các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, "đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi". Một Tỷ-kheo bạch Phật, Thế Tôn đến can ba lần: "Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!" Cả ba lần đều bị chối từ. Sáng hôm sau, sau khi khất thực xong, Thế Tôn đứng nói lên một loạt bài kệ — trong đó có những câu về sau cũng thấy trong Kinh Pháp Cú: "Nó mắng tôi, đánh tôi! Nó hại tôi, cướp tôi!" — ai ôm oán niệm ấy thì hận thù không nguôi; và câu nổi tiếng "Hận thù diệt hận thù, Không đời nào diệt được, Từ bi diệt hận thù, Là định luật ngàn thu." Ngài còn nhắc: đến kẻ cướp giết người còn biết đoàn kết, sao các Ông không được vậy? Rồi Ngài lặng lẽ rời Kosambi. Ngài đến với Tôn giả Bhagu, sau đó đến chỗ ba Tôn giả Anuruddha, Nandiya, Kimbila. Ba vị này là hình ảnh đối lập hoàn toàn với chúng Kosambi: sống hòa hợp "như nước với sữa", nhìn nhau bằng "cặp mắt thiện cảm", khởi từ tâm nơi thân — khẩu — ý nghiệp, "trước mặt và sau lưng", và mỗi vị tự bỏ ý riêng để thuận theo tâm các huynh đệ: "chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm". Các vị cũng kể cách sống không phóng dật rất cụ thể: ai về trước dọn chỗ ngồi, soạn nước; ai về sau dọn dẹp, quét nhà ăn; thấy ghè hết nước thì lo liệu, cần người phụ thì ra hiệu bằng tay chứ không gây tiếng động; cứ năm ngày lại ngồi đàm luận đạo pháp suốt đêm. Từ câu hỏi của ba vị về hào quang và sắc pháp chợt hiện rồi biến mất, Thế Tôn kể lại kinh nghiệm của chính Ngài khi còn là Bồ-tát: liệt kê mười một tùy phiền não của tâm làm định biến diệt — nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ, tinh cần quá yếu đuối, dục ái, tưởng sai biệt, quá chú tâm vào các sắc pháp. Biết rõ từng thứ là phiền não của tâm thì đoạn trừ được. Sau khi đoạn trừ, Ngài tu tập ba loại định (có tầm có tứ; không tầm chỉ có tứ; không tầm không tứ; có hỷ, không hỷ, câu hữu với lạc, câu hữu với xả), và tri kiến khởi lên: giải thoát của Ngài là bất động.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • Duyên khởi: chúng Tỷ-kheo Kosambi tranh cãi — Các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau bằng binh khí miệng lưỡi. Một Tỷ-kheo thỉnh Thế Tôn đến. (SC 1-4)
  • Thế Tôn can ba lần, bị chối từ — Ba lần Thế Tôn nói "Thôi vừa rồi", ba lần Tỷ-kheo ấy xin Thế Tôn hãy an trú hiện tại lạc trú vì họ tự chịu trách nhiệm về sự tranh chấp. (SC 5-15)
  • Các bài kệ Thế Tôn nói khi đứng — Sau khi khất thực và dọn chỗ nằm, Thế Tôn đứng nói các bài kệ về hận thù, về sự hòa hợp, về bạn hiền trí và về sống một mình như voi rừng. (SC 16-25)
  • Thế Tôn đi đến Tôn giả Bhagu — Ngài rời Kosambi đến làng Balakalonakara, hỏi thăm Tôn giả Bhagu, thuyết pháp khích lệ rồi ra đi. (SC 26-29)
  • Ba Tôn giả ở Pacinavamsadaya: sống hòa hợp như nước với sữa — Người giữ vườn ngăn, Tôn giả Anuruddha mời Thế Tôn vào. Ba vị trình bày cách sống hòa hợp: khởi từ thân-khẩu-ý nghiệp trước mặt và sau lưng, bỏ tâm mình thuận theo tâm huynh đệ. (SC 29-43)
  • Sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần — Cách chia sẻ việc chúng rất cụ thể: dọn chỗ ngồi, nước uống, nước rửa chân, quét nhà ăn, lo nước, ra hiệu bằng tay không gây tiếng động, năm ngày một lần đàm luận đạo pháp suốt đêm. (SC 44-47)
  • Hào quang và sắc pháp hiện rồi biến mất — Ba vị thưa rằng nhận thấy hào quang và sự hiện khởi các sắc pháp nhưng không bao lâu biến mất, không hiểu rõ tướng ấy. (SC 48-49)
  • Mười một tùy phiền não của tâm — Thế Tôn kể lại kinh nghiệm khi còn là Bồ-tát: nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm thụy miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần quá độ, tinh cần quá yếu đuối, ái dục, tưởng sai biệt, quá chú tâm vào sắc pháp — mỗi thứ làm định biến diệt; biết rõ là phiền não của tâm thì đoạn trừ. (SC 50-60, 63)
  • Hào quang và sắc pháp: có hạn lượng và vô lượng — Do tác ý hào quang tướng hay sắc tướng mà chỉ thấy một bên; do định có hạn lượng hay vô lượng mà mắt và hào quang có hạn lượng hay vô lượng. (SC 61-62)
  • Tu tập ba loại định và tri kiến giải thoát — Sau khi đoạn trừ các phiền não tâm, Ngài tu tập định có tầm có tứ, không tầm chỉ có tứ, không tầm không tứ, có hỷ, không hỷ, câu hữu với lạc, câu hữu với xả; tri kiến khởi lên: giải thoát là bất động, đây là đời sống cuối cùng. (SC 64-65)
  • Kết kinh — Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Anuruddha hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. (SC 66)

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 2 (mn128:2.1)
Tena kho pana samayena kosambiyaṁ bhikkhū bhaṇḍanajātā kalahajātā vivādāpannā aññamaññaṁ mukhasattīhi vitudantā viharanti.
Lúc bấy giờ các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh nhau, đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi.
Now at that time the mendicants of Kosambī were fighting, quarreling, and disputing, continually wounding each other with barbed words.
SC 19-20 (mn128:6.9-6.16)
Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ upanayhanti,
veraṁ tesaṁ na sammati.

Akkocchi maṁ avadhi maṁ,
ajini maṁ ahāsi me;
Ye ca taṁ nupanayhanti,
veraṁ tesūpasammati.
“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Ai ôm oán niệm ấy,
Hận thù không thể nguôi.

“Nó mắng tôi, đánh tôi!
Nó hại tôi, cướp tôi!”
Không ôm oán niệm ấy,
Hận thù sẽ tự nguôi.
‘They abused me, they hit me! They beat me, they robbed me!’ For those bearing such a grudge, hatred is never laid to rest. ‘They abused me, they hit me! They beat me, they robbed me!’ For those who bear no such grudge, hatred is laid to rest.
SC 21 (mn128:6.17-6.20)
Na hi verena verāni,
sammantīdha kudācanaṁ;
Averena ca sammanti,
esa dhammo sanantano.
Hận thù diệt hận thù,
Không đời nào diệt được,
Từ bi diệt hận thù,
Là định luật ngàn thu.
For never is hatred laid to rest by hate, it’s laid to rest by love: this is an ancient teaching.
SC 23 (mn128:6.25-6.29)
Aṭṭhicchinnā pāṇaharā,
gavassadhanahārino;
Raṭṭhaṁ vilumpamānānaṁ,
tesampi hoti saṅgati;
Kasmā tumhākaṁ no siyā.
Kẻ chủ xướng hại mạng,
Cướp bò, ngựa tài sản,
Kẻ cướp đoạt quốc độ,
Họ còn biết đoàn kết,
Sao các Ông không vậy?
Breakers of bones and takers of life, thieves of cattle, horses, wealth, those who plunder the nation: even they can come together, so why can’t you?
SC 38-39 (mn128:11.1-11.2)
“Kacci pana vo, anuruddhā, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharathā”ti?
“Taggha mayaṁ, bhante, samaggā sammodamānā avivadamānā khīrodakībhūtā aññamaññaṁ piyacakkhūhi sampassantā viharāmā”ti.
—Này các Anuruddha, các Ông có sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau. Như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm không?
—Bạch Thế Tôn, thật sự chúng con sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không có cãi nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với cặp mắt thiện cảm.
“I hope you’re living in harmony, appreciating each other, without quarreling, blending like milk and water, and regarding each other with kindly eyes?” “Indeed, sir, we live in harmony as you say.”
SC 41 (mn128:12.4-12.10)
Tassa mayhaṁ, bhante, imesu āyasmantesu mettaṁ kāyakammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ vacīkammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca, mettaṁ manokammaṁ paccupaṭṭhitaṁ āvi ceva raho ca. Tassa, mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘yannūnāhaṁ sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vatteyyan’ti. So kho ahaṁ, bhante, sakaṁ cittaṁ nikkhipitvā imesaṁyeva āyasmantānaṁ cittassa vasena vattāmi. Nānā hi kho no, bhante, kāyā, ekañca pana maññe cittan”ti.
Bạch Thế Tôn, do vậy đối với các vị đồng Phạm hạnh này, con khởi lên từ thân nghiệp, trước mặt và sau lưng; con khởi lên từ khẩu nghiệp, trước mặt và sau lưng, con khởi lên từ ý nghiệp, trước mặt và sau lưng. Bạch Thế Tôn, do vậy chúng con nghĩ như sau: “Ta hãy từ bỏ tâm của ta và sống thuận theo tâm của những Tôn giả này”. Và bạch Thế Tôn, con từ bỏ tâm của con, và sống thuận theo tâm của những Tôn giả ấy. Bạch Thế Tôn, chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.
I consistently treat these venerables with kindness by way of body, speech, and mind, both in public and in private. I think: ‘Why don’t I set aside my own ideas and just go along with these venerables’ ideas?’ And that’s what I do. Though we’re different in body, sir, we’re one in mind, it seems to me.”
SC 49-50 (mn128:15.3-16.1)
“Idha mayaṁ, bhante, appamattā ātāpino pahitattā viharantā obhāsañceva sañjānāma dassanañca rūpānaṁ. So kho pana no obhāso nacirasseva antaradhāyati dassanañca rūpānaṁ; tañca nimittaṁ nappaṭivijjhāmā”ti.
“Taṁ kho pana vo, anuruddhā, nimittaṁ paṭivijjhitabbaṁ.
—Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, chúng con nhận thấy được hào quang, cũng như sự hiện khởi các sắc pháp. Nhưng hào quang ấy không bao lâu biến mất cùng với sự hiện khởi các sắc pháp. Chúng con không được hiểu rõ tướng ấy là gì.
—Này các Anuruddha, tướng ấy các Ông cần phải hiểu rõ.
“Well, sir, while meditating diligent, keen, and resolute, we perceive both light and vision of forms. But before long the light and the vision of forms vanish. We haven’t worked out the basis of that.” “Well, you should work out the basis of that.
SC 65 (mn128:32.2-32.3)
Ñāṇañca pana me dassanaṁ udapādi, akuppā me cetovimutti. Ayamantimā jāti, natthi dāni punabbhavo”ti.
thời tri kiến khởi lên nơi Ta: “Giải thoát của Ta là bất động, đây là đời sống cuối cùng của Ta, nay không còn hiện hữu”.
the knowledge and vision arose in me: ‘My freedom is unshakable; this is my last rebirth; now there’ll be no more future lives.’”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
upakkilesatùy phiền não, cấu uế của tâmTên kinh: Upakkilesasutta — Kinh Tùy phiền não. Kinh liệt kê 11 upakkilesa làm định biến diệt.
vicikicchānghi hoặc
amanasikārakhông tác ý
thinamiddhahôn trầm, thụy miên
chambhitattasợ hãi
uppila (ubbilla)phấn chấnBản Việt ghi chú dạng chữ ubbilla.
duṭṭhulladâm ýBản Việt dịch là "dâm ý" và ghi chú chữ dutthullam; bản Anh của Sujato dịch là "discomfort".
accāraddhavīriyatinh cần quá độ
atilīnavīriyatinh cần quá yếu đuối
abhijappāái dục, dục ái
nānattasaññātưởng sai biệt
atinijjhāyitatta rūpānaṁtrạng thái quá chú tâm vào các sắc pháp
obhāsahào quang
samādhiđịnh
appamatta ātāpī pahitattakhông phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần
khīrodakībhūtanhư nước với sữa (hòa hợp)
mettaṁ kāyakammaṁ / vacīkammaṁ / manokammaṁtừ thân nghiệp, từ khẩu nghiệp, từ ý nghiệp
āvi ceva raho catrước mặt và sau lưng
savitakka savicāracó tầm, có tứ
akuppā cetovimuttitâm giải thoát bất động

Bài kinh này có hai mạch nối liền nhau, và xin nói rõ để bác dễ theo. Mạch một: sự hoà hợp trong Tăng chúng. Mạch hai: cách tu định. Hai mạch ấy gặp nhau ở một điểm mà con sẽ thưa ở cuối.

Mở đầu là một cảnh rất buồn. Các Tỷ-kheo ở Kosambi sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, và kinh dùng một hình ảnh khó quên: “đả thương nhau bằng những binh khí miệng lưỡi”.

Thế Tôn đến can, và Ngài nói rất giản dị: “Thôi vừa rồi, các Tỷ-kheo! Chớ có cạnh tranh, luận tranh, phân tranh, đấu tranh nhau!”

Và điều xảy ra tiếp theo mới là chỗ khiến bài kinh nặng lòng người đọc: Ngài bị CHỐI TỪ. Ba lần Ngài nói, ba lần các vị ấy xin Ngài “hãy an trú hiện tại lạc trú” — nghĩa là xin Ngài cứ nghỉ ngơi, để chuyện này họ tự lo.

Xin dừng lại một chút. Đây là chính Đức Phật, đang đứng trước mặt, đích thân can ba lầnmà vẫn không được nghe. Bài kinh không giấu chuyện ấy đi.

Và điều này rất an ủi cho anh chị em làm việc đoàn. Khi khuyên can mà không ai nghe, xin nhớ: chuyện ấy đã xảy ra với chính Đức Phật. Không phải vì mình dở.

Sáng hôm sau, sau khi khất thực xong, Thế Tôn ĐỨNG mà nói một loạt bài kệ. Trong đó có những câu về sau cũng thấy trong Kinh Pháp Cú.

Câu thứ nhất chạm đúng chỗ đau của mọi cuộc cãi: “Nó mắng tôi, đánh tôi! Nó hại tôi, cướp tôi!” — ai ÔM oán niệm ấy thì hận thù không thể nguôi. Và ngược lại: “Không ôm oán niệm ấy, hận thù sẽ tự nguôi.”

Xin để ý chữ “ÔM”. Kinh không nói chuyện kia không xảy ra. Người ta có mắng thật, có hại thật. Kinh chỉ nói tới việc mình cứ ôm lấy câu ấy mà nhắc đi nhắc lại.

Rồi tới câu kệ nổi tiếng nhất, xin đọc chậm: “Hận thù diệt hận thù, / Không đời nào diệt được, / Từ bi diệt hận thù, / Là định luật ngàn thu.”

Và có một câu kệ ít người biết mà rất sắc, xin thưa riêng. Ngài nhắc: đến kẻ cướp giết người, cướp bò ngựa tài sản, cướp đoạt quốc độ — HỌ CÒN BIẾT ĐOÀN KẾT — sao các Ông không được vậy?

Xin thưa câu ấy nặng ở chỗ nào. Ngài không đem bậc Thánh ra so. Ngài đem bọn cướp ra so. Nghĩa là: ngay cả những người làm việc xấu cũng biết phải hoà với nhau mới xong việccòn quý vị đang làm việc lành thì lại không.

Rồi Ngài lặng lẽ rời Kosambi. Không đuổi ai, không phạt ai, không nói thêm lời nào.

Ngài đi tới chỗ ba Tôn giả Anuruddha, Nandiya và Kimbila — và đây là chân dung NGƯỢC LẠI với chúng Kosambi. Ba vị sống hoà hợp “như nước với sữa”, nhìn nhau bằng “cặp mắt thiện cảm”.

Và các vị kể cách mình làm được điều ấy, rất cụ thể. Mỗi vị khởi từ tâm nơi thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp đối với huynh đệ — “trước mặt VÀ SAU LƯNG”. Rồi mỗi vị tự bỏ ý riêng để thuận theo tâm các huynh đệ: “chúng con tuy khác thân nhưng giống như đồng một tâm.”

Xin để ý bốn chữ “tự bỏ ý riêng”. Đó không phải nhịn, cũng không phải không có ý kiến. Kinh nói rõ là mỗi vị TỰ NGHĨ đến việc gác ý mình lạiba người cùng làm việc ấy thì thành hoà.

Và cách sống không phóng dật của các vị được kể tỉ mỉ đến bất ngờ. Ai về trước thì dọn chỗ ngồi, soạn nước; ai về sau thì dọn dẹp, quét nhà ăn; thấy ghè hết nước thì lo liệu; cần người phụ thì RA HIỆU BẰNG TAY chứ không gây tiếng động; và cứ năm ngày lại ngồi đàm luận đạo pháp suốt đêm.

Xin thưa chi tiết “ra hiệu bằng tay” là chỗ con thích nhất trong cả bài kinh. Sự hoà hợp ở đây không phải một lý tưởng lớn lao — nó là những việc rất nhỏ: xách giùm ghè nước, không gọi to. Hoà hợp được dệt bằng những việc nhỏ như vậy.

Từ đó ba vị hỏi về HÀO QUANG và các SẮC PHÁP chợt hiện rồi biến mất — và bài kinh chuyển sang mạch thứ hai.

Thế Tôn kể lại kinh nghiệm của CHÍNH NGÀI khi còn là Bồ-tát, và liệt kê MƯỜI MỘT TÙY PHIỀN NÃO làm định biến diệt: nghi hoặc, không tác ý, hôn trầm thuỵ miên, sợ hãi, phấn chấn, dâm ý, tinh cần QUÁ ĐỘ, tinh cần QUÁ YẾU ĐUỐI, dục ái, tưởng sai biệt, quá chú tâm vào các sắc pháp.

Xin để ý HAI thứ nằm cạnh nhau trong danh sách: tinh cần quá độtinh cần quá yếu đuối. Cả hai đều làm hỏng. Gắng quá cũng hỏng như lười.

Và cách chữa rất giản dị: BIẾT RÕ từng thứ là phiền não của tâm thì ĐOẠN TRỪ được. Không phải đánh nhau với nógọi được đúng tên nó là đã xong một nửa.

Xin thưa lời cuối, về chỗ hai mạch gặp nhau. Bài kinh bắt đầu bằng chúng Tăng cãi nhaukết thúc bằng cách tu định. Chúng có liên hệ: chỗ nào còn “binh khí miệng lưỡi” thì chỗ ấy tâm không định được; và ba vị sống hoà như nước với sữa mới là ba vị thấy được hào quang. Hoà hợp không phải chuyện xã giao — nó là điều kiện của sự tu.

  • “Thế Tôn bỏ đi là giận.” Kinh không nói Ngài giận. Ngài đã can ba lần, đã nói kệ, rồi đi tới chỗ có người nghe được. Biết dừng đúng lúc cũng là một cách dạy.
  • “Từ bi diệt hận thù nghĩa là phải chịu thiệt.” Câu kệ nói về chỗ CHẤM DỨT hận thù, không nói về đúng sai. Chính bài kinh này vẫn phân định rõ ai đang cãi nhau.
  • “Tinh tấn thì càng nhiều càng tốt.” Danh sách mười một tùy phiền não kể cả “tinh cần quá độ” lẫn “tinh cần quá yếu đuối”hai thái cực đều làm định biến diệt.
  • Ngành Oanh. Dạy ra hiệu bằng tay thay vì gọi to trong chùa — và kể vì sao ba vị Tôn giả làm vậy.
  • Ngành Thiếu. Học thuộc câu kệ “Hận thù diệt hận thù…”, rồi bàn về chữ “ÔM”: chuyện đã qua rồi, mình còn ôm không?
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Đọc đoạn ba vị chia việc chúng và hỏi: trong đoàn mình, ai về trước có dọn chỗ không? Rồi đọc câu “đến kẻ cướp còn biết đoàn kết”.
  • Thế Tôn can chúng Kosambi mấy lần, và kết quả ra sao?
  • Câu kệ về hận thù nói điều gì?
  • Ba Tôn giả sống hoà hợp bằng cách nào?
  • Vì sao “tinh cần quá độ” cũng là tùy phiền não?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 1 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.