G.Đ.P.T Huyền Quang Phật Pháp · Tam Tạng Kinh Điển Trung Bộ · MN 127
Đèn Bẩn Thì Cháy Lu Mờ

Kinh A-na-luật

Anuruddha Sutta — MN 127 · Pāli · Việt · Anh

Tam TạngTạng KinhTrung BộKinh A-na-luật

Một người thợ mộc nghe hai vị thầy dạy hai điều nghe giống nhau“vô lượng tâm giải thoát”“đại hành tâm giải thoát” — và ông tự đoán là chỉ khác chữ. Tôn giả A-na-luật đính chính ngay: hai pháp này vừa khác nghĩa vừa khác chữ. Và kinh kết bằng ví dụ cây đèn dầu.

  • Bộ — Trung Bộ Kinh, bài 127
  • Nơi thuyết — Sāvatthi, nhà thợ mộc Pañcakaṅga
  • Người giảng — Tôn giả Anuruddha (A-na-luật)
  • Bản Việt — Hoà thượng Thích Minh Châu

Kinh này không do Đức Phật trực tiếp thuyết, mà do Tôn giả A-na-luật (Anuruddha) giảng cho thợ mộc Pañcakaṅga tại nhà ông ở Xá-vệ, sau khi ông cúng dường bữa ăn. Thợ mộc Pañcakaṅga thưa: có các Trưởng lão dạy ông "hãy tu tập vô lượng tâm giải thoát" (appamāṇā cetovimutti), có vị khác lại dạy "hãy tu tập đại hành tâm giải thoát" (mahaggatā cetovimutti). Ông thắc mắc hai pháp ấy khác nghĩa hay chỉ khác chữ. Ông tự nghĩ là "đồng nghĩa, chỉ khác văn". Tôn giả A-na-luật đính chính: hai pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn. Ngài giải thích: "vô lượng tâm giải thoát" là tu bốn tâm vô lượng — từ, bi, hỷ, xả — biến mãn khắp bốn phương, trên dưới, bề ngang, cùng khắp thế giới, quảng đại vô biên, không hận không sân. Còn "đại hành tâm giải thoát" là sức biến mãn của tâm theo phạm vi rộng hẹp trong khi tu Thiền: cho đến một gốc cây, hai ba gốc cây, một ruộng làng, hai ba ruộng làng, một đại vương quốc, hai ba đại vương quốc, cho đến giải đất tận hải biên. Nghĩa là "vô lượng" nói về phẩm chất tâm không giới hạn, còn "đại hành" nói về mức độ rộng lớn của đề mục được biến mãn. Tiếp đó Ngài nói bốn hữu sanh (bốn cách sanh khởi đời sống mới) theo hào quang tu tập: hào quang hạn lượng, hào quang vô lượng, hào quang tạp nhiễm, hào quang thanh tịnh — tương ứng sanh làm chư Thiểu Quang thiên, Vô Lượng Quang thiên, Tạp Nhiễm Quang thiên, Biến Tịnh Quang thiên. Khi chư Thiên tụ họp một chỗ thì chỉ thấy khác màu sắc chứ không thấy khác hào quang, như nhiều cây đèn dầu đem vào một nhà; khi rời nhau thì thấy khác cả hai. Chư Thiên ấy cũng không nghĩ "đây là thường còn", mà chỗ nào an trú thì thoải mái chỗ ấy, như đàn ruồi bị mang đi trong đòn gánh hay cái giỏ. Tôn giả Sabhiya Kaccāna hỏi thêm vì sao cùng một Thiên chúng mà có vị hào quang hạn lượng, có vị vô lượng: là do mức rộng hẹp của sự tu tập tâm. Vì sao có vị hào quang tạp nhiễm, có vị thanh tịnh: như cây đèn dầu bẩn tim bẩn thì cháy lu mờ — người còn hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá chưa nhiếp phục thì "cháy lu mờ"; ngược lại thì cháy sáng không mù mờ. Cuối kinh, ngài Kaccāna nhận ra A-na-luật nói bằng chỗ tự chứng chứ không phải nghe lại, và Ngài xác nhận đã từng sống, đàm thoại với chư Thiên ấy từ lâu.

Bố cục bài kinhTheo đúng thứ tự trong kinh văn

  • 1. Duyên khởi: lời mời thọ trai — Thế Tôn trú ở Sāvatthi, Jetavana. Thợ mộc Pañcakaṅga sai người đi thỉnh Tôn giả Anuruddha cùng ba vị nữa ngày mai dùng bữa, và xin đến sớm vì ông nhiều việc vua. Tôn giả im lặng nhận lời (SC 1-5 / mn127:1.1-3.4).
  • 2. Câu hỏi của thợ mộc: vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát — Ông hỏi hai pháp ấy khác nghĩa khác văn hay đồng nghĩa khác văn; ông tự đáp là đồng nghĩa. Tôn giả Anuruddha nói hai pháp vừa khác nghĩa vừa khác văn (SC 6-9 / mn127:4.1-6.2).
  • 3. Định nghĩa vô lượng tâm giải thoát (bốn tâm vô lượng) — Biến mãn bốn phương, trên dưới bề ngang, cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, bi, hỷ, xả — quảng đại, vô biên, không hận, không sân (SC 10 / mn127:7.1-7.6).
  • 4. Định nghĩa đại hành tâm giải thoát (phạm vi biến mãn) — Cho đến một gốc cây, hai ba gốc cây, một ruộng làng, hai ba ruộng làng, một đại vương quốc, hai ba đại vương quốc, cho đến giải đất tận hải biên (SC 11 / mn127:8.1-8.16).
  • 5. Bốn hữu sanh theo hào quang — Hào quang hạn lượng, vô lượng, tạp nhiễm, thanh tịnh — sanh cọng trú với chư Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Tạp Nhiễm Quang, Biến Tịnh Quang thiên (SC 12 / mn127:9.1-9.11).
  • 6. Ví dụ đèn dầu trong nhà và ví dụ đàn ruồi — Chư Thiên tụ họp thì khác màu sắc mà không khác hào quang; khi rời ra thì khác cả hai. Chư Thiên không nghĩ 'đây là thường còn', chỗ nào an trú thì thoải mái chỗ ấy, như ruồi bị mang trong đòn gánh hay giỏ (SC 13-15 / mn127:10.1-12.6).
  • 7. Tôn giả Kaccāna hỏi: vì sao hào quang hạn lượng và vô lượng — Anuruddha hỏi ngược lại về mức rộng hẹp của tu tập tâm (một gốc cây… cho đến giải đất tận hải biên) để chỉ nhân duyên sai khác (SC 16-30 / mn127:13.1-14.29).
  • 8. Vì sao hào quang tạp nhiễm và thanh tịnh: ví dụ cây đèn dầu — Đèn dầu bẩn, tim bẩn thì cháy lu mờ; người chưa khéo đoạn hôn trầm thụy miên, trạo cử hối quá thì cháy lu mờ, sanh về chư Thiên hào quang tạp nhiễm. Ngược lại thì cháy không mù mờ, sanh về chư Thiên hào quang thanh tịnh (SC 31-36 / mn127:15.1-16.16).
  • 9. Kết: A-na-luật xác nhận chỗ tự chứng — Kaccāna nhận thấy Ngài không nói 'như vậy tôi nghe'; Ngài xác nhận đã từng sống và đàm luận với chư Thiên ấy từ lâu. Kaccāna khen thợ mộc Pañcakaṅga đã đoạn nghi và được nghe pháp môn này (SC 37-41 / mn127:17.1-18.3).

Mỗi đoạn ghi nguyên văn Pāli, rồi bản Việt, rồi bản tiếng Anh. Số bên trái là số đoạn trong kinh, để đối chiếu được.

SC 6 / mn127:4.1-4.6
“Idha maṁ, bhante, therā bhikkhū upasaṅkamitvā evamāhaṁsu: ‘appamāṇaṁ, gahapati, cetovimuttiṁ bhāvehī’ti. Ekacce therā evamāhaṁsu: ‘mahaggataṁ, gahapati, cetovimuttiṁ bhāvehī’ti. Yā cāyaṁ, bhante, appamāṇā cetovimutti yā ca mahaggatā cetovimutti—ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca, udāhu ekatthā byañjanameva nānan”ti?
Ở đây, thưa Tôn giả, các Trưởng lão Tỷ-kheo đến và nói như sau: “Này Gia chủ, hãy tu tập vô lượng tâm giải thoát”. Có một số vị Trưởng lão lại nói như sau: “Này Gia chủ, hãy tu tập đại hành tâm giải thoát”. Thưa Tôn giả, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn, hay đồng nghĩa, chỉ khác biệt về văn?
“Sir, some senior mendicants have come to me and said, ‘Householder, develop the limitless release of the heart.’ Others have said, ‘Householder, develop the expansive release of the heart.’ Now, the limitless release of the heart and the expansive release of the heart: do these things differ in both meaning and phrasing? Or do they mean the same thing, and differ only in the phrasing?”
SC 9 / mn127:6.1-6.2
“Yā cāyaṁ, gahapati, appamāṇā cetovimutti yā ca mahaggatā cetovimutti ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca. Tadamināpetaṁ, gahapati, pariyāyena veditabbaṁ yathā ime dhammā nānatthā ceva nānābyañjanā ca.
Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát và đại hành tâm giải thoát, những pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn. Do vậy, này Cư sĩ, đây cần phải hiểu đúng với pháp môn, nghĩa là các pháp này vừa khác nghĩa vừa khác văn.
“The limitless release of the heart and the expansive release of the heart differ in both meaning and phrasing. This is a way to understand how these things differ in both meaning and phrasing.
SC 10 / mn127:7.1-7.6
Katamā ca, gahapati, appamāṇā cetovimutti? Idha, gahapati, bhikkhu mettāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati, tathā dutiyaṁ tathā tatiyaṁ tathā catutthaṁ; iti uddhamadho tiriyaṁ sabbadhi sabbattatāya sabbāvantaṁ lokaṁ mettāsahagatena cetasā vipulena mahaggatena appamāṇena averena abyābajjhena pharitvā viharati. Karuṇāsahagatena cetasā … muditāsahagatena cetasā … upekkhāsahagatena cetasā ekaṁ disaṁ pharitvā viharati … Ayaṁ vuccati, gahapati, appamāṇā cetovimutti.
Và này Cư sĩ, thế nào là vô lượng tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. … với tâm câu hữu với bi, … với tâm câu hữu với hỷ, … an trú, biến mãn, một phương với tâm câu hữu với xả, … quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là vô lượng tâm giải thoát.
And what is the limitless release of the heart? It’s when a mendicant meditates spreading a heart full of love to one direction, and to the second, and to the third, and to the fourth. In the same way above, below, across, everywhere, all around, they spread a heart full of love to the whole world—abundant, expansive, limitless, free of enmity and ill will. They meditate spreading a heart full of compassion … They meditate spreading a heart full of rejoicing … They meditate spreading a heart full of equanimity … This is called the limitless release of the heart.
SC 11 / mn127:8.1-8.3
Katamā ca, gahapati, mahaggatā cetovimutti? Idha, gahapati, bhikkhu yāvatā ekaṁ rukkhamūlaṁ mahaggatanti pharitvā adhimuccitvā viharati. Ayaṁ vuccati, gahapati, mahaggatā cetovimutti.
Này Cư sĩ, thế nào là đại hành tâm giải thoát? Ở đây, này Cư sĩ, Tỷ-kheo cho đến một gốc cây, an trú, biến mãn và thấm nhuần lớn cho đến như vậy (trong khi tu Thiền). Như vậy, này Cư sĩ, được gọi là đại hành tâm giải thoát.
And what is the expansive release of the heart? It’s when a mendicant meditates focused on pervading the extent of a single tree root as expansive. This is called the expansive release of the heart.
SC 13 / mn127:10.1-10.3
Hoti kho so, gahapati, samayo, yā tā devatā ekajjhaṁ sannipatanti, tāsaṁ ekajjhaṁ sannipatitānaṁ vaṇṇanānattañhi kho paññāyati no ca ābhānānattaṁ. Seyyathāpi, gahapati, puriso sambahulāni telappadīpāni ekaṁ gharaṁ paveseyya. Tesaṁ ekaṁ gharaṁ pavesitānaṁ accinānattañhi kho paññāyetha, no ca ābhānānattaṁ;
Có thời, này Cư sĩ, chư Thiên kia tập họp tại một chỗ. Khi các vị này tập họp tại một chỗ, có thấy sự sai khác về màu sắc, không có thấy sự sai khác về hào quang. Ví như, này Cư sĩ, có người cầm nhiều cây đèn dầu đi vào trong một nhà. Khi các cây đèn dầu ấy được đem vào trong nhà, có thấy sự sai khác về ngọn lửa, nhưng không có thấy sự sai khác về ánh sáng.
There comes a time, householder, when the deities gather together as one. When they do so, a difference in their color is evident, but not in their luminosity. It’s like when a person brings several oil lamps into one house. You can detect a difference in their flames, but not in their radiance.
SC 15 / mn127:12.1-12.4
Na kho, gahapati, tāsaṁ devatānaṁ evaṁ hoti: ‘idaṁ amhākaṁ niccanti vā dhuvanti vā sassatanti vā’, api ca yattha yattheva tā devatā abhinivisanti tattha tattheva tā devatā abhiramanti. Seyyathāpi, gahapati, makkhikānaṁ kājena vā piṭakena vā harīyamānānaṁ na evaṁ hoti: ‘idaṁ amhākaṁ niccanti vā dhuvanti vā sassatanti vā’, api ca yattha yattheva tā makkhikā abhinivisanti tattha tattheva tā makkhikā abhiramanti;
Này Cư sĩ, chư Thiên ấy không có nghĩ: “Ðây là thường còn, thường trú, thường hằng cho chúng tôi”. Nhưng chỗ nào chư Thiên ấy an trú, tại chỗ ấy, chư Thiên ấy sống trong thoải mái. Ví như, này Cư sĩ, khi các con ruồi bị mang đi trong đòn gánh hay trong cái giỏ, chúng nó không có nghĩ: “Ðây là sự thường còn, thường trú hay thường hằng cho chúng tôi”. Nhưng chỗ nào, chỗ nào các con ruồi kia an trú, tại chỗ ấy, các con ruồi ấy sống trong thoải mái.
It’s not that those deities think, ‘What we have is permanent, lasting, and eternal.’ Rather, wherever those deities cling, that’s where they take pleasure. It’s like when flies are being carried along on a carrying-pole or basket. It’s not that they think, ‘What we have is permanent, lasting, and eternal.’ Rather, wherever those flies cling, that’s where they take pleasure.
SC 34 / mn127:16.2-16.7
“Tena hāvuso kaccāna, upamaṁ te karissāmi. Upamāyapidhekacce viññū purisā bhāsitassa atthaṁ ājānanti. Seyyathāpi, āvuso kaccāna, telappadīpassa jhāyato telampi aparisuddhaṁ vaṭṭipi aparisuddhā. So telassapi aparisuddhattā vaṭṭiyāpi aparisuddhattā andhandhaṁ viya jhāyati; evameva kho, āvuso kaccāna, idhekacco bhikkhu ‘saṅkiliṭṭhābhā’ti pharitvā adhimuccitvā viharati, tassa kāyaduṭṭhullampi na suppaṭippassaddhaṁ hoti, thinamiddhampi na susamūhataṁ hoti, uddhaccakukkuccampi na suppaṭivinītaṁ hoti.
Này Hiền giả Kaccāna, Ta sẽ cho Hiền giả một ví dụ. Nhờ ví dụ ở đây, người có trí hiểu được ý nghĩa của lời nói. Ví như, này Hiền giả Kaccāna, một cây đèn đang cháy với dầu không được sạch sẽ, với tim đèn cũng không được sạch sẽ. Vì dầu không được sạch sẽ, và cũng vì tim đèn không được sạch sẽ, nên cây đèn cháy rất lu mờ. Cũng vậy, này Hiền giả Kaccāna, ở đây Tỷ-kheo an trú, biến mãn và thấm nhuần với hào quang tạp nhiễm. Thân dâm hạnh của vị ấy không được khéo chấm dứt, hôn trầm thụy miên không được khéo đoạn trừ, trạo cử hối quá không được khéo nhiếp phục.
“Well then, Reverend Kaccāna, I shall give you a simile. For by means of a simile some sensible people understand the meaning of what is said. Suppose an oil lamp was burning with impure oil and impure wick. Because of the impurity of the oil and the wick it burns dimly, as it were. In the same way, take some mendicant who meditates focused on pervading ‘corrupted radiance’. Their physical discomfort is not completely settled, their dullness and drowsiness is not completely eradicated, and their restlessness and remorse are not completely eliminated.
SC 38-39 / mn127:17.3-17.10
Na, bhante, āyasmā anuruddho evamāha: ‘evaṁ me sutan’ti vā ‘evaṁ arahati bhavitun’ti vā; atha ca pana, bhante, āyasmā anuruddho ‘evampi tā devatā, itipi tā devatā’tveva bhāsati. Tassa mayhaṁ, bhante, evaṁ hoti: ‘addhā āyasmatā anuruddhena tāhi devatāhi saddhiṁ sannivutthapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā’”ti. “Addhā kho ayaṁ, āvuso kaccāna, āsajja upanīya vācā bhāsitā, api ca te ahaṁ byākarissāmi: ‘dīgharattaṁ kho me, āvuso kaccāna, tāhi devatāhi saddhiṁ sannivutthapubbañceva sallapitapubbañca sākacchā ca samāpajjitapubbā’”ti.
Thật lành thay, Tôn giả Anuruddha! Thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha không có nói như sau: “Như vậy tôi nghe”, hay “Sự việc đúng như vậy”. Trái lại, thưa Tôn giả, Tôn giả Anuruddha chỉ nói: “Chư Thiên này là như vậy và chư Thiên kia là như vậy”. Thưa Tôn giả, tôi nghĩ như sau: “Tôn giả Anuruddha chắc chắn đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy”. —Này Hiền giả Kaccāna, lời nói này của Hiền giả đến gần như thử thách Ta phải tuyên bố, nhưng Ta sẽ trả lời cho Hiền giả. Này Hiền giả Kaccāna, đã từ lâu, Ta đã sống từ trước, đã đàm thoại từ trước, đã đàm luận từ trước với chư Thiên ấy.
Venerable Anuruddha, you don’t say, ‘So I have heard’ or ‘It ought to be like this.’ Rather, you say: ‘These deities are like this, those deities are like that.’ Sir, it occurs to me, ‘Clearly, Venerable Anuruddha has previously lived together with those deities, conversed, and engaged in discussion.’” “Your words are clearly invasive and intrusive, Reverend Kaccāna. Nevertheless, I will answer you. For a long time I have previously lived together with those deities, conversed, and engaged in discussion.”
Chữ PāliNghĩaGhi chú
appamāṇā cetovimuttivô lượng tâm giải thoátBản Việt HT. Thích Minh Châu: "vô lượng tâm giải thoát"; Sujato: "limitless release of the heart". Trong kinh được định nghĩa là bốn tâm từ, bi, hỷ, xả biến mãn khắp nơi.
mahaggatā cetovimuttiđại hành tâm giải thoátSujato: "expansive release of the heart". Được định nghĩa theo phạm vi biến mãn: một gốc cây cho đến giải đất tận hải biên.
mettā / karuṇā / muditā / upekkhātừ / bi / hỷ / xảBốn tâm được kể trong SC 10.
bhavūpapattihữu sanhBản Việt chú: "bhavuppattiyo: bốn sự sanh khởi cho một đời sống mới" (SC 12).
parittābhāhào quang hạn lượng — chư Thiểu Quang thiên
appamāṇābhāhào quang vô lượng — chư Vô Lượng Quang thiên
saṅkiliṭṭhābhāhào quang tạp nhiễm — chư Tạp Nhiễm Quang thiên
parisuddhābhāhào quang thanh tịnh — chư Biến Tịnh Quang thiên
thinamiddhahôn trầm thụy miên
uddhaccakukkuccatrạo cử hối quá
cittabhāvanāsự tu tập tâmDùng khi so sánh "sự tu tập tâm nào rộng lớn hơn" (SC 20 trở đi).
pariyāyapháp môn, cách trình bàyBản Việt: "cần phải hiểu đúng với pháp môn".

Duyên khởi rất đời thường và rất đẹp. Thợ mộc Pañcakaṅga mời Tôn giả Anuruddha cùng ba vị nữa đến nhà thọ trai, và xin các ngài đến sớm vì ông nhiều việc vua. Sau bữa ăn, ông mới thưa hỏi.

Xin để ý người hỏi là một người thợ, một cư sĩ bận rộn. Và câu ông hỏi không hề đơn giản — đó là một câu hỏi về thuật ngữ.

Ông thưa: có Trưởng lão dạy ông “hãy tu tập VÔ LƯỢNG TÂM GIẢI THOÁT” (appamāṇā cetovimutti); có vị khác lại dạy “hãy tu tập ĐẠI HÀNH TÂM GIẢI THOÁT” (mahaggatā cetovimutti). Ông thắc mắc: hai pháp ấy khác nghĩa, hay chỉ khác chữ?

Và ông tự đoán: “đồng nghĩa, chỉ khác văn.”

Xin thưa cái đoán ấy rất tự nhiên — và rất đáng khen ở chỗ ông ĐEM ĐI HỎI. Ông không tự kết luận rồi thôi. Đây chính là điều Kinh Nghĩ Như Thế Nào (MN 103) dạy: điều gì không hiểu thì hỏi lại.

Tôn giả A-na-luật đính chính ngay, không vòng vo: hai pháp này VỪA KHÁC NGHĨA VỪA KHÁC VĂN.

Rồi ngài giải thích. “Vô lượng tâm giải thoát”tu bốn tâm vô lượng — từ, bi, hỷ, xả — biến mãn khắp bốn phương, trên dưới, bề ngang, cùng khắp thế giới, quảng đại vô biên, không hận không sân.

Còn “đại hành tâm giải thoát”sức biến mãn của tâm theo PHẠM VI rộng hẹp khi tu Thiền: cho đến MỘT gốc cây, hai ba gốc cây, một ruộng làng, hai ba ruộng làng, một đại vương quốc, hai ba đại vương quốc, cho đến giải đất tận hải biên.

Xin thưa chỗ khác nhau cho thật rõ, vì nó tinh tế. “Vô lượng” nói về PHẨM CHẤT của tâmkhông có giới hạn, không loại trừ ai. “Đại hành” nói về KÍCH THƯỚC của vùng được biến mãnrộng tới đâu.

Nói cho dễ hình dung: “đại hành” là hỏi CÁI ĐÈN SOI XA BAO NHIÊU; “vô lượng” là hỏi ÁNH SÁNG ẤY CÓ CHỪA AI KHÔNG. Một cái đo bằng thước; một cái không đo bằng thước được.

Và đây là chỗ rất dùng được cho chúng ta. Thương được nhiều người chưa chắc đã là thương không giới hạn. Có người thương cả làng mà vẫn chừa ra một người; cái “chừa ra” ấy mới là chỗ chưa vô lượng.

Tiếp đó Tôn giả nói về BỐN HỮU SANH theo hào quang tu tập: hào quang hạn lượng, hào quang vô lượng, hào quang tạp nhiễm, hào quang thanh tịnh — tương ứng sanh làm chư Thiểu Quang, Vô Lượng Quang, Tạp Nhiễm Quang, Biến Tịnh Quang thiên.

Rồi ví dụ nhiều cây đèn dầu đem vào một nhà: khi chư Thiên tụ họp một chỗ thì chỉ thấy khác màu sắc chứ không thấy khác hào quang; khi rời nhau thì thấy khác cả hai.

Và một ví dụ rất lạ, rất người: ĐÀN RUỒI. Chư Thiên ấy cũng không nghĩ “đây là thường còn”, mà chỗ nào an trú thì thoải mái chỗ ấynhư đàn ruồi bị mang đi trong đòn gánh hay cái giỏ.

Xin thưa ví dụ ấy nhẹ nhàng mà thấm. Ngay cả chư Thiên hào quang cũng không đứng yên một chỗ, và không tưởng chỗ mình là mãi mãi. Chỗ nào tới thì ở đó, vậy thôi.

Rồi Tôn giả Sabhiya Kaccāna hỏi hai câu rất hay. Câu một: vì sao cùng một Thiên chúng mà có vị hào quang hạn lượng, có vị vô lượng? — Đáp: do mức RỘNG HẸP của sự tu tập tâm.

Câu hai: vì sao có vị hào quang TẠP NHIỄM, có vị THANH TỊNH? Và câu trả lời là ví dụ cây đèn dầu, xin đọc chậm: đèn mà DẦU BẨN, TIM BẨN thì cháy LU MỜ.

Rồi ngài chỉ thẳng cái “bẩn” ấy là gì: người còn HÔN TRẦM THUỴ MIÊNTRẠO CỬ HỐI QUÁ chưa nhiếp phục thì “cháy lu mờ”; ngược lại thì cháy sáng không mù mờ.

Xin thưa ví dụ này rất công bằng và rất an ủi.không nói người ấy không có lửa. Đèn vẫn cháy — chỉ là cháy lu. Nghĩa là: người có tu vẫn có ánh sáng, chỉ là còn hai thứ bẩn làm mờ đi. Và dầu bẩn thì thay được, tim bẩn thì lau được.

Kết kinh có một chi tiết rất tinh tế. Tôn giả Kaccāna nhận ra rằng A-na-luật KHÔNG nói “như vậy tôi nghe”ngài nói bằng chỗ TỰ CHỨNG. Và Tôn giả A-na-luật xác nhận đã từng sống, từng đàm thoại với chư Thiên ấy từ lâu.

Xin thưa lời cuối. Nếu bác chỉ mang một điều từ bài kinh này về, xin mang ví dụ cây đèn: khi thấy tu mãi mà lòng vẫn chưa sáng ra, đừng vội nghĩ mình không có căn — hãy xem hai thứ bẩn kia: có đang nặng nề uể oải không, và có đang bồn chồn hối tiếc không. Đó là dầu bẩn và tim bẩn.

  • “Vô lượng và đại hành là một.” Tôn giả đính chính rõ: vừa khác nghĩa vừa khác văn. “Vô lượng” là phẩm chất không giới hạn; “đại hành” là phạm vi rộng hẹp.
  • “Cháy lu mờ nghĩa là tu không có kết quả.” Ví dụ nói đèn VẪN CHÁY — chỉ lu. Có ánh sáng, chỉ bị hai thứ làm mờ.
  • “Kinh này do Đức Phật thuyết.” Không — Tôn giả A-na-luật giảng, tại nhà một người thợ mộc. Đây là một trong những bài kinh do đệ tử thuyết.
  • Ngành Oanh. Thắp một cây đèn và hỏi: nếu tim đèn bẩn thì sao?
  • Ngành Thiếu. Học hai thứ làm đèn lu: uể oảibồn chồn hối tiếc — mỗi em tự chấm mình.
  • Ngành Thanh và Huynh Trưởng. Bàn về chỗ khác nhau “thương nhiều người”“thương không chừa ai”: trong đoàn mình còn ai bị chừa ra không?
  • “Vô lượng tâm giải thoát” là gì?
  • “Đại hành tâm giải thoát” là gì?
  • Hai thứ làm hào quang tạp nhiễm là gì?
  • Vì sao Tôn giả Kaccāna biết ngài nói bằng chỗ tự chứng?

Nguyên văn Pāli chép từ ấn bản Mahāsaṅgīti — tệp dữ liệu gốc bilara-data của suttacentral.net, từng đoạn có đánh số. Bản tiếng Việt của Hoà thượng Thích Minh Châu; bản tiếng Anh của Tỳ-kheo Sujato. Bài này đã qua một lượt soi lại độc lập. Lượt soi ấy chỉ ra 3 chỗ cần xem lại; chỗ nào là lỗi thật thì chúng tôi đã sửa và ghi rõ ở Phần IV. Muốn đọc trọn bài kinh, xin xem nguyên văn ba thứ tiếng. Thấy chỗ nào khác ấn bản in, xin báo cho chúng tôi.